Địa
Tạng Đại Sĩ
Tài liệu ghi về đại sĩ dưới
đây toàn xuất từ kinh Thập luân. Cách ghi thì phần nhiều
lược văn mà không lược ý, nhưng cũng có chỗ dẫn dụng
chính văn. Chỗ nào dẫn kinh điển khác thì ghi tên rõ ràng.
1. Danh hiệu của đức Địa tạng.-
Theo nghĩa đen, địa là đất, tạng là kho tàng: kho tàng đất,
gọi là Địa tạng. Nếu đọc Địa tàng thì lại có nghĩa
sự tàng trữ của đất. Nhưng nghĩa chính thì nên lấy cách
đọc Địa tạng. Đại nhật kinh sớ nói Điạ tạng bồ tát
chủ trì kho báu vô biên công đức phát khởi từ bản tánh
của tâm địa. Định nghĩa này biến thành định nghĩa mà
khoa nghi thường nói "khể thủ bản nhiên tịnh tâm địa,
vô tận phật tạng đại từ tôn". Còn 1 bài tựa của Địa
tạng khoa chú (Vạn 35/206A) dẫn lời Phật nói dũng mãnh là
Địa tạng. Lời này không thấy ghi xuất xứ, nhưng rất đúng
với đại thệ nguyện và đại tinh tiến của đức Điạ
tạng phân thân vào trong các đường dữ, nhất là vào trong
địa ngục. Còn kinh Thập luân, khi tả đức tính của ngài
về lục độ, có nói nhẫn thì vững như cõi đất to lớn,
định thì sâu như kho tàng bí mật. Lời này thành định nghĩa
của Phật học đại từ điển. Thế nhưng các định nghĩa
ấy không bằng chính văn sau đây. "Vị đại sĩ này, bằng
định lực, làm cho tất cả trái hạt phong phú. Tại sao, vì
vị đại sĩ này đã qua vô số kiếp, nơi vô số Phật, phát
cái nguyện cực kỳ tinh tiến và kiên cố; do năng lực của
nguyện ấy, để hóa độ chúng sinh, ngài giữ gìn tất cả
đất đai và mầm giống cho chúng sinh tùy ý hưởng dụng.
Chính năng lực của ngài đã làm cho cả cõi đất to lớn
này cỏ cây rau lá sinh trưởng tốt tươi, thóc lúa hoa quả
đầy đủ chất lượng". Lời này cho thấy Địa tạng là
kho đất, là nghĩa đen thật sự. Và việc này rất liên hê
đến sự tồn tại của Phật pháp, liên hệ một cách đặc
biệt. "Địa tạng đại sĩ bạch đức Thế tôn, con nguyện
tế độ tất cả bốn chúng đệ tử của đức Thế tôn.
Con làm tăng trưởng hết thảy bạch pháp giải thoát, tăng
trưởng cây trái thực phẩm và dược liệu, tăng trưởng
đất nước gió lửa, nói tóm, con làm cho dòng giống Tam bảo
trường tồn, rực rỡ và uy đức ... Đức Thế tôn nói, Địa
tạng đại sĩ làm được như vậy là vì đại sĩ đã được
tuệ giác Bát nhã sâu xa, nắm chắc tính chất đối kháng
và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sinh diệt của đất nước
gió lửa".
Tư tưởng hệ Phật giáo về con
người và thế giới con người không phải chỉ có một mặt:
có mặt do phước báo mà có, đó là nhân quả dị thục; có
mặt do nhân lực mới thành, đó là nhân quả sĩ dụng; nhưng
còn mặt nữa, đó là thần lực của chư Phật chư đại bồ
tát. Thần lực ấy thấy rõ nhất nơi Địa tạng đại sĩ,
nên trong kinh đã dẫn, đức Thế tôn đề cao như sau, "giả
sử có người đối với vô số đại bồ tát trì niệm và
hiến cúng cả trăm kiếp, không bằng có người trong thì gian
một bữa ăn chí tâm qui y, lễ bái, trì niệm và hiến cúng
Địa tạng, vị đại sĩ có đại bi nguyện và đại tinh tiến
quá hơn các vị bồ tát".
Đến đây thì đã thấy khi xưng
niệm ngài, nên thay những chữ thừa mà thiếu là đại bi
đại nguyện đại thánh đại từ bằng những chữ đại bi
đại nguyện đại định đại lực, đã thấy ngài là vị
minh dương cứu khổ chứ không phải chỉ là u minh giáo chủ,
đã thấy trì niệm ngài không phải chỉ để cầu siêu. Những
điều này, dưới đây sẽ còn thấy rõ hơn nữa.
Trên đây là định nghĩa chính về
danh hiệu của Địa tạng đại sĩ. Phần tôi, căn cứ tinh
thần kinh Địa tạng, nhất là căn cứ câu "tất cả thân
hình của Điạ tạng đại sĩ phân hóa tại các địa ngục
của các thế giới hệ" trong phẩm 2, tôi lại muốn định
nghĩa đơn giản, rằng Địa tạng là tàng hình trong điạ
ngục. Tôi nói muốn định nghĩa như vậy, không nói đó là
định nghĩa. Tuy nhiên, tôi thấy như vậy lại rất thâm thiết
đối với hạnh nguyện của Địa tạng đại sĩ. Sau này có
dịp được thấy Thái hư đại sư đã có ý kiến đó (Thái
hư toàn thư tập 29 trang 2468).
2. Hình tượng của đức Địa tạng.-
Địa tạng đại sĩ đến với Phật từ phương nam, bằng
hình tướng Thanh văn, tức hình tướng xuất gia. Hình tướng
ấy vừa tiêu biểu vừa hộ trì cho Tăng bảo và sự giải
thoát của toàn bộ Phật pháp. Thị hiện hình tướng ấy,
có nghĩa như Phật nói, "chỉ có chư Phật thế tôn và bồ
tát đại sĩ mới hộ trì được 2 việc: hộ trì người xuất
gia vì muốn tiếp nối dòng giống Tam bảo và hộ trì chánh
pháp thuận với sự giải thoát của cả Tam thừa. Thế quyền
không làm được việc ấy; đừng rình sơ hở mà hại đệ
tử và chánh pháp của ta".
Quốc độ này Tăng bảo là người
xuất gia. Muốn làm cho Phật pháp tồn tại thì phải ái hộ
người xuất gia. Ái hộ người xuất gia, trước hết và căn
bản, là ái hộ giới pháp. "Người xuất gia dẫu tàn tệ
đến nỗi chỉ là cái thây chết phá giới, không giới, sẽ
đọa ác đạo, nhưng vẫn làm thiện tri thức cho nhân thiên
ở chỗ có thể tuyên thuyết Phật pháp cho họ, lại vì có
hình tướng và uy nghi của người xuất gia nên làm cho mọi
người phát sinh cảm nghĩ quí báu". Do đó, Phật không chấp
nhận họ là đệ tử, nhưng cũng không chấp nhận thế quyền
xúc phạm đến họ. Phật chỉ chấp nhận sự trừng trị
theo giới luật của Tăng chúng thanh tịnh.
Ái hộ người xuất gia là, kế
đó, ái hộ sự giải thoát và chánh pháp đem lại sự giải
thoát ấy. Chánh pháp giải thoát là cọng tướng của toàn
bộ Phật pháp gồm cả thanh văn tiểu thừa và vô thượng
đại thừa, tuy nhiên, chánh pháp ấy căn bản vẫn là thanh
văn tiểu thừa. "Như vậy những kẻ tự xưng đại thừa,
khinh miệt và cản trở sự truyền bá tiểu thừa, những kẻ
không tin, phỉ báng và cản trở cả tiểu thừa đại thừa,
tất cả những kẻ này không được xuất gia, xuất gia rồi
phải đuổi gấp, vì họ mới thật là kẻ đại tội ác gần
với tội ác vô gián". "Đừng vì lợi và danh mà lừa đảo
thế gian, tự xưng đại thừa, phỉ báng tiểu thừa. Làm như
vậy thì họ không còn là đồ chứa đựng chánh pháp, dầu
là chánh pháp tiểu thừa hay chánh pháp đại thừa". Nên đối
với những kẻ phá hoại này Phật nghiêm khắc hơn cả với
kẻ phá giới. Ngài đã biết trước và dạy thi hành sự bất
cọng trú đối với họ: "Tăng chúng thanh tịnh và hòa hợp
trục xuất rồi mà họ dùng tiền của, học thức, khéo miệng
và mưu mô, làm cho thế quyền đứng về phía họ, buộc Tăng
chúng thanh tịnh phải để họ ở chung như cũ, thì trong Tăng
chúng những vị tỷ kheo giữ giới và hổ thẹn, hãy vì hộ
trì giới pháp mà trình bày rõ ràng với thế quyền, đừng
giận dữ thóa mạ những kẻ phá pháp ấy. Nếu thấy trình
bày mà bị đàn áp, thì nên bỏ chỗ ấy mà đi ở chỗ khác".
Ái hộ người xuất gia không phải
chỉ ái hộ giới luật thanh tịnh và chánh pháp giải thoát,
Địa tạng đại sĩ còn ái hộ bằng sự làm tăng thêm tư
cụ để người xuất gia sống mà giữ giới, mà tu bạch pháp
giải thoát, mà, nói tóm, tiếp nối dòng giống Tam bảo. Nên
như đã thấy, "Địa tạng đại sĩ bạch đức Thế tôn, con
nguyên tế độ tất cả 4 chúng đệ tự của đức Thế tôn.
Con làm tăng trưởng hết thảy bạch pháp giải thoát, tăng
trưởng cây trái thực phẩm và dược liêu, tăng trưởng đất
nước gió lửa, nói tóm, con làm cho dòng giống Tam bảo trường
tồn, rực rỡ và uy đức".
Với sự tiêu biểu và hộ trì người
xuất gia như trên đây, hình tướng xuất gia của đức Địa
tạng đã thành vấn đề, và là vấn đề trọng đại, là
phải.
3. Đại nguyện của đức Địa
tạng.- Kinh đã dẫn tả đại nguyên này bằng những từ ngữ
như sau. "Vị đại sĩ này có vô số những sự bất khả tư
nghị, ích lợi chúng sinh một cách cần mẫn tinh tiến, là
vì đối trước hằng sa chư Phật, để ích lợi chúng sinh,
ngài đã phát khởi thệ nguyện đại từ bi, rất kiên cố,
khó phá hoại, rất dũng mãnh, rất tinh tiến và vô cùng tận;
do năng lực tăng thượng của thệ nguyện ấy mà trong mỗi
thì gian bằng một ngày đêm hay một bữa ăn, ngài cứu độ
được vô lượng chúng sinh, làm cho những sở cầu đúng như
chánh pháp của họ đều thỏa mãn cả".
4. Phân thân của đức Địa tạng.-
Kinh đã dẫn nói, "Vị đại sĩ này, bằng vào những sự bất
khả tư nghị đã hoàn thành, vào sự dũng mãnh tinh tiến của
thệ nguyện kiến cố, để cứu độ chúng sinh, khắp trong
thế giới hệ mười phương, ngài thị hiện đủ mọi thân
hình". Thân hình mà ngài thị hiện, không những đủ loài,
đủ hạng trong mỗi loài, đủ từ thân Phật đà đến thân
địa ngục, mà quan trọng và đặc biệt, còn "hiện những
cảnh đẹp cho người vui thích". Nhưng câu này phải nói như
kinh Địa tạng mới rõ: thân của Địa tạng đại sĩ là
thân không biên cương. Phẩm 2 của kinh ấy nói về sự phân
thân của Phật, điển hình cho sự phân thân của chư Phật
và đại bồ tát, lại nói, "hoặc hiện rừng núi, dòng nước,
đồng bằng, sông ngòi, ao hồ, suối giếng, ích lợi khắp
cả mọi người, ai cũng được độ thoát". Chính văn câu
này như sau, "hoặc hiện sơn, lâm, xuyên, nguyên, hà, trì, tuyền,
tỉnh, lợi cập ư nhân, tất giai độ thoát". Trước đây
tôi đã chuyển văn một chút mà dịch như sau, "hoặc hiện
núi sông, bình nguyên, ao hồ, suối giếng, ích lợi khắp cả,
toàn là tác dụng hóa độ". Chưa có kinh điển nào nói minh
bạch được như vậy, dẫu rằng trong cách nói cũng có thể
làm cho ta hiểu rằng sự phân thân của chư Phật và đại
bồ tát là như thế đó, không phải chỉ có những thân hình
như chúng ta hiểu theo nghĩa của chúng ta.
5. Định lực của đức Địa tạng.-
Kinh đã dẫn nói, tại bất cứ thế giới hệ nào, Địa tạng
đại sĩ cũng nhập các định, hoạt hiện vô biên diệu dụng,
hóa độ vô lượng chúng sinh. Sau khi kể rõ 23 định (2) ,
nhập định nào có lực dụng gì, kinh đã dẫn nói, "nói tổng
quát, vị đại sĩ này, hằng ngày mỗi buổi sáng sớm, vì
cứu độ chúng sinh nên nhập vô số định. Định lực ấy
tùy sở ưng mà ích lợi chúng sinh trong mọi thế giới hệ",
"đặc biệt là trong giai đoạn ngũ trược và những thế giới
hệ không có Phật xuất hiện".
6. Sở độ của đức Địa tạng.-
Như lời kinh đã dẫn trên đây, đối tượng sở độ của
Địa tạng đại sĩ có 3. Thứ nhất, nói tổng quát là chúng
sinh trong hết thảy quốc độ và thì gian. Thứ hai, nói đặc
biệt lại có 3, là chúng sinh ở những quốc độ không có
Phật, ở những quốc độ có Phật nhưng thuộc giai đoạn
ngũ trược (và dẫn đếm tam tai) và thuộc giai đoạn cách
hở giữa 2 đức Phật (mà Phật pháp không còn). Thứ ba, nói
thiết cận là châu Diêm phù, tức loài người chúng ta đây,
và theo kinh Địa tạng thì quan trọng là chúng sinh tội khổ
trong các ác đạo, nhất là ác đạo địa ngục, của châu
Diêm phù. Do đó, Phật nói, Địa tạng đại sĩ ứng hiện
khắp nơi, nhưng nghiêng nặng đối với giai đoạn dữ dội
(Chiêm sát, Chính 17/902). Chính đại sĩ thì ngài nói, đã 13
đại kiếp đến nay, ngài nỗ lực cực nhọc loại trừ ngũ
trược và tam tai cho chúng sinh. Còn kinh Địa tạng thì nói
đi lặp lại, rằng đối với châu Diêm phù, ngài có một
sự liên hệ lớn lao.
Vì châu Diêm phù, và giai đoạn
ngũ trược dẫn đến tam tai (3) , là đối tượng sở độ
đặc biệt của Địa tạng đại sĩ, nên ở đây phải nói
sơ lược.
Như đã nói, Diêm phù là thế giới
loài người chúng ta đây. Thế giới ấy là 1 trong 1 tỷ thành
phần của thế giới hệ Sa bà. Đại bộ phận thế giới
hệ này, cũng như các thế giới hệ tương tự, có như nhau
một quá trình là thành: kết thành, trú: tồn tại, hoại:
hư rã, không: tan biến. Nhưng không rồi lại thành, lại trú,
lại hoại, lại không, luân chuyển như thế chứ không mất
hẳn. Mỗi thời kỳ thành trú hoại không đều có thì gian
như nhau, nhưng chỉ thời kỳ trú mới có chúng sinh sinh sống,
chúng sinh mà trong đó loài người là đại bộ phận. Thời
kỳ trú có 20 tăng giảm. Thời kỳ thành rồi thì có người
sinh sống, và sống rất lâu, ấy là tăng; sau đó con người
vì phát sinh ngũ trược mà sự sống giảm dần, giảm đến
trung bình không quá trăm tuổi là ngũ trược tăng thì, và
rồi sẽ giảm dần nữa cho đến dẫn ra tam tai, ấy là giảm.
Tam tai là đao binh, tật dịch, cơ cẩn (chiến tranh, nhiễm
độc, nhân mãn). Sau tam tai, con người sống sót rất ít, mới
biết khủng khiếp và thương nhau, loài người lại phồn thịnh,
trong đó có sự sống lâu tăng dần, nhờ sự thương nhau đó,
đó lại là tăng. Và cứ như thế mà tăng rồi giảm, giảm
lại tăng. Hiện nay là ngũ trược tăng thì của thời kỳ
giảm thứ 9 trong 20 thời kỳ tăng giảm của thời kỳ trú.
Như vậy thì trước nữa và sau nữa còn có vô tận những
giai đoạn ngũ trược và tam tai. Trong ngũ trược, nhất là
trong tam tai, Địa tạng đại sĩ cứu độ bằng định lực.
Nguyên nhân chính của tam tai là sự tàn hại lẫn nhau, nên
từ tâm thương nhau là nguyên nhân chính kết thúc tam tai. Do
đó mà trong tam tai, ai tu từ tâm thì khỏi. Mà một trong vô
số hiệu năng định lực của đức Địa tạng là làm cho
con người "bỏ được tâm lý độc hại mà hướng về nhau
bằng từ tâm".
7. Phó cảm của đức Địa tạng.-
Diệu dụng của Địa tạng đại sĩ là như thế, như một
ít điều đã ghi trên đây. Diệu dụng ấy, như vậy, toàn
là để thỏa mãn mọi sự sở cầu, miễn mọi sự sở cầu
ấy là "như pháp sở cầu" và xuất từ "chí tâm xưng niệm",
đó là 2 từ ngữ mà kinh Thập luân đã dẫn luôn luôn nói
đến.
Địa
Tạng Đại Sĩ và Kinh Địa Tạng
Bây giờ hãy nói vắn tắt về nội
dung kinh Địa tạng và đức Địa tạng qua kinh này.
Kinh này được gọi là hiếu kinh
của Phật giáo. Hiếu niệm của Phật giáo, chỉ cần nói,
theo Bồ tát giới Phạn võng, cái tội nặng nhất là phải
sinh ở những chỗ không được nghe cái tên Cha mẹ hay Phật
pháp tăng, cũng đủ để ý thức. Gọi là hiếu kinh của Phật
giáo, vì kinh này có nội dung sau đây.
Thứ nhất, kể lại hiếu hạnh
của Địa tạng đại sĩ mà đại nguyện của ngài đã xuất
phát từ hiếu hạnh ấy và hoàn thành hiếu hạnh ấy. Đại
nguyện của Địa tạng đại sĩ đại khái có 2 cách nhìn:
một, căn bản là "chúng sinh độ tận phương chứng bồ đề,
địa ngục vị không thệ bất thành Phật"; hai, tùy thời,
tùy căn và tùy cảnh, còn có những lời thề để thực hiện
đại nguyện căn bản trên đây. Đối tượng của đại nguyện
Địa tạng đại sĩ đương nhiên vô giới hạn, nhưng đặc
biệt là chúng sinh tội khổ trong tam đồ, nhất là trong địa
ngục; là người Diêm phù; và như đã nói, còn có những kẻ
ở các thế giới hệ không Phật, hay có Phật mà thuộc giai
đoạn ngũ trược, giai đoạn tam tai, và thời kỳ cách hở
giữa 2 đức Phật.
Thứ hai, tóm tắt những ích lợi,
những sự bất khả tư nghị của đại nguyện Địa tạng
đại sĩ đem lại cho chúng sinh. Đại nguyện Địa tạng đại
sĩ thể hiện qua danh hiệu, hình tượng và kinh điển (kinh
Địa tạng) của ngài. Nên 3 pháp hạnh trì niệm danh hiệu,
chiêm bái hình tượng và trì tụng kinh điển chính là trì
niệm, chiêm bái và trì tụng đại nguyện của Địa tạng
đại sĩ, và những sở cầu mà trong kinh nói rõ, sẽ được
đại nguyện ấy làm cho như ý. Đặc biệt chữ sinh tử trong
kinh này nói, ngoài cái nghĩa tổng quát như bao nhiêu kinh điển
khác, còn có cái nghĩa rõ nhất là lúc sinh lúc chết, khi còn
khi mất. Kinh này dạy rõ thực hành như thế nào về 3 pháp
hạnh thì tiếp nhận được những gì về ích lợi mà đại
nguyện Địa tạng đại sĩ đem lại cho, trong lúc sinh lúc
chết và người còn kẻ mất. Do đó, khi cha mẹ hay thân nhân
đau ốm, khi sắp chết, khi chết và sau khi chết, kinh này kể
rõ đại nguyện Địa tạng đại sĩ tác thành hiếu niệm
cho những người con hiếu hạnh như thế nào, và dạy rõ cách
thức mà những người con hiếu hạnh có thể làm được để
tiếp nhận sự tác thành ấy. Đó là đối với lúc chết
và người mất. Đối với lúc sinh và người còn, kinh này
càng rất quan tâm, bằng cách răn sự sát sinh, đề cao sự
giúp đỡ sản phụ, bịnh nhân và người già, lại chỉ dạy
những sự cần thiết, chỉ dạy cũng với thái độ nghiêm
trọng.
Thứ ba, có một chi tiết quan trọng
là kinh này rất trọng thắng diệu lạc (sự yên vui tuyệt
diệu) ở trong nhân loại và chư thiên. Giải thoát, theo kinh
này, là giải thoát ác đạo (nhất là địa ngục) và giải
thoát luân hồi. Con cá sa vào dòng nước có lưới, thì thoát
là thoát lưới và thoát cả dòng nước. Chỉ thoát lưới
là thoát tạm, thoát rồi cũng có thể mắc lại. Phải giải
thoát cả lục đạo luân hồi mới là giải thoát vĩnh viễn,
nếu chỉ giải thoát ác đạo thì thoát rồi cũng có thể
đọa lại. Lý lẽ là như vậy, nhưng cấp bách nhất vẫn
là sự giải thoát ác đạo mà sinh lên nhân thiên, hưởng
thắng diệu lạc. Đó là điều kinh này đặc biệt quan tâm.
Điều ấy rất phù hợp với thái độ của Phật nói trước
về giới luận và thí luận mỗi khi thuyết pháp cho người
mới đến.
Thứ tư, việc cảm động nhất
và nổi nhất của kinh này là do những điều trên, nhất là
do đại nguyện, mà Địa tạng đại sĩ được Phật đem chúng
sinh tội khổ ký thác cho. Không những như vậy, sự ký thác
này, và kinh đại nguyện này của Địa tạng đại sĩ, được
Phật thực hiện và tuyên thuyết khi ngài lên Đao lợi thuyết
pháp cho mẹ, trước ngày nhập niết bàn. Như vậy, chính việc
đem chúng sinh ký thác cho Địa tạng đại sĩ, và việc nói
về đại nguyện của Địa tạng đại sĩ, là việc báo hiếu
của Phật, đối với mẹ và đối với chúng sinh. Quan trọng
biết bao! Kinh này phổ cập sâu rộng, chính là vì điều này
đây.
Với nội dung trên đây, trọng tâm
kinh Địa tạng là nói về đại nguyện của Địa tạng đại
sĩ, nên Phật đã mệnh danh là kinh bản nguyện, và dạy thọ
trì cùng truyền bá theo đại nguyện ấy. Mặt khác, kinh này
nói giản dị, sự việc cần thiết và gần gũi lòng người,
nhưng hạnh nguyện là hạnh nguyện thượng thừa, và triết
thuyết thì cực kỳ viên đốn khi minh bạch nói rằng cảnh
vật cũng là hóa thân và toàn là tác dụng hóa độ. Cảm
kích nhất vẫn là việc kinh này được Phật nói lúc ngài
thuyết pháp cho mẹ để nhập niết bàn, lại nói về đại
nguyện của một vị đại sĩ như đức Địa tạng, và thiết
tha đem chúng ta ký thác cho đại sĩ. Như vậy, qua kinh Địa
tạng, đức Địa tạng mới thật bất khả tư nghị.