Quyển
Thượng
Phẩm
I: Đao-Lợi Thiên-Cung Thần-Thông
Tôi
đã nghe như vầy: Một lúc nọ, Phật nói Pháp cho mẹ
nghe trên cõi trời Đao-lợi.
Lúc
ấy, tất cả chư Phật cùng chư Đại Bồ-tát trong vô lượng
thế-giới không thể nói hết của mười phương, đều nhóm
họp và tỏ lời ca ngợi: "Trong đời ác-độc bị năm dơ-đục
làm nhiễm ô, Phật Thích-Ca Mâu-ni lại làm được việc hiện
sức mạnh thần thông của Đại Trí-tuệ không thể nghĩ bàn
mà điều-phục bọn chúng sanh "cứng đầu", khiến chúng biết
thế nào là vui-sướng, thế nào là khổ não".
Ngay
lúc ấy, Thế-Tôn mỉm cười, phóng ra trăm, ngàn, muôn, ức
đám mây sáng to lớn, gọi là: Đại Viên-Mãn, Đại Từ-Bi,
Đại Trí-tuệ, Đại Bát-nhã, Đại Tam-muội, Đại Cát-Tường,
Đại Phước-Đức, Đại Công-Dức, Đại Quy-Y, Đại Tán-Thán,
v.v..
Xong,
Thế-Tôn lại phát ra các thứ tiếng vi-diệu, gọi là:
Đàn-na ba-la-mật (Bố-thí), Thi-la-ba-mật (Trì-giới), Sằn-đề
ba-la-mật (Nhẫn-nhục), Tỳ-la-da ba-la-mật (Tinh-tấn), Thiền-na
ba-la-mật (Thiền-định), Bát-nhã ba-la-mật (Trí-tuệ), Từ-bi,
Hỷ-xả , Giải-thoát, Vô-lậu, Trí-tuệ, Đại Trí-tuệ, Sư
tử-hống, Đại Sư-tử-hống, Vân-lôi, Đại Vân-lôi, v.v..
Các
tiếng ấy được phát ra rồi, vô lượng ức Thiên, Long, Quỉ,
Thần của thế-giới Ta-bà và các nước phương khác, cũng
họp nhau đến trời Đao-lợi. Đó là Tứ Thiên-Vương,
Đao-lợi-Thiên, Tu-diễm-ma-Thiên, v.v..
Các
Thần biển, Thần sông lớn, Thần rạch, Thần cây, Thần núi,
Thần đất, v.v.. cùng các Đại Quỉ-vương như Ác-mục Quỉ-vương,
Đạm-huyết Quỉ-vương, Đạm Tinh-khí Quỉ-vương, Đạm Thai-nõan
Quỉ-vương, Hành bệnh Quỉ-vương, Nhiếp-độc Quỉ-vương,Từ-tâm
Quỉ-vương, Phước-lợi Quỉ-vương, v.v.. cũng đều tựu hội
về.
Lúc
bấy giờ, Phật hỏi Đại Bồ-tát Văn-Thù Sư-lợi: "Ông thấy
tất cả chư Phật, Bồ-tát, Thiên, Long, Quỉ, Thần hiện tại
cõi trời Đao-Lợi đấy. Vậy ông biết tất cả đông
là bao nhiêu không?" - Văn-Thù bạch: "Dù có dùng thần lực
mà đếm trong ngàn kiếp, tôi cũng không biết rõ con số".
Phật
bảo Văn-Thù: "Ta lấy mắt Phật mà xem, cũng không biết đúng
con số. Nhưng đó là tất cả những ai trong những kiếp
xa xưa, được Bồ-tát Địa-Tạng đã hóa độ rồi, đang
hóa độ, hoặc sẽ hóa độ, và Bồ-tát đã thành công, đang
thành công hoặc sẽ thành công trong việc hóa độ".
Văn-Thù
Sư-Lợi nói: "Bạch Thế-Tôn, là người trong quá khứ đã
lâu tu thiện-căn và đã chứng trí vô-ngại, tôi nghe Phật
nói, tất phải tin lãnh. Còn hàng kết-quả nhỏ như Thanh-văn,
Thiên, Long, Quỉ, Thần và chúng-sanh trong đời vị-lai, tuy
nghe lời thành thật của Như-lai, bụng vẫn ngờ vực, cho
nên dù có lạy lãnh những lời Như-Lai đi nữa, chưa chắc
khỏi dèm chê. Cúi mong Thế-Tôn nói rõ căn nguyên: "Bồ-tát
Địa-Tạng làm hạnh gì, lập nguyện gì, mà thành công một
cách không thể nghĩ bàn như thế?"
Đức
Phật bảo Văn-Thù: "Thí dụ trong ba ngàn đại thiên thế-giới,
có bao nhiêu cỏ cây, lùm rừng, lúa mè, tre lau, đá núi, bụi
bặm, cứ lấy một trong các vật ấy kể như một sông Hằng,
rồi cứ một hột trong số cát của mỗi sông Hằng ấy, kể
như một thế-giới, mỗi hột bụi trong mỗi thế-giới ấy
kể là một kiếp [1], và bao nhiêu số bụi chứa trong một
kiếp đều dồn chứa lại thành kiếp (thì số kiếp này không
biết bao nhiêu mà nói). Thế mà từ Bồ-tát Địa-Tạng
chứng quả "Thập địa" đến nay, một khoảng thời-gian đã
trôi qua, lâu hơn ngàn lần số kiếp thí dụ ấy, đó là chưa
nói tới lúc Bồ-tát còn ở bậc Thanh-văn và Bích-chi Phật.
- Này Văn-Thù, oai-thần và thệ-nguyện của Bồ-tát Địa-Tạng
không thể nghĩ bàn được. Trong đời vị-lai, nếu có
trai lành gái tín nào nghe được tên Bồ-tát rồi mà chiêm-ngưỡng
lễ bái hoặc xưng tụng danh hiệu, hoặc cúng dường, dẫn
đến vẽ, khắc, đấp, sơn hình tượng Bồ-tát, thì những
nam nữ ấy sẽ được trăm lần sanh lên trời Đao-Lợi [2],
vĩnh viễn không còn rơi vào ba đường ác (địa-ngục, ngạ-quỉ,
súc-sanh).
"Văn-thù,
trong thời xưa cách nay không biết bao nhiêu kiếp, tiền thân
của Địa-Tạng Bồ-tát là con trai một nhà giàu. Thời
ấy có Phật là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai.
Người con nhà giàu thấy Phật tướng tốt, trang nghiêm bằng
ngàn phước, bèn bạch hỏi Phật đã có những hạnh nguyện
gì mà được tướng ấy. - Phật Sư Tử đáp: Muốn chứng
được thân ấy, cần nên cứu độ tất cả chúng-sanh thọ
khổ trong một thời-gian lâu xa.
"Người
con nhà giàu nghe xong bèn phát nguyện: Từ nay cho đến không
biết bao nhiêu kiếp trong vị-lai, tôi nguyện vì chúng-sanh
tội lỗi và đau khổ trong sáu nẻo luân hồi, rộng bày phương-tiện,
khiến cho tất cả đều được giải thoát hết, chừng ấy
tôi mới thành Phật. Vì đã lập nguyện lớn đó trước
Phật Sư-Tử cho nên đến nay, không biết bao nhiêu trăm ngàn
muôn ức na-do-tha đã qua rồi, người con nhà giàu ấy vẫn
còn làm Bồ-tát.
"Lại
trong quá khứ xa xưa không biết bao nhiêu a-tăng-kỳ kiếp,
có Phật ra đời, hiệu Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như
Lai, thọ bốn trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Trong
thời "tượng pháp" [3] của đức Phật này, có một người
con gái dòng Bà-la-môn, phúc đức sâu dày, thiên hạ đều
tôn kính, đi đứng nằm ngồi, đều được chư Thiên che chở.
Bà mẹ của cô tin xằng, thường khinh dễ Tam-Bảo[4].
Cô gái đạo-đức ấy đã dùng nhiều phương-tiện khuyến
dụ mẫu thân, để bà sanh chánh kiến.[5] Nhưng mẹ cô
vẫn chưa có lòng tin chân chánh, kế không bao lâu, bà chết,
thần-hồn rơi vào địa-ngục "vô gián".
"Biết
mẹ lúc tại thế không tin nhân-quả, ắt theo nghiệp quấy
mà sanh vào nẻo ác, cô bèn bán nhà cửa, mua nhiều hương
hoa cùng những lễ phẩm khác, đem đến cúng dường các chùa
tháp thờ Phật. Tại một chùa nọ, cô thấy tượng Như
Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương, dung mạo uy-nghi, đoan trang
nghiêm nghị. Cúi lễ tượng Phật, lòng thêm kính mộ,
cô nghĩ thầm, "Phật tên Đại Giác, nghĩa là đầy đủ mọi
trí. Nếu mẹ mất lúc Phật còn tại thế và mình đến
hỏi Phật, ắt mình biết được mẹ ở đâu". Nghĩ xong,
cô khóc nức-nở rất lâu, mắt không rời tượng Phật.
Bổng trong không-trung có tiếng nói: "Người con gái đang khóc
kia, chớ nên bi ai như thế, để ta chỉ cho chỗ mẹ ngươi
đến".
"Cô
gái Bà-la-môn chấp tay hướng lên trên không nói: "Bạch Ngài,
Ngài là Thần nào mà làm vơi sự lo rầu của tôi như thế?
Tôi từ mất mẹ đến nay, ngày đêm nhớ mến, nhưng không
biết hỏi đâu cho ra chỗ mẹ tôi thác sanh".
"Trong
không trung lại có tiếnt: "Ta là đấng mà ngươi đang chiêm
ngưỡng lễ-bái: Phật Giác Hoa Định Tự Tại Như Lai của
thời quá khứ. Vì thấy ngươi nhớ mẹ hơn thường tình
chúng sanh, cho nên ta đến nói cho ngươi biết".
"Cô
gái nghe xong té quị, tay chân rũ-rượi. Kẻ tùy tùng
đở dậy, dây lâu mới tỉnh, cô bèn bạch trong không: "Xin
Phật thương xót nói ngay cho con biết coi mẹ con thác sanh về
đâu, kẻo thân tâm con sắp chết mất".
"Phật
Giác-Hoa nói: "Cúng dường xong, ngươi nên sớm về nhà, ngồi
ngay thẳng suy gẫm về danh hiệu của ta, sẽ biết chỗ thác
sanh của thân mẫu ngươi".
"Cô
gái làm y lời Phật dạy. Trải qua một ngày một đêm,
cô bổng thấy tự thân đi đến một bải biển nước sôi
sùng-sục. Trên mặt biển, nhiều thú dữ, thân toàn bằng
sắt, đang sua đuổi nhau, chạy qua chạy lại. Dưới biển,
trồi hụp trăm ngàn muôn chúng-sanh, đang bị những thú dữ
ấy tranh nhau ăn thịt uống huyết. Cô lại thấy nhiều
quỉ Dạ-xoa, hình tướng khác nhau, con thì nhiều tay nhiều
mắt, con nhiều chân nhiều đầu, nanh lòi khỏi miệng, bén
nhọn như gươm, lùa các tội nhân lại gần ác thú cho chúng
chụp bắt, thân tội-nhân phải quặp lại, đầu chân đụng
nhau. Còn nhiều tình trạng khác, chẳng dám nhìn lâu.
"Nhưng
nhờ niệm Phật, cô gái Bà-la-môn không sợ. Một Quỉ-vương
tên là Vô-Độc, cúi đầu tiếp cô và thưa: "Lành thay Bồ-tát!
Ngài có việc gì đến đây?" Cô gái nói:
"-
Đây là xứ nào?
"-
Đây là Biển thứ nhất, phía Tây núi Đại Thiết-Vi.
Quỉ-vương đáp.
"-
Tôi nghe trong núi Thiết-Vi có địa-ngục, việc ấy thật không?
"-
Thật có địa-ngục.
"-
Làm sao đến địa-ngục được?
"-
Nếu không nhờ oai-thần thì phải vì nghiệp-lực, ngoài hai
điều ấy không đến địa-ngục được.
"-
Tại sao nước sôi sùng-sục và trong nước có nhiều tội-nhân
và thú dữ như vậy?
"-
Những tội-nhân đó là những chúng-sanh làm ác ở Diêm-phù-đề
mới chết và đã trãi qua 49 ngày rồi. Nhưng vì không
người hương lữa lo làm công đức cứu nạn cho, lại lúc
sống họ không có trồng nhân lành, cho nên nay phải theo nghiệp
địa-ngục của họ mà tự nhiên lội qua biển này. Cách
biển này mười muôn do-tuần [6], về phía Đông, còn một
biển khác, khổ gấp mấy lần ở đây. Phía Đông biển
thứ hai này, còn một biển khác nữa, khổ hơn rất nhiều.
Ba biển này gọi chung là "Biển Nghiệp", nơi "chiêu cảm" [7]
của ba nghiệp ác.
"-
Địa-ngục ở đâu?
"-
Phía trong ba biển ấy, và số địa-ngục nhiều đến trăm,
ngàn, mỗi mỗi khác nhau. Ngục to thì có 18 cái [8], kế
có 300, khổ sở khôn lường; kế nữa có ngàn trăm, cũng khổ
sở khôn lường.
" Cô
gái lại hỏi:
"-
Mẹ tôi chết đến nay chưa bao lâu, không biết hồn-thần
đi về đâu?
" Quỉ-Vương
hỏi lại: "Thân mẫu của Bồ-tát, lúc sanh tiền làm những
hạnh nghiệp gì?
"-
Mẹ tôi tà kiến, dèm chê Tam-Bảo, hoặc có tạm tin đi nữa,
rồi cũng trở lại không kính. Tuy chết chưa mấy ngày
nhưng không biết đi về đâu.
"-
Thân mẫu Bồ-tát tên họ gì?
"-
Cha mẹ tôi đều là người dòng Bà-la-môn; cha tôi tên Thi-La
Thiện-Kiến, mẹ tôi tên Duyệt-đế-lợi.
" Quỉ-Vương
Vô-Độc chấp tay nói: "Xin Thánh-nữ trở về, khỏi lo nhớ
sầu thương. Nữ tội Duyệt-đế-lợi đã sanh lên trời
đến nay là ba hôm rồi, ấy vì nhờ con hiếu thuận đã vì
mẹ mà cúng dường, tu phước, bố thí chùa tháp của Giác
Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng phải chỉ có
thân mẫu của Bồ-tát được thoát địa-ngục, mà ngày ấy,
bao nhiêu tội nhân trong ngục Vô-gián cũng nhờ sự bố-thí
cúng dường ấy mà được vui sướng và đồng sanh về cõi
thiên.
" Quỉ-vương
nói xong, chấp tay lui bước.
"Người
con gái bà-la-môn trở về tỉnh mộng, nhớ việc đã nghe thấy,
liền đến trước tháp tượng của Giác Hoa Định Tự Tại
Vương Như Lai lập nguyện lớn rằng:
"Tôi
nguyện cho đến hết các kiếp trong vị-lai, hễ có chúng sanh
tội khổ là tôi rộng mở phương-tiện, làm cho họ được
giải-thoát".
"Phật
bảo Văn-thù: "Quỉ-Vương Vô-Độc lúc ấy là Bồ-tát Tài-Thủ
bây giờ đây, còn cô gái Bà-la-môn là Bồ-tát Địa-Tạng
vậy.
Mật
nghĩa:
Điểm
đặc biệt ở đây là Phật không thuyết pháp ở thế-gian,
cho người thế-gian nghe, mà trên trời Đao-lợi, cho mẹ đã
chết nghe và trước vô số chư Phật, Bồ-tát, Thiên, Long,
Quỉ, Thần. Vậy phải "không là phàm" mới nghe được
lời Phật dạy trong kinh này.
Vào
đoạn đầu đã thấy ý hướng của Kinh, trong lời khen đức
Thế-Tôn. Ở thế-gian, chúng sánh cứng đầu (cang cường)
rất nhiều, ngoài Phật là bậc đại trí-huệ có nhiều phương-tiện
chế phục họ, thì không ai làm được. Đem đạo lý
nhân-quả ra nói họ không nghe, thì nay Phật dùng phương "Bồ-tát
Địa-Tạng".
Mật
nghĩa "Địa-Tạng là Tâm" được chứng minh trong đọan Kinh
nói chư Phật, Bồ-tát, Thiên, Long, Quỉ, Thần, đông vô số
kể, đều hoặc đã, hoặc đang, hoặc sẽ chịu ơn hóa độ
của Địa-Tạng. Chư Phật đã, chư Bồ-tát đang, còn
Thiên, Long.., sẽ chịu ơn ấy. Và nhất định Địa-Tạng
thành công, vì tất cả là Phật sẽ thành, thì tự nhiên tất
cả phải quày về với Tâm và nghe Tâm dạy dỗ.
Nói
oai thần thệ nguyện của Địa-Tạng, là nói oai thần thệ
nguyện của Tâm. Tâm mà cương quyết thì có đủ quyền
năng, thần-thông (pouvoirs surnaturels).
Ai
biết quày về với Tâm, chiêm ngưỡng Tâm, kính trọng Tâm,
hy-sinh (cúng dường) cho Tâm, thì người ấy sống trong đường
thiện (sanh thiên).
Đến
đây, Thế-Tôn đưa ra hai sự tích:
1.
- Địa-Tạng là con một nhà giàu, như câu truyện anh cùng
tử trong Kinh Pháp-Hoa. Tâm Phật và Tâm chúng sanh không
khác. Mà Tâm Phật đầy đủ muôn đức, giàu có như
thế, thì Tâm chúng-sanh cũng giàu như thế. Nhưng cái
giàu của chúng-sanh là cái giàu chưa khai thác, cho nên phải
khai thác bằng sự phát lòng từ-bi và nếu "tinh tấn để
đầy đủ muôn hạnh lành" thì sẽ được như Phật Sư Tử
Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh.
Ý
Phật dạy: Muốn thành Phật phải phát lòng Từ-bi và mạnh
dạn (sư-tử) ra sức (phấn tấn) trên đường lập đầy (cụ
túc) muôn hạnh lành (vạn hạnh)
2.
- Địa-Tạng là một cô gái Bà-la-môn đạo đức. Trong
câu truyện này, Phật dạy:
-
Muốn biết hướng dắt dẫn của tội nghiệp thì nên nhập
định, tư duy. Cô gái hỏi Phật Giác-Hoa, Phật không
chỉ mà bảo về nhập định tư duy, là nghĩa này.
-
Tin xằng, không Chánh-kiến, không Chánh-tín, không biết quy-y
Tam-bảo, nghĩa là không biết kính quí Ánh-sáng nơi Tâm (Phật),
Luật-pháp trong trời đất (Pháp) và niềm Hòa lạc của muôn
loài (Tăng), lại không tin Nhân-quả, thì phải vào ngục "Vô-gián"
nghĩa là sống mãi trong Vô-minh triền-miên.
-
Ba biển thí dụ những nghiệp của thân, khẩu và ý.
Chúng-sanh trồi hụp trong ba biển ấy, nóng bức như bị nước
sôi nung nấu, đau khổ như bị thú dữ cắn xé.
-
Thiết vi là rào sắt. Con người bị giam trong nghiệp
chồng chất như núi, khó thoát nên ví như núi có rào sắt
bao quanh.
-
Ai vào địa-ngục? Hạng oai thần và hạng bị nghiệp
ác dắt dẫn. Hạng oai thần là những bậc đã giải
thoát nhưng vì lòng từ muốn cứu độ nên vào địa ngục
để hóa độ.
-
Địa-ngục ở đâu? Ở ngay trong những biển nghiệp ấy
nghĩa là ai còn nghiệp ác là ở trong địa-ngục.
Ý
của đoạn này là: Muốn đầy đủ muôn hạnh phải biết
hễ còn nghiệp là còn trong địa-ngục đau khổ, vậy phải
tự giác (Giác-Hoa) bằng cách thiền-định (Định Tự-tại).
Phẩm
II: Phân-Thân Tập Hội
Lúc
đó, những phân-thân của Bồ-tát Địa-Tạng, từ các địa-ngục
của trăm ngàn muôn ức thế-giới, nhiều không thể nghĩ bàn,
không thể ước lượng, không thể kể nói, đều đến tập
hợp tại cung trời Đao-Lợi.
Nhờ
thần lực Như-Lai, các phân-thân ấy, từ phương-hướng của
mình, hợp cùng những người đã được giải-thoát ra khỏi
đường Nghiệp, đông đến ngàn muôn ức na-do-tha, đồng cầm
hương hoa đến cúng-dường Phật. Tất cả những người
cùng đến ấy đều đã nhờ Bồ-tát Địa-Tạng giáo-hóa,
vĩnh-viễn không lui bước trên đường Vô-thượng Chánh-đẳng
Chánh-giác. Tất cả đều đã, từ nhiều kiếp xa xưa,
trôi giạt trong sanh-tử, chịu khổ trong sáu đường, không
một lúc tạm dừng. Nhờ từ-bi rộng lớn, thệ nguyện
thâm sâu của Bồ-tát Địa-Tạng, mỗi mỗi chứng được
đạo-quả. Khi đã đến cung Đao-Lợi rồi lòng họ vui
mừng hớn hở, chiêm ngưỡng Như-Lai, mắt không tạm rời.
Bấy
giờ Thế-Tôn duổi cánh tay sắc vàng ra, xoa đầu trăm ngàn
muôn ức hóa-thân Bồ-tát Địa-Tạng đông không thể nghĩ
bàn, ước lượng, nói kể, của vô số thế-giới, và nói
rằng:
"Ở
thế-giới ác-độc, nhiễm năm thứ dơ-bẩn, ta dạy dỗ chúng
sanh cứng đầu như thế, điều phục tâm chúng và khiến cho
bỏ ta về chánh. Nhưng vì trong mười phần, có đôi ba
còn quen theo thói ác, ta phải phân thân ra trăm ngàn ức để
rộng dùng phương-tiện giáo-hóa. Có hạng nhanh nhẹn
(lợi căn), nghe rồi là tin lãnh lời ta; có hạng trồng được
quả lành (thiện quả), thì ta khuyến khích cho đến chỗ thành-tựu;
có hạng tối tăm, phải giáo-hóa lâu ngày mới quay về; có
hạng nghiệp chướng nặng nề, (dầu có dạy gì) vẫn không
sanh lòng kính mộ. Vì các hạng chúng-sanh sai khác nhau
đó, ta phải chia thân ra mới độ thoát hết được, như hiện
ra thân đàn-ông, đàn-bà, hoặc hiện ra thân Thiên, Long, hoặc
hiện ra thân thần quỉ, hoặc hiện làm núi, rừng, sông, ngòi,
ao, rạch, suối, giếng làm lợi cho người, mới độ thoát
được. Hoặc hiện thân Thiên-đế, thân Phạm-vương,
thân Chuyển-luân-vương, thân nhà giàu, thân quốc-vương, thân
Tể-tướng, thân Phụ-thần, thân quan thuộc, thân Tỳ-khưu,
Tỳ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, cho đến thân Thanh-văn,
La-hán, Bích-chi-Phật, Bồ-tát mà hóa độ, chớ chẳng phải
chỉ hiện có một thân Phật như ngay đây đâu.
"Chúng
ngươi coi, ta đã trãi qua nhiều kiếp nhọc-nhằn độ thoát
bao nhiêu chúng-sanh tội khổ, cứng đầu, khó dạy như thế.
Còn phần chúng-sanh chưa điều phục được, họ theo nghiệp
mà chịu sự báo ứng. Nếu họ bị sa vào nẻo dữ, chịu
khổ não to, thì lúc ấy, chúng ngươi nên nhớ tưởng đến
lời ân cần nhắn nhủ của ta ở cung Đao-Lợi hôm nay mà
làm cho, ở thế-giới Ta-bà, cho tới ngày đức Phật Di-Lặc
ra đời, tất cả chúng sanh đều được giải thoát, xa lìa
vĩnh viễn mọi khổ não và gặp Phật thọ-ký".
Bấy
giờ, những hóa-thân Bồ-tát Địa-Tạng của các thế-giới
hợp trở lại thành một hình, rơi lệ thương cảm, bạch
Phật: "Tôi từ số kiếp lâu xa đến nay, nhờ Phật dìu dắt,
được những thần-lực không thể nghĩ bàn và đầy đủ
trí-huệ lớn. Những phân-thân của tôi đầy khắp trăm
ngàn muôn ức Hằng-sa thế-giới; ở mỗi thế-giới, hóa ra
trăm ngàn muôn ức thân, mỗi thân độ trăm ngàn muôn ức
người, khiến họ qui kính Tam-Bảo, vĩnh viễn xa lìa sanh-tử,
đến Niết-bàn an lạc. Ở trong Phật Pháp mà chỉ làm
một việc lành nhỏ như sợi lông, giọt nước, hạt cát,
hạt bụi, hoặc hứa một việc lành mỏng-manh như sợi lông,
sợi tóc, tôi cũng độ thoát lần lần, làm cho thu hoạch được
nhiều lợi ích lớn. Kính xin Thế-Tôn chớ vì chúng-sanh
nghiệp ác đời sau mà lo nghĩ".
Bồ-tát
Địa-Tạng ba lần bạch Phật câu: "Cúi xin Thế-Tôn chớ vì
chúng- sanh nghiệp ác đời sau mà lo nghĩ".
Bấy
giờ, Phật khen Bồ-tát Địa-Tạng: "Tốt lắm! Tốt lắm!
Ta sẽ giúp ngươi vui lòng. Ngươi sẽ thành tựu thệ-nguyện
lớn đã phát ra từ số kiếp lâu xa, là rộng độ chúng sanh,
xong rồi ngươi mới chứng quả Bồ-đề".
Mật
nghĩa:
Phân-thân
nghĩa là một thân mà chia ra làm trăm, làm ngàn, v.v..
Mỗi phần gọi là một phân-thân. Đã nói Địa-Tạng
tiêu biểu cho Tâm, vậy phân-thân Địa-Tạng là một phần
của Tâm.
Tâm
chỉ có một như mặt trời chỉ có một.
Những
giọt sương đọng trên ngọn cỏ buổi sáng đều phản chiếu
toàn ánh mặt trời. Mỗi ánh sáng lóng lánh trên mỗi
ngọn cỏ là một phân-thân của mặt trời, và mỗi phân-thân
ấy có đầy đủ những đặc tánh của mặt trời.
Mỗi
chúng sanh là mỗi giọt sương và tâm của mỗi chúng sanh là
phản chiếu toàn ánh sáng của mặt trời Tâm duy nhất.
Lúc
còn giọt sương thì thấy có một Mặt trời to trên cao và
vô số mặt trời nhỏ dưới đất, nhưng khi sương tan rồi,
những mặt trời nhỏ đó đi đâu? Không đi đâu hết.
Sương hình-tướng không còn nhưng ánh sáng giác của mỗi
giọt thì nguyên vẹn đầy đủ ở Mặt trời bất di bất
dịch, bất sinh bất diệt.
Vậy
ra, vô số mặt trời sương kia thật chỉ có một mà thôi.
Do đây Kinh nói các phân-thân Địa-Tạng hợp trở lại thành
một hình.
Cứ
như trên thì Tâm Phật và vô số tâm chúng sanh là một.
Mỗi phân-thân Địa-Tạng là mỗi tâm chúng sanh, hay để cụ-thể-hóa,
là mỗi chúng-sanh.
Phân-thân
Địa-Tạng từ các địa-ngục ở vô-số thế-giới đến
cung trời Đao-lợi, có nghĩa là những chúng-sanh mà tâm-địa,
tuy còn kẹt trong địa-ngục tham, sân, si, vẫn có những lúc
thoát ly vể chỗ thiện. Đao-lợi ở về cõi Thiên, và
cõi này dành cho những người thiện cho nên phải hành nhiều
thiện nghiệp mới về được, mới đến hội họp được
ở Đao-lợi. Kinh A-Di-Đà có câu "Bất dĩ thiểu thiện
căn phúc đức nhân-duyên đắc sanh bỉ quốc": Không phải
ít căn lành phúc đức mà sanh về nước Cực-Lạc được
đâu. Trả lời theo câu hỏi: Sanh về đó để làm
gì? Kinh đáp: "Đắc dữ như thị chư thượng thiện nhân
cu hội nhất xứ" - Được về đó, để cùng những người
lành bậc cao cùng hội một chỗ.
Trong
Kinh Địa-Tạng, chúng ta thấy rõ điểm này.
Trước
tiên Kinh nói các phân-thân Địa-Tạng tựu họp về cung trời
Đao-lợi. Kế đó Kin bảo còn có những người "đã được
giải thoát ra khỏi ba nghiệp" cùng đến. Những người
này là "chư thượng thiện nhân" nhắc lại ở trên. Và
đó còn là những bậc đã nhờ Địa-Tạng giáo hóa (nhờ
tâm khai mở, giác ngộ) mà trở thành hạng "vĩnh viễn không
lui bước trên đường Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác".
Hạng này là ai? Là những bậc mà Kinh A-Di-Đà gọi là "Bồ-tát
bất thối chuyển".
Nhờ
đâu các vị này được vào hàng Bồ-tát bất-thối?
Kinh Địa-Tạng bảo là nhờ "Từ-bi rộng lớn và thệ nguyện
thâm sâu của Bồ-tát Địa-Tạng". Phải hiểu là nhờ
các vị ấy đã phát đại-bi tâm và cương quyết tự thệ
giải thóat.
* *
*
Câu
Thế-Tôn nói: "... điều phục tâm chúng và khiến cho bỏ tà
về chánh" tóm hết giáo-pháp của Phật. Thật vậy, cốt
yếu của các phương pháp tu hành theo Phật-giáo không gì khác
hơn là làm chủ tự tâm (linh tâm điều phục) và bỏ tà về
chánh (xả tà qui chánh). Do đây mà con đường dẫn đến
giải-thoát là con đường Tám Chánh, mà ai điều phục được
tâm mình? Chỉ có tâm làm chủ được tâm mà thôi.
Do đây nói Địa-Tạng giáo hóa.
Trong
tâm ác thực là muôn tội,
Biết
lấy gì mà cổi tội đi?
Nghĩ
ra cũng chẳng khó gì,
Lại
đem tâm ấy, cổi thì dễ không.
Nhưng
đó là trên nguyên tắc, còn trong thực-tế, chúng-sanh đâu
có đồng đều như nhau, và đâu phải bất cứ ai cũng làm
được cái việc đem tâm cổi mở cho tâm. Đại-khái,
Kinh Địa-Tạng chia có bốn hạng:
1.
Hạng lợi-căn (căn cơ nhanh nhẹn), trí sáng tâm khai, đã có
tu hành nhiều đời rồi, nghe được lời Phật hay tiếng quở
la của Tâm là tin lãnh ngay.
2.
Hạng tâm trí chưa khai mở, nhưng biết làm thiện nghiệp,
có thiện quả, thì Phật (hay tâm) khuyến khích tiến tới
chổ thành tựu hoàn toàn. Đây là hạng tu phước, khác
với hạng tu huệ phía trên.
3.
Hạng tối tăm, căn cơ không bén. Đối với hạng này
phải dạy dỗ lâu ngày (cửu hóa) mới bỏ tà về chánh.
Nghĩa là phải để cho họ chịu nhiều thử thách gian truân,
đau khổ ê chề nhiều đời nhiều kiếp rồi sau họ mới
ăn năn cải hối , theo tiếng trách móc của tâm.
4.
Hạng chót là hạng nghiệp chướng nặng nề tham, giận, si-mê
giải không nổi. Đối với hạng này là hạng không tin
không kính một ai cả, thì không làm sao giáo hóa họ được.
Có bao giờ họ nghe được tiếng của Phật, của tâm, vì
họ mãi nghe tiếng của tham, sân, si!
Nhưng
đừng tưởng phải có Phật ra đời mới giáo hóa chúng sanh
được. Phật hằng ở một bên ta, trong mỗi chúng ta.
Đó là tâm ta vậy và mỗi tâm là mỗi phân-thân của Phật,
của Địa-Tạng.
Ai
cũng có tâm, thì tâm mình chẳng những là Phật giáo hóa mình,
mà còn giáo hóa những người xung quanh mình. Tuy nhiên
phải người cùng cảnh ngộ, sự giáo hóa hay dạy bảo lẫn
nhau mới có hiệu quả. Vì vậy, đối với hạng tầm
thường phải nam, nữ nói mới nghe. Bằng hạng thượng
lưu, hạng lành sạch, hạng giàu có, hạng tu hành, thì phải
là bậc vua chúa (chuyển luân-vương, quốc-vương, Tể-tướng,
phụ-thần, quan thuộc), bậc Đại Hiền Thánh (Thiên-đế,
phạm vương), bậc phú gia (cư-sĩ), bậc Tỳ-khưu, Ưu bà tắc...
là những người cùng giai cấp, cảnh ngộ với họ, nói họ
mới nghe. Thậm chí hạng Thiên Long, quỉ thần, tượng
trưng cho những người hiền tầm thường hay người không
quá ác cũng có thể giúp người khác tỉnh ngộ.
Nhưng
con người không chỉ học với con người, mà còn có thể
học với vạn vật trong ngoại cảnh. Núi sông, ngòi rạch...
thuộc "vạn pháp" mà trong pháp có Phật (tức sự sống) cho
nên nói Phật phân-thân hiện ra trong những vật ấy.
Và con người, nếu để tâm suy gẩm có thể học rất nhiều
với ngọai cảnh. Những câu ca-dao như "Cây có cội, nước
có nguồn", "trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa",
"thu tàn xuân thạnh".. đều là những bài học về bản-thể,
về nhân-quả, về vô thường... rút ra từ vạn vật.
Tu
theo Phật-giáo có nhiều phương tiện, có nhiều đường lối.
Tuy nhiên, điều kiện cốt yếu là phải mở tâm từ-bi.
Do đây Kinh nói: phải ở trong Phật-pháp mà làm việc thiện,
dầu nhỏ nhít đến đâu, cũng có lợi ích. Làm thiện
mà không ở trong Phật-pháp, là làm với tâm mê-muội, tham
lam, mong cầu.
Phẩm
III: Quán Chúng-Sanh Nghiệp Duyên
Lúc
bấy giờ, thân mẫu của Phật là Ma-Da phu-nhân, chấp tay cung
kính hỏi Bồ-tát Địa-Tạng: "Thưa Bồ-tát, chúng-sanh cõi
Diêm-phù-đề có những nghiệp sai khác, vậy sự báo ứng
họ nhận lãnh như thế nào?"
Bồ-tát
Địa-Tạng đáp: "Thế-giới nhiều đến muôn ngàn, "quốc-độ"
cũng nhiều đến muôn ngàn, nơi thời có địa-ngục, nơi không
địa ngục, nơi có nữ-hân, nơi không có nữ-nân, nơi có
Phật-Pháp, nơi không có Phật-Pháp, nơi có Thanh-văn, Bích-chi-phật,
nơi không có Thanh-văn, Bích-chi-Phật, tất cả quốc-độ đều
sai khác nhau như thế, chẳng phải riêng tội báo ở địa
ngục sai khác mà thôi".
Ma-Da
phu-nhân lại bạch: "Xin Bồ-Tát cho nghe những cảm-thọ trong
nẽo ác của những tội báo tại thế-giới Diêm-phù-đề".
Địa-Tạng
đáp: "Thánh-mẫu, xin Ngài nghe lãnh, tôi sẽ lược nói".
Phật-mẫu
bạch: "Xin Bồ-tát cứ nói".
Bấy
giờ, Bồ-tát Địa-Tạng bạch với Thánh-mẫu rằng: Sự báo
ứng của các tội-nghiệp ở Nam-diêm phù-đề có những danh
hiệu như vầy:
- Chúng-sanh
nào chẳng hiếu thảo với cha mẹ, thậm chí đến giết hại
cha mẹ, sẽ rơi vào địa-ngục Vô-gián, ngàn muôn ức kiếp,
không có lúc nào ra khỏi.
- Chúng
sanh nào làm cho thân Phật chảy máu, nói xấu Tam-Bảo, chẳng
kính kinh điển, cũng sẽ rơi vào địa-ngục Vô-gián ngàn
muôn ức kiếp, không có lúc ra khỏi được.
- Chúng-sanh
nào xâm lấn và làm tổn hại chùa chiền, làm ô uế hàng
Tăng Ni, hoặc ở trong vòng nhà Chùa, để tâm phóng túng, làm
điều dâm dục, hoặc giết, hoặc hại, những bọn như vậy
sẽ rơi vào địa-ngục Vô-gián ngàn muôn ức kiếp, không
có lúc ra khỏi.
- Chúng-sanh
nào giả làm thầy tu mà chẳng có tâm thầy tu, phá tán và
lạm dụng nhà chùa, khinh dễ và dối lừa hàng tại-gia, làm
trái giới luật, tạo ác đủ thứ, những bọn như vậy sẽ
rơi vào địa-ngục Vô-gián, ngàn muôn ức kiếp, không có
lúc ra.
- Chúng-sanh
nào trộm cắp tiền của, đồ vật thức ăn thức uống, quần
áo của nhà chùa, cho đến một vật không ai cho mà cũng cứ
lấy, sẽ rơi vào địa-ngục Vô-gián ngàn muôn cứ kiếp không
có lúc ra.
Địa-Tạng
thưa tiếp: "Thưa Thánh-mẫu, chúng sanh nào tạo ra những tội
như vậy, sẽ rơi vào năm thứ địa-ngục Vô-gián, mong khổ
sở tạm ngừng trong phút chút cũng không được".
Ma-Da
phu-nhân lại bạch Bồ-tát: "Tại sao gọi là địa-ngục Vô-gián?"
Địa-Tạng
đáp: "Thưa Thánh-mẫu, các nơi có địa-ngục đều ở tại
núi lớn Thiết-vi. Địa-ngục lớn có 18 sở, kế là
thứ địa-ngục có năm trăm sở, danh hiệu khác nhau; kế là
thứ địa-ngục có ngàn trăm sở, danh hiệu khác nhau.
Về địa-ngục Vô-gián thì vách thành bao vây tám muôn dư
dặm, vách thành nầy toàn bằng sắt, cao một muôn dặm, trên
đầu thành lửa cháy không để một chổ hở. Những
ngục trong vòng thành này liên tiếp với nhau và có những
tên khác biệt. Riêng có một ngục tên là Vô-gián, châu-vi
một muôn tám ngàn dặm, tường cao một ngàn dặm, toàn bằng
sắt cả. Lửa trên cháy xuống, lửa dưới bốc lên;
rắn sắt chó sắt, miệng phun lửa, chạy đuổi nhau lại qua
trên đầu giường của ngục. Trong ngục, có một cái
giường choán cả mười dặm. Một người bị tội, tự
thấy thân mình nằm choán cả giường; ngàn muôn người thọ
tội, mỗi người cũng tự thấy thân mình nằm choán cả giường.
Đó là vì sự cảm xúc của các nghiệp mà chịu sự báo ứng
như vậy.
Lại
nữa, còn biết bao đau khổ dành cho những tội nhân trong ngục
ấy: trăm ngàn quỉ Dạ-xoa cùng các quỉ dữ khác, răng bén
như gươm, mắt sáng như điện, móng tay cứng như đồng, móc
ruột, xé đứt. Lại có những quỉ Dạ-xoa khác, cầm
chỉa sắt to, đâm vào thân tội nhân, hoặc trúng miệng mũi,
hoặc trúng bụng lưng, rồi tung lên trên không và lấy chỉa
hứng lấy, đặt lại trên giường. Lại có diều sắt,
mổ mắt người tội; lại có rắn sắt, cắn đầu người
tội; trăm đốt xương tay chân đều bị đóng đinh dài; lưỡi
kẻ có tội, bị kéo ra cày bừa, nước đồng đổ miệng,
sắt nóng vấn mình, chết đi sống lại muôn lần, nghiệp
cảm như vậy, trải qua ức kiếp, muốn ra không biết lúc
nào thoát được. Đến lúc thế-giới này hoại rồi,
sanh về thế-giới khác; thế-giới khác hoại rồi, lại chuyển
sang phương khác; lúc phương này hoại rồi thời xoay vần
sanh vào cõi khác. Khi những thế-giới hoại trở lại
thành xong, thời tội-nhân lại trở về đó (mà thọ tội
nữa). Sự báo ứng của tội lỗi tại địa-ngục Vô-gián
là như vậy.
Lại
vì năm thứ nghiệp cảm ở địa-ngục ấy nên gọi là Vô-gián.
Năm thứ nghiệp-cảm đó là gì?
Một
là tội nhân ngày đêm chịu khổ, trải qua nhiều kiếp không
lúc nào ngừng dứt, cho nên gọi là Vô-gián.
Hai
là, một tội nhân choán đầy cả ngục, mà nhiều người
cũng đầy cả ngục, vì vậy mà gọi là Vô-gián.
Ba
là, những khí cụ để hành hình, như chỉa ba, gậy, diều
hâu, rắn, sói, chó, cối giã, cối xay, cưa, đục, dao, mác,
chảo dầu sôi, lưới sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt,
da sống niền đầu, nước sắt nóng dội thân, đói thời
ăn hòn sắt nóng, khát thời uống nước sắt sôi. Cùng
năm trọn kiếp, đến vô số kiếp, khổ sở nối nhau tới
cùng không dứt đoạn, vì vậy nên gọi là Vô-gián.
Bốn
là, không luận trai gái, Mường, Mán, mọi rợ, già trẻ, sang
hèn, hoặc Rồng, hoặc Trời, hoặc Thần, hoặc Quỉ, hễ gây
tội ác thời có cảm, tất cả đồng chịu như nhau, nên gọi
là Vô-gián.
Năm
là hễ rơi vào địa-ngục ấy, thời từ khi mới vào cho đến
trăm ngàn kiếp, mỗi ngày mỗi đêm, muôn lần chết muôn lần
sanh, cầu tạm ngừng trong khoảng một tư-tưởng cũng không
đặng, trừ khi tội nghiệp tiêu hết, chừng ấy mới được
đầu thai. Vì cái lẽ liên-miên đó nên gọi là Vô-gián.
Bồ-tát
Địa-Tạng bạch Thánh-mẫu: "Sơ lược về địa-ngục Vô-gián
là như thế. Nếu nói rộng ra thời dầu suốt một kiếp,
cũng không thể nào nói cho hết tên của những khí-cụ để
hành tội cũng như những sự thống khổ trong địa-ngục đó".
Ma-Da
phu-nhân nghe xong, không xiết lo rầu, bà chắp tay đảnh lễ
Bồ-tát mà lui ra.
* *
*
Mật
nghĩa:
Trước
tiên, chúng ta nên xác định nghĩa danh-từ "địa-ngục".
Theo Phật-Học Đại-Từ-điển, địa-ngục là dịch nghĩa
chữ Phạn Naraka hay Niraya, có nghĩa là: chẳng vui (bất lạc),
đáng ghét chán (khả yếm), đủ mọi thứ khổ (khổ cụ),
đủ mọi thứ khí-cụ để hành tội (khổ khí), là chổ Có
với Không tranh nhau. Nơi những cái vừa kể nương tựa
nằm ở dưới đất (địa hạ), vì đó gọi là địa-ngục.
Vậy
thì khi nào trong lòng ta, trong tâm ta (địa) có những điều
chẳng vui, đáng ghét, có những khổ đau đủ thứ, có những
điều làm cho mình khổ đau như bị hình phạt, còn có sự
phân vân, tranh chấp giữa Có và Không thì ta đang ở trong
địa-ngục.
Bây
giờ chúng ta hãy trở lại bài Kinh.
Câu
hỏi đầu của Ma-Da phu-nhân có nghĩa: nghiệp tội lỗi chúng-sanh
sai khác nhau, vậy sự báo ứng có sai khác không và sai khác
thế nào?
Trong
câu đáp, Bồ-tát cho biết: sự báo ứng cũng sai biệt như
nghiệp, tùy nghiệp nặng nhẹ. Có những báo ứng ở
địa-ngục, có những báo ứng khác, ở những thế-giới và
quốc-độ không có địa-ngục, ở những thế-giới có nữ
nhâ, ở những thế-giới không có nữ nhân, v.v..
-
Ở địa-ngục là ở những quốc-độ (tâm-hồn) hoàn toàn
đen tối, đen tối cho đến phạm những tội hết sức nặng
nề, gọi là ngũ nghịch (năm tội nghịch hẳn với cương
thường, đạo-đức, Chân-lý) có kể trong Kinh:
1.
Không hiếu thảo với cha mẹ, hay giết hại cha mẹ
2.
Phạm tội sát sanh (làm chảy máu thân Phật) hoặc chê bai
Chân-lý (hủy báng Tam
Bảo)
3.
Tà dâm làm mất sự trong sạch (xâm lấn chùa chiền, làm ô
uế Tăng ni, làm điều dâm dục)
4.
Giả dối: giả làm thầy tu, phá tán và lạm dụng nhà chùa
(tội vọng ngữ); khinh dễ và dối lừa hàng tại gia (tội
khi mạn)
5.
Trộm cắp (trộm cắp đồ vật nhà chùa, lấy những đồ
vật của kẻ khác khi người ta không cho).
Phạm
những tội vừa kể, hay tạo những nghiệp như thế ấy là
những con người mà lòng dạ hoàn toàn và luôn luôn đen tối
cho nên gọi là vô-gián (không lúc nào dừng). Cái "nhân"
bất thiện đã liên miên như thế, thì cái "quả" vô-minh cũng
triền miên, cho nên gọi là địa-ngục vô gián. Gọi
như thế vì trong tâm những kẻ ấy chẳng vui, có điều chán
ghét, luôn luôn sầu khổ (xem lại ở trên)
Ngoài
5 tội trọng trên, do thân tạo ra, còn những nghiệp nhẹ hơn,
tạo bởi:
a)
những tâm hồn không hoàn toàn đen tối (nơi không có địa-ngục)
b)
những ý nghĩ mà thôi (nơi không có nữ nhân)
c)
những tâm hồn chua hứng ánh sáng hay đã hứng được một
ít ánh sáng Chân-lý (có hay không có Phật-Pháp)
d)
bởi những tâm-hồn đã được thanh tịnh, tỉnh ngộ phần
nào (nơi có Thanh văn, Bích-chi-Phật) hoặc chưa tỉnh ngộ.
Tất
cả tội lỗi ấy đều gây trong ba giới (dục, sắc và vô
sắc).
Dục
giới thuộc đời sống vật chất của thân.
Sắc
giới thộc đời sống tình cảm.
Vô
sắc giới thuộc đời sống tư tưởng, ý nghĩ.
Đọan
sau của Kinh giải hai chữ vô-gián. Tâm con người mà
hoàn toàn đen tối, thì mọi nghiệp đều đen tối. Nghiệp
đã đen tối thời báo cũng hoàn toàn đen tối (đau khổ vô
cùng cực). Trăm người đen tối, thì trăm người như
ở chung trong một ngục và tâm ai cũng bị đen tối xâm chiếm
hoàn toàn (nằm choán hết giường). Những đoạn nói
về cực hình là tượng trưng những đau khổ trong tâm hồn
vô-minh hoàn toàn của những người phạm năm trọng tội.
Phẩm
IV: Diêm-Phù Chúng-Sanh Nghiệp-Cảm
Lúc
bấy giờ Bồ-tát Địa-Tạng bạch Phật: "Thế-Tôn nhờ sức
thần của Như-Lai mới phân chia thân hình này khắp trăm ngàn
muôn ức thế-giới, nhổ tận gốc rể nghiệp báo chúng-sanh.
Nếu không có sức đại-từ của Như-Lai thì không thể biến
hóa như vậy được. Nay tôi lại được Phật căn dặn,
từ nay cho đến ngày A-Dật-Đa thành Phật, tôi phải làm cho
chúng-sanh trong sáu nẽo luân hồi đều được độ thoát,
tôi xin vâng, nguyện Thế-Tôn chớ lo".
Bấy
giờ Phật nói với Địa-Tạng Bồ-tát: "Tất cả chúng-sanh
nào chưa được giải-thoát thì tánh thức không định, cho
nên hễ tụ tập nhiều việc ác thì kết thành nghiệp ác,
tụ tập nhiều điều thiện thì kết thành quả thiện.
Nhưng dù làm lành, làm dữ đều theo cảnh mà tái-sanh, lăn
lộn trong năm đường, không lúc nào ngừng nghỉ, bị mê hoặc
làm chướng ngại, kiếp nầy sang kiếp khác nhiều như bụi
bặm, ví như cá lội trong lưới, theo giòng nước chảy, giá
có tạm ra khỏi, rồi cũng trở vào. Vì vậy mà ta phải
lo nghĩ đến những chúng sanh ấy. Ông đã trót lập nguyện,
nhiều kiếp thề nặng rộng độ chúng sanh tội lỗi, thời
ta còn lo gì".
Lúc
Phật nói mấy lời này, trong hội có một Bồ-tát tên là
Định-Tự-Tại-Vương bạch Phật: "Thế-Tôn! Từ nhiều kiếp
đến nay, Bồ-tát Địa-Tạng đã phát nguyện gì mà nay được
Thế-Tôn ân cần khen ngợi như vậy? Cúi xin Thế-Tôn
sơ nói cho nghe". Phật đáp: "Hãy nghe cho kỹ! Hãy
nghe cho kỹ! Hãy khéo suy gẫm! Ta sẽ vì ông mà giải
bày rõ ràng.
"Trong
quá khứ cách nay vô số kiếp, có một đức Phật ra đời,
hiệu là Nhất-Thế-Trí-Thành-Tựu..., sống lâu sáu muôn kiếp.
Lúc chưa xuất gia, Ngài làm vua một nước nhỏ và kết bạn
với một tiểu vương lân cận. Hai vua đều hành mười
hạnh lành, làm lợi ích cho nhân-dân.
"Dân
chúng trong nước láng giềng ấy phần nhiều hay làm việc
ác. Hai vua cùng nhau nghị kế, tìm phương rộng cứu.
Một vua phát nguyện sớm thành Phật để độ những người
tội lỗi, không sót một ai. Một vua lại nguyện nếu
trước chẳng độ được người tội lỗi, khiến họ được
an vui cho đến đắc quả Bồ-đề, thì cho đến cùng [9], chưa
nguyện thành Phật.
Đức
Phật nói tiếp: "Nhà vua phát nguyện sớm thành Phật là Nhất-Thế-Trí-Thành-Tựu
Như-Lai, còn nhà vua nguyện độ mãi chúng sanh tội lội, chưa
nguyện thành Phật, là Bồ-tát Địa-Tạng vậy.
"Lại
trong vô lượng vô số kiếp về trước, có một đức Phật
ra đời, hiệu là Liên-Hoa-Mục Như-Lai, Ngài thọ bốn mươi
kiếp. Trong thời "tượng pháp" của Ngài, có một vị
La-hán dùng phước cứu độ chúng-sanh. Nhân lúc đi giáo-hóa,
La-hán gặp một người nữ tên là Quang-Nục. Nàng sắm
thức ăn, cúng dường La-hán. La-hán hỏi: "Nàng ý muốn
gì?"
"Quang
Mục thưa: "Ngày mẹ tôi mất, tôi đã làm phước để cứu
vớt mẹ tôi; chẳng biết mẹ tôi đã thác sanh vào đường
nào (trong lục đạo)?"
"Nghe
nói cảm thương, La-hán nhập định quán sát thì thấy thân
mẫu Quang Mục đọa vào địa ngục, rất là khổ sở.
La-hán hỏi Quang Mục: "Thân mẫu nàng, lúc sanh tiền, đã làm
những nghiệp gì mà nay phải rơi vào địa-ngục, chịu nhiều
khổ não lớn lao tột bậc như thế?"
"Quang
Mục thưa: "Mẹ tôi có thói quen thích ăn cá, thịt rùa[10],
mà lại hay ăn cá con, rùa con, hoặc chiên, hoặc nấu.
Nếu kể ra thì có hàng ngàn, hàng muôn. Tôn-giả có lòng
thương xót, xin chỉ coi phải làm thế nào để cứu mẹ tôi".
"La-hán
xót thương, nghĩ ra một phương, bèn dạy Quang Mục: "Nàng
nên chí thành niệm nhớ Thanh-Tịnh Liên-Hoa-Mục Như-Lai và
vẽ đắp hình tượng Ngài mà thờ, được như vậy thì kẻ
còn, người mất, đều có phước báo".
"Quang-Mục
nghe xong, liền bỏ mọi điều mến chuộng, tìm người họa
tượng Phật thờ cúng. Nàng lại cung kính, khóc than,
chiêm ngưỡng và đảnh lễ tượng Phật. Bổng lúc đêm
gần tàn, nàng chiêm bao thấy Phật, thân sắc vàng sáng chói
như núi Tu-di. Phật phóng ánh sáng, bảo Quang-Mục: "Chẳng
bao lâu nữa mẹ ngươi sẽ thác sanh vào nhà ngươi, và khi
vừa biết đói lạnh là biết nói".
"Sau
đó, đứa con tớ gái trong nhà Quang Mục sanh một đứa con.
Chưa đầy ba ngày, đứa bé biết nói. Nó cúi đầu than
khóc, nói với Quang Mục: "Sanh-tử nghiệp duyên, tự mình
gây thì tự mình lãnh quả báo. Ta là mẹ con đây, từ
lâu đã ở trong chổ tối tăm, từ ngày xa cách con, mẹ được
thọ sanh làm kẻ hạ tiện, lại thêm số mạng ngắn ngủi,
sống hết mười ba năm lại sa vào địa ngục nữa. Con
có phương nào làm cho mẹ thoát khỏi khổ sở không?"
"Nghe
đứa trẻ nói, Quang Mục biết là mẹ nàng, không nghi kỵ
gì cả. Nghẹn ngào thương xót, nàng mới nói với đứa
trẻ: "Nếu đã là mẹ của tôi thì phải biết tội mình,
vậy đã tạo nghiệp gì mà nay phải sa vào nẻo ác?"
"Đứa
con của tớ gái đáp: "Vì đã tạo hai nghiệp, sát sanh và
chê bai mắng nhiếc, nên nay phải chịu sự báo ứng.
Nếu không nhờ phước đức cứu nạn thì vì hai nghiệp đó
mà chưa biết lúc nào được giải thoát."
"Quang
Mục hỏi: "Trong địa-ngục, sự báo ứng của tội lỗi như
thế nào?"
"Đứa
trẻ đáp: Những khốn khổ dành cho tội nhân trong địa-ngục,
không lòng dạ nào nói ra cho hết, dầu phải trải qua trăm,
ngàn năm".
"Quang
Mục nghe xong, than khóc rơi lệ, bạch giữa hư-không: "Nguyện
cho mẹ tôi thoát hẳn địa-ngục, mãn mười ba tuổi rồi,
không còn trọng tội và không còn phải đi trong nẻo dữ nữa.
Cúi xin chư Phật mười phương đem lòng từ-bi thương xót
tôi, nghe tôi vì mẹ phát lời thệ-nguyện lớn như sau: "Nếu
mẹ tôi thoát hẳn địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, cùng không
tái sanh làm người hèn thấp, thậm chí đời đời kiếp kiếp
không mang thân đàn bà, thì trước tượng Thanh-Tịnh Liên-Hoa-Mục
Như-Lai, tôi xin nguyện kể từ nay cho đến về sau trong trăm
ngàn muôn ức kiếp, ở thế-giới nào mà có chúng-sanh chịu
khổ trong địa-ngục và trong ba đường ác, tôi sẽ cứu vớt
tất cả những chúng sanh ấy. Chừng nào tất cả những
tội-nhân ấy đều thành Phật hết, chừng ấy tôi mới tiếp
theo sau mà thành Chánh-giác".
"Phát
nguyện xong, Quang Mục nghe tiếng Thanh-Tịnh Liên-Hoa-Mục Như-Lai
nói: "Này Quang Mục! Nhà ngươi có lòng từ lớn mới
vì mẹ mà phát đại-nguyện như thế. Ta quan sát thấy
mẹ ngươi mãn mười ba tuổi, sã bỏ báo-thân này, sanh làm
Phạm-chí, sống lâu trăm tuổi, sau đó lại sanh về nước
Vô-Ưu, sống lâu không biết bao nhiêu kiếp mà nói, và rốt
hết sẽ thành Phật, rộng độ trời, người, đông như cát
sông Hằng".
* *
*
Đức
Phật Thích-Ca bảo Bồ-tát Định-Tự-Tại-Vương: "Vị La-hán
phước lành độ Quang Mục thuở đó, chính Bồ-tát Vô-Tận-Ý,
thân mẫu của Quang Mục chính là Bồ-tát Giải-Thoát, còn
Quang Mục là Bồ-tát Địa-Tạng vậy. Trong nhiều kiếp
lâu xa về trước, Bồ-tát Địa-Tạng đã từ mẫn mà phát
ra Hằng-hà sa số thệ nguyện độ khắp chúng sanh như thế.
Trong đời sau, nếu có trai gái nào, không làm lành lại làm
dữ, thậm chí những kẻ không tin nhân-quả, phạm tội tà
dâm, nói láo, đâm thọc, mắng chưởi, hủy báng giáo-lý Đại-thừa,
tội nghiệp như thế thì phải đọa vào ác đạo, nhưng nếu
gặp người biết điều lành khuyên bảo, khiến họ quy-y với
Bồ-tát Địa-Tạng trong khoảnh khắc nhanh như khảy móng tay,
thì những chúng sanh phạm tội ấy liền đặng thoát khỏi
sự báo-ứng khổ não trong ba đường ác. Ai hết lòng
qui kính, chiêm ngưỡng, đảnh lễ, ngợi khen cúng dường,
thì trong trăm ngàn muôn ức kiếp sau thường được ở cõi
trời hưởng sự vui sướng. Đến lúc phước hết, sanh
xuống nhân-gian, còn thường được làm vua chúa trong trăm
ngàn kiếp, lại nhớ cội ngành nhân quả các đời trước.
"Này
Định Tự Tại Vương! Bồ-tát Địa-Tạng có thần lực
rất lớn không thể nghĩ bàn như thế, rộng làm lợi ích
cho chúng sanh. Các ông, bậc Bồ-tát, nên ghi nhớ mà tuyên
truyền khắp nơi kinh này".
"Định
Tự Tại Vương bạch Phật: "Xin Thế-Tôn chớ lo, ngàn muôn
ức đại Bồ-tát chúng con đều có thể nương vào oai-thấn
của Phật mà truyền rộng kinh nầy nơi cõi Diêm-phù-đề,
làm lợi ích cho chúng-sanh".
Bạch
xong, Định Tự Tại Vương cung kính lễ Phật lui ra.
Bấy
giờ, bốn vị Thiên-Vương đồng đứng dậy cung kính bạch
Phật: "Thế-Tôn! Bồ-tát Địa-Tạng từ kiếp lâu xa,
đã phát nguyện rộng lớn như thế, tại sao đến nay vẫn
chưa độ hết chúng-sanh, lại phải phát nguyện rộng lớn
nữa? Cúi mong Thế-Tôn dạy cho chúng con rõ".
Đức
Phật đáp: "Hay thay! Hay thay! Để làm lợi ích cho nhiều người,
ta nay vì các ông cùng hàng trời, người trong hiện-tại và
vị-lai, mà nói những phương-tiện được Bồ-tát Địa-Tạng
dùng, trong đường sanh tử ở thế-giới Ta-bà, để độ thoát
tất cả chúng-sanh mắc phải tội khổ".
"Từ
kiếp lâu xa đến nay, Bồ-tát Địa-Tạng độ thoát chúng-sanh,
vẫn chưa mãn nguyện. Nay thương xót chúng-sanh mắc tội
đời này lại xét thấy vô-lượng kiếp trong tương lai, nguyên-nhân
tội khổ lây dây mãi không dứt, cho nên Bồ-tát phải lại
phát trọng nguyện.
Vì
trọng nguyện đó, mà Bồ-tát Địa-Tạng, ở thế-giới Ta-bà,
châu Diêm-phù-đề, dùng trăm ngàn muôn ức phương-tiện mà
giáo-hóa chúng-sanh. Đây là những phương-tiện:
"Với
kẻ sát sanh, Bồ-tát lấy sự báo ứng chết yểu mà dạy.
"Với
kẻ trộm cắp, Bồ-tát lấy sự báo ứng nghèo nàn khổ sở
mà dạy.
"Với
kẻ tà dâm, Bồ-tát lấy sự báo ứng làm chim sẽ, bồ câu,
uyên ương mà dạy.
"Với
kẻ miệng độc, Bồ-tát lấy sự báo ứng bà con kình chống
nhau mà dạy.
"Với
kẻ nói xấu dèm pha, Bồ-tát lấy sự báo ứng không lưỡi,
miệng lở, mà dạy.
"Với
kẻ nóng giận, Bồ-tát lấy sự báo ứng thân hình xấu xí,
tàn tật mà dạy.
"Với
kẻ bỏn xẻn, Bồ-tát lấy sự báo ứng cầu một đàng, được
một ngả mà dạy.
"Với
kẻ săn bắn, Bồ-tát lấy sự báo ứng điên cuồng mất mạng
mà dạy.
"Với
kẻ trái nghịch mẹ cha, Bồ-tát lấy sự báo ứng trời đất
gieo tai sát hại mà dạy.
"Với
kẻ thiêu núi đốt rừng, Bồ-tát lấy sự báo ứng cuồng
mê đến chết mà dạy.
"Với
hạng cha mẹ ghẻ độc ác, Bồ-tát lấy sự báo ứng đời
sau chịu sự roi vọt mà dạy.
"Với
kẻ lưới rập chim non, Bồ-tát lấy sự báo ứng cốt nhục
chia lìa mà dạy.
"Với
kẻ dèm chê Tam Bảo, Bồ-tát lấy sự báo ứng đui, điếc,
câm, ngọng mà dạy.
"Với
kẻ khinh khi Chân-lý, Bồ-tát lấy sự báo ứng ở mãi trong
ác đạo mà dạy.
"Với
kẻ lạm phá tiền của của chùa, Bồ-tát lấy sự báo ứng
ức kiếp luân hồi địa ngục mà dạy.
"Với
kẻ làm ô-nhục và vu cáo người tu hành, Bồ-tát lấy sự
báo ứng ở mãi trong loài súc sanh mà dạy.
"Với
kẻ sát sanh bằng nước sôi, lửa, chém, chặc, Bồ-tát lấy
sự báo ứng phải luân hồi thường mạng mà dạy.
"Với
kẻ phá giới phạm trai, Bồ-tát lấy sự báo ứng làm cầm
thú đói khát mà dạy.
"Với
kẻ phung phí tiền của, Bồ-tát lấy sự báo ứng thiếu hụt
về sau ma dạy.
"Với
kẻ tự cao, phách lối, Bồ-tát lấy sự báo ứng làm người
hèn hạ, bị người sai khiến mà dạy.
"Với
kẻ đâm thọc gây gổ, Bồ-tát lấy sự báo ứng làm người
không lưỡi hay có trăm lưỡi mà dạy.
"Với
kẻ tà kiến mê tín, Bồ-tát lấy sự báo ứng làm người
sanh vào nơi hẻo lánh dã man mà dạy.
"Những
nghiệp thân, miệng của chúng sanh cõi Diêm-phù, kết quả
là trăm ngàn báo ứng như thế, nay chỉ nói sơ lược như
vậy. Vì nghiệp-cảm của chúng-sanh sai biệt, cho nên
Bồ-tát Địa-Tạng phải dùng trăm ngàn phương-tiện để
giáo-hóa. Những chúng-sanh tạo nghiệp, phải chịu sự
báo ứng, sau sa vào địa ngục, không có ngày ra. Vì thế,
các ông là người hộ vệ cho tâm chúng-sanh, các ông chớ
để cho nghiệp-chướng mê hoặc chúng-sanh".
Bốn
vị Thiên-vương nghe xong, rơi lệ than thở, chắp tay lễ Phật
lui ra.
Lời
nguyện Địa-Tạng,
Nơi
cung Trời Đao-lợi,
Là
dùng thần-thông hiển hiện mà hóa độ đám tối tăm,
Nhưng
khó mà làm sáng cõi đời năm trược:
Chúng-sanh
ngang ngạnh
Vì
tham vui nên chịu khổ vô cùng.
Nam-mô
Thường-trú Thập-phương Phật
Nam-mô
Đại-Nguyện Địa-Tạng Bồ-tát.
Mật
nghĩa:
Phẩm
thứ ba nói về nghiệp-duyên, nghĩa là những duyên cớ khiến
chúng-sanh tạo nghiệp.
Phẩm
thứ tư này nói về nghiệp-cảm, nghĩa là những cảm ứng
hay báo ứng của nghiệp, tức là của những hành-động của
miệng, của thân.
Chúng-sanh
sống trong vô-minh hắc ám. Phật ra đời như mặt trời
mọc, như đèn đốt sáng. Nhưng từ thời của đức Phật
Thích-Ca cho đến thời của Phật A-Dật-Đa (Di-Lặc) trong tương
lai, lấy ai soi sáng cho chúng sanh tội lỗi?
Kinh
bảo: Đức Thích-Ca giao sứ-mệnh này cho Bồ-tát Địa-Tạng.
Nên hiểu: nhằm lúc không có Phật ra đời, thì phải nương
vào Tâm, quy-y với Bồ-tát Địa-Tạng của mình, mới mong
giải thoát. Với hai điều-kiện: Nguyện và Thệ.
Nguyện
là mong mỏi trong lòng, là muốn (forme le voeu)
Thệ
là thề, là cả quyết (jurer, faire le serment de...)
Muốn
giải thoát mà không cả quyết, không tự thề với mình, không
thành công được.
Tu
theo Phật-giáo, có thể có hai thứ nguyện:
1.
Nguyện thành Phật trước, sau mới độ chúng-sanh. Đây
là con đường tu của La-hán.
2.
Nguyện trước độ chúng-sanh, sau mới thành Phật. Đây
là con đường tu của Bồ-tát.
Nhất-thế-trí
hay Trí-huệ bát nhã mà thành-tựu rồi nơi chúng-sanh nào đó,
thì chúng-sanh ấy được độ thoát. Đèn huệ đã đốt
thì hắc ám đâu còn, hắc ám không còn thì đâu còn nghiệp
ác, cho nên gọi là được độ thoát.
Không
tu La-hán thì phải tu Bồ-tát bằng cách lần hồi diệt nghiệp,
đời này sang đời khác (vĩnh độ chúng-sanh), khi diệt hết
rồi thì Tâm trở thành thanh tịnh hoàn toàn. Tâm ấy
là Tâm Phật, là Phật. Vì vậy, Kinh nói độ hết rồi
sau mới thành Phật.
Để
chứng minh, Kinh đưa ra một thí dụ: câu truyện Quang-Mục.
Chúng-sanh
nào phạm tội sát hại thú vật để làm ngon miệng và như
thế là phạm luôn tội "hủy mạ" luật nhân-quả nghiệp-báo
mà muốn thoát khổ thì phải "chí thành niệm Thanh-Tịnh Liên-Hoa-Mục
Như-lai", nghĩa là giữ mắt trong sạch, thấy mon ngon vật lạ
đừng thèm. Giữ được như vậy sẽ có cái kết-quả
là đôi mắt sẽ sáng suốt (Quang-Mục), thấy tội thấy lỗi,
thấy thiện thấy ác, và tự mình sẽ nói với mình rằng:
Sanh tử nghiệp duyên, quả báo tự thọ (trong vòng sanh tử,
tự mình để cho cảnh duyên thúc đẩy mà tạo nghiệp, thì
tự mình phải thọ lấy quả báo, không một quyền lực nào
xen vào để làm tội hay tha thứ mình được).
Biết
như vậy rồi, ai là người không thệ nguyện giải thoát các
tội lỗi khác? Giải thoát được là trở về con đường
Thiện, sanh Thiên (làm Phạm-Chí), rồi tiến tu cho đến chỗ
thanh tịnh (Vô ưu) và rốt phải thành Phật.
Câu
"Phật nói với Định-Tự-Tại-Vương: Lúc bấy giờ, vị La-hán
làm phước độ Quang-Mục là Bồ-tát Vô-Tận-Ý, mẹ của
Quang-Mục là Bồ-tát Giải-Thoát, còn Quang-Mục là Bồ-tát
Địa-Tạng" có thể có nghĩa như thế này:
Muốn
được giải thoát (như mẹ của Quang-Mục), tâm phải sáng
mắt (Quang-Mục) và áp dụng những phương pháp tu sửa vô
tận của Phật dạy, vì Vô-tận-Ý có nghĩa là Bát thập vô
tận pháp-môn (Phật Học Từ-điển).
* *
*
Đến
đây, một nghi-vấn được đưa ra trong câu hỏi của Tứ-Thiên-Vương:
Bồ-tát Địa-Tạng đã thệ nguyện cứu độ chúng-sanh từ
những kiếp lâu xa, tại sao nay còn phát nguyện nữa?
Hỏi như thế tức hỏi theo nghĩa ẩn: Chỉ có tâm mới cứu
độ được, mà chúng-sanh thì không ai không có tâm, tại sao
số người tội lỗi còn dẩy đầy?
Phật
trả lới: Làm sao độ hết được vì "nhân man bất đọan"
- Nhân là nguyên-nhân tội khổ; man là dài, là dây dưa; bất
đoạn là chẳng dứt. Nguyên nhân tội lỗi của chúng-sanh
là gì? Là tham-lam vì vô minh. Ai là người diệt
trừ nguyên nhân ấy? Từ gần 3000 năm nay, chỉ mới có
được một người: đó là đức Phật Thích-Ca. Nguyên
nhân còn kéo dài trong mỗi chúng-sanh thì công việc thức tỉnh,
cứu độ của mỗi Tâm chúng-sanh phải tiếp tục, do đây
mà Kinh nói: sự cứu thoát chúng-sanh chưa bao giờ làm trọn
nguyện của Địa-Tạng được.
* *
*
Đối
với người trí, biết nhân-quả, nghiệp-báo là đủ tự cứu
tự độ rồi. Nhưng đối với người thường, cần phải
tu sửa bằng những phương-tiện, chớ không lấy lý mà nói
được. Vì vậy, phải phương-tiện mà nói:
-
với người sát sanh: anh hãy coi chừng đời sau bị chết yểu
nhé!
-
với người trộm cắp: anh lấy của người, đời sau anh sẽ
bị bần cùng khổ sở...
Phương-tiện
không phải là sự thật, nhưng chủ yếu ở đây là trị bệnh
thì thuốc nào cũng được, chẳng nên luận quí tiện, đắt
rẽ, cốt yếu trị hết bện thì thôi.
Bài
tán cuối quyển đầu của Kinh đã nhắc lại một lới cảnh
cáo: Trong đời dơ bẩn này, khó đem ánh sáng mà rọi
vì chúng-sanh cứng đầu cứng cổ, dạy bảo không nghe, cứ
chạy theo tham muốn vui sướng, cho nên phải khổ sở vô cùng.
Bởi vậy, Phật mới nói ra bài Kinh Địa-Tạng bổn nguyện
để hóa độ kẻ tối tăm.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Kiếp (kalpa) có ba hạng. Tiểu kiếp có: 16,800,000 năm.
Trung kiếp: có 20 tiểu kiếp (336,000,000 năm). Đại kiếp
có 4 trung kiếp (1,344,000,000 năm)
[2]
Chánh văn viết: Tam thập tam thiên, tức là Đao-lợi
[3]
Tượng pháp: 500 năm đầu của Phật-Pháp, gọi là Chánh-Pháp;
1500 năm kế đó, gọi là Tượng-Pháp. Trong thời-gian
này, Pháp-Phật còn "tương tựa" mà thôi, nghĩa là đã bị
phai mờ rồi, còn hình bóng mà thôi. Thời-kỳ chót là
Mạt-Pháp.
[4]
Tam-Bảo: Phật, Pháp, Tăng
[5]
Chánh kiến: Thấy đúng với Chân lý
[6]
Do-tuần: 30 dặm
[7]
Chiêu cảm - Chiêu là lấy tay vẩy lại, tự gây việc cho mình.
- Cảm là nhiểm phải. - ý nói biển nghiệp ấy do ba nghiệp
(thân, khẩu, ý hay tham, sân, si) của chúng sanh tự tạo để
tự nhiểm sự khổ não.
[8]
Mười tám ngục này chỉ Thập-bát-giới (sáu căn, sáu trần
và sáu thức)
[9]
Bản dịch âm của T.T. Trí Tịnh và của Ô. Đoàn Trung Còn
đều ghi: "Nhược bất tiên độ tội khổ linh thị an lạc,
đắc chi Bồ-đề, ngã tùng vị nguyện thành Phật". Vì
chữ "tùng" ở đây hình như không có nghĩa, tôi tra lại trong
Đại-Tạng, thì thấy viết là "chung" chớ không phải "tùng".
(dịch giả)
[10]
Nguyên văn là "biết", mà "biết" theo Hán-Việt Từ-Điển của
Đào Duy Anh, có nghĩa là con ba-ba, giống như lọai rùa.