Phóng
sự ảnh:
Ấn
Độ qua cái nhìn của chúng tôi
Chúng
tôi ở đây là Tỳ kheo Thích Quảng Đạt và nhà báo Huỳnh
Ngọc Chênh, trong thời gian tham quan và làm việc tại Ấn Độ
đã ghi nhận lại vài hình ảnh của đất nước này.
Các
nhà sư Việt Nam, Tây Tạng, Thái Lan và Bangadesh
đang
lễ Phật tại Kỳ Viên tịnh xá
Chùa
Việt Nam Phật Quốc Tự (VNPQT) tại Bồ Đề Đạo Tràng
Thành
cổ có từ 3.000 năm bên sông Hằng
bị
đè nén bên dưới những nhà dân mới xây dựng
Chùa
VNPQT tại Lâm tỳ Ni Nêpal là nơi Phật đản sinh
Tắm
tại sông Hằng ít nhất một lần trong đời là
mơ
ước cháy bỏng của tất cả người Hindu
Bò
rong chơi trên đường phố
Bình
minh trên sông Hằng
Đường
đến đất Phật
Kỳ
1: Theo "dấu chân" Đường Tăng
Ấn
Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại.
Nơi này cách đây 2.600 năm đã sản sinh ra một nhà hiền triết
vĩ đại, đó là Phật Thích Ca Mâu Ni. Những bài giảng của
ông được học trò ghi chép lại thành một triết thuyết
mà đến nay đang ảnh hưởng đến hơn 600 triệu người trên
thế giới. Những vết tích ông để lại trên vùng đất phía
bắc Ấn Độ trở thành vùng đất Phật thu hút hàng triệu
người trên khắp thế giới cho đến ngày nay. Tôi có cái
duyên được đến vùng đất Phật linh thiêng kỳ bí này.
Đường
đến đất Phật hiện nay so với những năm về trước tuy
đã trở nên dễ dàng hơn nhưng vẫn còn không ít trở ngại.
Tôi phải mất đúng 2 ngày để đi từ TP.HCM đến vùng đất
linh thiêng đó. Ấy là tôi đi theo đoàn du khách của Công
ty lữ hành East Sea - công ty uy tín nhất trong việc thực hiện
tour đến vùng đất Phật - được hướng dẫn kỹ lưỡng
đường đi nước bước cũng như lo cho chỗ ăn ở và phương
tiện đi lại.
Từ
TP.HCM bay qua Malaysia, rồi từ đó đáp máy bay của hãng Malaysia
Airlines qua New Delhi, rồi đáp tàu hỏa đến Lucknow thủ phủ
bang Uttar Pradesh và đi tiếp ô tô đến kinh thành Xá Vệ (Sravasti).
Đó là điểm đến đầu tiên ở vùng đất Phật.
Tại
kinh thành Xá Vệ tôi đã gặp ngay "dấu chân" của ngài Huyền
Trang, người cách đây gần 1.500 năm đã từ kinh đô nhà Đường,
bằng đường bộ ròng rã trong 6 năm, vượt qua dãy Himalaya
để đặt chân đến vùng đất linh thiêng này.
Kinh
thành Xá Vệ vang bóng cách đây 2.600 năm nay chỉ là vùng đất
hoang vắng nghèo nàn. Tuy vậy, nơi đây còn lại 3 Phật tích
quan trọng: Kỳ Viên Tịnh Xá, nhà của Cấp Cô Độc và Vô
Não là hai đại đệ tử của Phật Thích Ca.
Theo
Phật sử, Cấp Cô Độc là đại gia giàu có hàng đầu của
kinh thành Xá Vệ. Khi Phật Thích Ca về đây thuyết giảng,
ông đã bỏ đạo Bà La Môn theo làm đệ tử của Phật và
quyết định tìm mua một khu vườn đẹp nhất làm nơi thuyết
giảng và trú ngụ cho đức Phật. Nơi ông vừa ý nhất lại
là khu vườn của Thái tử Kỳ Đà con của nhà vua đương
thời. Vì không muốn bán khu vườn nên thái tử nói đùa:
hãy sắp kín vàng lên khu vườn thì nó thuộc về nhà ngươi.
Sáng hôm sau thức dậy ra vườn thái tử giật mình kinh ngạc
khi thấy màu vàng sáng rực lên từ khu vườn. Từ đó, nơi
ấy trở thành Kỳ Viên tịnh xá là nơi Phật Thích Ca lưu
trú thiền định và thuyết giảng suốt trong 24 năm trời.
Kỳ
Viên tịnh xá rộng chừng 2 mẫu. Nơi ấy hiện nay còn nền
bằng gạch của hương xá là nơi Phật trú ngụ. Chung quanh
hương xá là nền các tịnh thất của các ngài Anan, Cadiếp,
Cấp Cô Độc, Vô Não, Mục Kiền Liên... là những đại đệ
tử của Phật. Trong Kỳ Viên tịnh xá có một cội bồ đề
to lớn xum xuê mà khi đến đây tôi thấy vô số những đoàn
phật tử hành hương từ các nước Nhật, Hàn Quốc, Việt
Nam, Thái Lan, Miến Điện, Bangladesh, Tây Tạng... đến quỳ
lạy, ngồi thiền và dán vào gốc cây vô số những mảnh
vàng. Tương truyền rằng gốc cây bồ đề này do ngài Anan
chiết từ cây bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, là nơi Phật
Thích Ca ngồi nhập định 49 ngày để thành chánh quả, về
trồng nơi đây. Cội bồ đề ấy trở thành linh thiêng và
cuốn hút hàng vạn phật tử trên khắp thế giới về hằng
năm là vì Phật Thích Ca trong thời gian ở đây vẫn thường
hay ngồi nhập định.
Nhà
sư VN đang nghiên cứu di tích Đại học Nalanda
Cách
không xa Kỳ Viên tịnh xá là nhà của Cấp Cô Độc và Vô
Não. Cấp Cô Độc trước khi trở thành đệ tử của Phật
là một triệu phú do vậy nhà của ông to lớn nguy nga như
một lâu đài. Lâu đài đó trải qua 2.600 năm với bao tàn
phá của thời gian và con người, ngày nay vẫn còn lại khu
nền móng bằng gạch tương đối nguyên vẹn với đặc trưng
kiến trúc Ấn Độ cổ đại.
Nền
nhà còn lại của Vô Não gần đó cũng không kém phần to lớn.
Vô Não là tu sĩ của một giáo phái lạ thường, tin rằng
khi giết đủ 100 người rồi chặt đủ 100 ngón tay đeo lên
cổ thì sẽ đắc đạo. Khi gặp Phật Thích Ca ông chỉ còn
thiếu 1 ngón cuối cùng và ông muốn giết mẹ ông để lấy
ngón tay đó. Phật đã cảm hóa được ông và ông đã quay
đầu thấy bến bỏ dao giết người để trở thành đệ tử
của Phật.
Cách
đây gần 1.500 năm - năm 625 sau công nguyên - ngài Huyền Trang
sang tận đây nghiên cứu, tham quan và thỉnh kinh. Những gì
ông tìm tòi và nghe thấy được ghi chép lại trong cuốn Đại
Đường Tây Quốc Ký nổi tiếng của ông. Trước đó gần
100 năm cũng có một nhà sư Trung Quốc khác sang đây, đó là
sư Pháp Hiển. Cũng như ngài Huyền Trang, ông cũng tìm tòi
nghiên cứu và để lại dấu vết của mình khắp các nơi
mà đức Phật từng đi qua. Đó là nơi Phật ra đời: vườn
Lâm Tỳ Ni, nơi Phật tu thành đạo: Bồ Đề Đạo Tràng, nơi
Phật thuyết pháp đầu tiên: Bà La Nại, nơi Phật tịch diệt:
Câu Thi Na...
Do
vậy mà đến nhiều Phật tích tôi đều thấy có bảng ghi
nhận sự hiện diện của hai nhà sư này, đặc biệt tại
Nalanda, Trường đại học Phật giáo đầu tiên trên thế giới
ra đời cách đây trên 1.500 năm. Trường giảng dạy không
chỉ kinh Phật mà còn có các môn: Thiên văn, Thần học, Luận
lý, Y học... Theo tài liệu để lại, Trường đại học Nalanda
được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 sau công nguyên. Trường
có khoảng 2.000 giáo sư và 10.000 sinh viên, trong đó không chỉ
của Ấn Độ mà còn nhiều nơi khác đến. Có 13 học viên
của Trung Quốc và Triều Tiên đã từng học ở trường này,
trong đó có hai thầy Pháp Hiển và Huyền Trang. Hai vị sư
nổi tiếng ấy đã đến đây nghiên cứu, học tập và được
ở lại giảng dạy một thời gian dài. Khi học và dạy ở
đây thầy Huyền Trang có tên Ấn Độ là Mokshadeva. Những
ghi chép của thầy về nơi này trong cuốn Đại Đường Tây
Quốc Ký là một trong những sử liệu quan trọng về Đại
học Nalanda đồng thời là xác nhận quan trọng sự lan tỏa
và ảnh hưởng ra thế giới của nền văn minh cổ đại Ấn
Độ.
Rất
tiếc vào thế kỷ thứ 12, nạn ngoại xâm tràn đến, Trường
đại học Nalanda bị thiêu rụi. Vì quá to lớn và chứa toàn
bộ kinh sách cũng như các tài liệu giảng dạy của các môn
học, trường cháy ròng rã trong ba tháng trời. Nay trường
chỉ còn lại những nền gạch làm chứng tích. Tuy là những
nền gạch nhưng nhìn vào vẫn thấy được quy mô to lớn của
trường cũng như thấy được trình độ kiến trúc siêu việt
của người Ấn Độ cổ đại.
Huỳnh
Ngọc Chênh
(Thanh
Niên)
Đường
đến đất Phật
Kỳ
2: Lâm Tỳ Ni và Việt Nam Phật Quốc tự
Ký
sự của Huỳnh Ngọc Chênh
22:45:00,
06/12/2006
Chùa
Việt Nam Phật Quốc tự tại Lâm Tỳ Ni
Tôi
cùng đoàn du khách Việt Nam vượt qua biên giới phía bắc
Ấn Độ để đến Nêpal vào một buổi tối. Xuất phát từ
kinh thành Xá Vệ từ lúc 1 giờ trưa nhưng mãi đến 8 giờ
tối mới đến được cửa khẩu vì xe đi lạc đường. May
mắn thay, chúng tôi đến những phút làm việc cuối cùng trong
ngày của công an cửa khẩu của cả hai bên. Chúng tôi kịp
thời làm giấy tờ để cả đoàn qua được cửa khẩu trót
lọt và về đến khách sạn an toàn.
Nước
Nêpal hiền hòa nằm dưới chân dãy Hymalaya huyền thoại chào
đón chúng tôi bằng buổi bình minh tươi đẹp. Sau khi ăn sáng
chúng tôi đi bộ đến vườn Lâm Tỳ Ni ở bên kia đường,
đối diện với khách sạn mà chúng tôi ở lại qua đêm.
Mới
sáng sớm đã thấy hàng trăm du khách và phật tử từ khắp
năm châu có mặt trong vườn Lâm Tỳ Ni. Chỗ này là nhà sư
Tây Tạng vạm vỡ trong áo cà sa màu đỏ đang cùng những
phật tử của mình thực hiện những nghi lễ tôn giáo dưới
gốc cây bồ đề bên cạnh hồ nước mà hoàng hậu Maya đã
tắm trước khi hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa. Chỗ kia là
các nhà sư Nhật Bản trong sắc phục màu đen đang ngồi thiền
trước trụ bia của vua A Dục dựng lên ghi lại Phật tích.
Dưới tán cây vô ưu râm mát, nơi hoàng hậu Maya với lên
hái một cành hoa trước khi lâm bồn, là nhà sư Thái Lan đang
ngồi giảng kinh cho các đệ tử của mình. Hàng trăm nhà sư
và du khách khác thì đang xếp hàng chờ vào xem tảng đá mà
vua A Dục đặt đánh dấu chính xác chỗ hoàng hậu lâm bồn.
Sách
Đại Đường Tây Quốc Ký của ngài Huyền Trang ghi lại rằng
vương quốc của vua Tịnh Phạn có chu vi chừng 4.000 lý (1.880
km2). Cách đây 2.600 năm, vào năm 563 trước công nguyên, khi
sắp đến ngày lâm bồn, hoàng hậu Maya Devi, vợ vua Tịnh
Phạn, xin phép nhà vua cho bà rời hoàng cung trở về quê nhà
để sinh con đầu lòng theo đúng phong tục và truyền thống
xứ này. Khi rời khỏi kinh thành chừng 25 cây số, ngang qua
khu vườn tại làng Lâm Tỳ Ni, thái tử Tất Đạt Đa, người
sau này trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni đã giáng trần dưới
gốc cây vô ưu trong khu vườn xinh đẹp này.
Phật
tích quan trọng đó sẽ bị quên lãng nếu như sau đó 300 năm
không có một vị vua sùng đạo là A Dục (Asoka) cho đặt trụ
đá cao ghi lại sự tích ra đời của Phật Thích Ca cũng như
đặt viên đá xác định chính xác vị trí chào đời của
đức Phật. Rồi khoảng 1.000 năm sau vào thế kỷ thứ năm
nhà sư Pháp Hiển rồi tiếp theo sau đó là nhà sư Huyền Trang
đã đến địa điểm này và nhìn thấy trụ bia và viên đá
của vua A Dục còn tồn tại.
Nhưng
sau đó thì chiến tranh, rồi sự tàn phá của giặc giã, vườn
Lâm Tỳ Ni hoang tàn, trụ bia và viên đá bị ngã đổ và chôn
vùi xuống lòng đất mãi đến thế kỷ thứ 19 mới được
giới khảo cổ khai quật lên và dựng lại như cũ. Tuy nhiên
ngày nay, vườn Lâm Tỳ Ni thuộc vào vương quốc Nêpal với
dân chúng ở chung quanh không còn là phật tử nữa. Vườn
bị bỏ hoang phế, điêu tàn.
Nhà
sư Việt Nam Thích Huyền Diệu năm 1969 đã đến hành hương
kể lại rằng: Lần đầu tiên, khi đặt chân đến đây chiêm
bái, tôi thật sự bàng hoàng. Cảnh quan vùng đất thiêng thật
điêu tàn, chung quanh trụ đá thánh tích kỷ niệm nơi Đức
Phật đản sinh bị người dân phóng uế bừa bãi. Tôi buồn
rầu đi quanh nơi này lòng thầm khấn nguyện, nếu quả thật
đây là nơi linh thiêng và đúng là chỗ Phật đản sinh thì
xin cho tôi được nhìn thấy thánh địa phát triển trước
khi nhắm mắt từ giã cõi đời.
Lời
phát nguyện đó như một nghiệp duyên nào đó sau này đã
gắn phần còn lại cuộc đời của ông vào vùng Phật tích
quan trọng này.
Kể
từ đó, đi bất cứ nơi nào trên thế giới để thuyết giảng
kinh Phật cũng như các môn học khác ông đều nhắc lại tâm
nguyện này với các đệ tử của ông. Trong hầu hết các
bài thuyết giảng, ông đều mang Lâm Tỳ Ni của Phật giáo
ra so sánh với các thánh địa Mecca, Vatican, Benares, và Jerusalem
của lần lượt các tôn giáo: Islam, Thiên Chúa, Hindu và Do
Thái giáo.
Và
nhân ông gieo ra, đã gặt được quả: năm 1993 khi ông đang
dốc sức xây chùa Việt Nam Phật Quốc tự tại Bồ Đề Đạo
Tràng ở Ấn Độ thì có một nhóm đệ tử của ông bay đến
mời ông qua Nêpal yết kiến nhà vua của nước này để nhận
đất xây chùa gần vườn Lâm Tỳ Ni như nguyện ước của
ông.
Nhà
vua cho phi công chở ông bay trên vùng trời Lâm Tỳ Ni để
chọn đất. Ông nhận 2 mẫu đất và quyết tâm ở lại đó
xây chùa dù lúc đó trong túi ông chỉ còn vỏn vẹn 60 đô
la.
Và
ngôi chùa quốc tế đầu tiên tại thánh địa Lâm Tỳ Ni ra
đời, mở đầu cho hàng loạt các ngôi chùa quốc tế khác
lần lượt mọc lên. Vương Quốc Thái Lan xây một ngôi chùa
toàn một màu trắng tinh khiết tuyệt đẹp, Trung Quốc thì
một ngôi chùa hùng vĩ theo mô típ Thiếu Lâm tự, Nhật Bản
xây đại tháp hòa bình cùng với một thư viện và viện bảo
tàng mang tầm vóc quốc tế, Hàn Quốc thì có cả một chương
trình quy mô nhằm xây dựng một tu viện to lớn với chánh
điện chứa tới 4.000 người. Rồi chùa của Bangladesh, Tây
Tạng, Butan, Tích Lan, Mông Cổ... và cả của Đức, Pháp nữa.
Khi
đến nơi này, chúng tôi đếm được khoảng 22 ngôi chùa đã
và đang mọc lên. Những ngôi chùa này tuy được cấp đất
và khởi công sau Việt Nam Phật Quốc tự của thầy Huyền
Diệu nhưng phần lớn nhờ vào ngân sách của quốc gia nước
đó nên đã hoàn thành trước và quy mô hoành tráng hơn.
Nhờ
vậy mà Lâm Tỳ Ni ngày nay càng lúc càng trở nên hưng vượng
đến mức không ngờ, ngay cả quốc vương Birendra của Nêpal
khi còn sống cũng đã kinh ngạc trước sự phát triển nhanh
chóng một cách thần kỳ của vùng thánh địa này.
Huỳnh
Ngọc Chênh
(Thanh
Niên)
Đường
đến đất Phật
Kỳ
3: Khi đàn hạc bay về
Ký
sự của Huỳnh Ngọc Chênh
22:19:00,
07/12/2006
Vào
một buổi trưa khi xe chúng tôi đang chạy bon bon trên con đường
nhựa băng qua cánh đồng lúa rộng lớn bao quanh khu vực Lâm
Tỳ Ni, tôi chợt nhìn thấy một đôi chim khổng lồ màu xám
đang bình thản tìm ăn bên cạnh những người nông dân đang
làm ruộng. Chim này khi đứng vươn lên, cao hơn cả những
người nông dân đứng bên cạnh.
Xe
chạy một đoạn nữa tôi lại thấy một đôi chim khác cũng
y hệt. Tôi biết đây là loại chim hồng hạc vào loại quý
hiếm của thế giới, ở Việt Nam chúng ta cũng có loại chim
hạc tương tự bay về trú đông ở Tam Nông - Đồng Tháp nhưng
vóc dáng nhỏ hơn. Tôi khẩn thiết yêu cầu xe dừng lại để
chạy đến gần chụp hình vì tôi từng đến Tam Nông rình
và chờ cả một ngày nhưng chẳng được thấy một bóng chim
nào chứ đừng nói là chụp được hình. Tuy nhiên có người
nói rằng lát nữa đến Việt Nam Phật Quốc tự sẽ tha hồ
được chụp. Người ấy nói thêm: những con hạc này có ở
đây và đi đứng nhởn nhơ bên cạnh con người như vậy là
do từ thầy Huyền Diệu mà ra.
Tôi
gặp thầy Huyền Diệu ngay sau đó tại chùa Việt Nam Phật
Quốc tự. Thầy Huyền Diệu kể: "Khi mới đến Lâm Tỳ Ni
tôi nhận thấy nơi này không có nhiều loài chim. Đến năm
thứ nhì, một buổi sáng từ trong lều bạt bước ra, tôi
sửng sốt khi nhìn thấy hai con chim cao lớn lạ thường đang
đứng ngay trước lều. Tôi cao 1 mét 68 thế mà hai con chim
này lại đứng cao hơn cả tôi. Cảm giác đầu tiên là sự
khiếp sợ. Tôi vội vã bỏ chạy vào lều rồi lập tức thủ
sẵn một khúc cây để có thể tự vệ. Tôi liên tưởng đến
những con chim ăn thịt người trong truyền thuyết. Nhưng khi
quan sát kỹ, hai con chim có bộ lông xám và vòng cổ đỏ duyên
dáng này có vẻ hiền lành, ánh mắt nhìn ra chiều thân thiện,
tôi an lòng. Lát sau chúng bay đi, con trước con sau nhịp nhàng
vỗ cánh như lướt trên bầu trời với dáng vẻ cao quý đẹp
đẽ không thể tả. Tôi vào thư viện tra tự điển và khám
phá đây là loài chim hồng hạc - tên khoa học là Sarus Crane
- với chiều cao trung bình khoảng 1 mét 7 và nặng trên dưới
9 kg, là giống chim cao nhất thế giới và sống riêng rẽ từng
cặp. Quả là một hình ảnh tượng trưng cho hạnh phúc và
biểu tượng của sự hòa hợp trong cuộc sống".
Từ
đó đôi chim này luôn quấn quýt bên thầy Huyền Diệu. Rồi
dần dần nhiều cặp chim khác bay về. Chúng làm tổ và đẻ
trứng ngay trên cánh đồng chung quanh chùa Việt Nam. Dân làng
ở quanh khu vực này lại không biết sự quan trọng của loài
hồng hạc nên hay săn bắt hoặc lấy trứng của chúng. Thầy
Huyền Diệu phải mở cuộc vận động đến mọi người từ
cấp chính quyền đến người dân nói lên tầm quan trọng
của loài chim quý hiếm này. Mọi người đồng tình và lập
ra các tổ bảo vệ chim. Khi chim đẻ còn phải lập chòi gần
đó canh giữ. Nhờ vậy chim rủ nhau về càng ngày càng nhiều
hơn. Thầy Huyền Diệu cho biết hiện nay đã có đến 66 con
chim hạc đang sinh sống ở đây.
Tôi
ra vườn của chùa thấy ngay một đôi chim hạc to lớn và
xinh đẹp đang an nhàn đi lại. Vài người đến gần chụp
hình, chúng đứng yên cho chụp với cái đầu đỏ nghiêng
qua nghiêng lại trông rất duyên dáng. Có một chị phật tử
thấy chúng quá xinh xắn và hiền lành, định đến gần vuốt
ve bị chúng phản ứng ngay. Tuy vậy, với thầy Huyền Diệu
hoặc với các tăng ni khác trong chùa thì chúng tỏ ra vô cùng
thân thiện.
Trên
đường trở về khi đi ngang qua các ngôi chùa quốc tế lộng
lẫy uy nghi ở chung quanh khu vực Lâm Tỳ Ni, tôi chợt nghĩ:
những ngôi chùa này cũng như những con chim hạc cao quý và
hiền lành kia lần lượt tụ về thánh địa Lâm Tỳ Ni như
một nghiệp duyên giống như nhiều con người xa lạ từ khắp
nơi trên thế giới lần lượt tụ về đây.
oOo
Tôi
gặp rất nhiều người Việt ở vùng đất Phật. Họ đến
từ Việt Nam, từ Mỹ, từ Úc, Canada, châu Âu... Họ có thể
là tăng ni, là phật tử và cũng có thể là người dân thường.
Điều làm tôi ngạc nhiên là một số lớn trong những người
ấy sau khi qua đây một vài lần bỗng dưng phát tâm ở hẳn
lại vùng đất nghèo khó, thiếu thốn và khắc nghiệt này
- mùa nóng thì nhiệt độ lên đến 56 độ C, mùa lạnh có
khi xuống dưới 10 độ C - để tu hành hoặc làm công quả
hoặc xây chùa (đã có khoảng 10 ngôi chùa Việt Nam tại vùng
đất Phật).
Tôi
chỉ được hơn 10 ngày bước chân vào xứ sở của Phật
thế mà lòng thấy cứ tăng dần lên một cảm giác lâng lâng
sung sướng, quên hết mọi lo toan nặng nề của cuộc đời.
Cảm giác nhẹ lâng đó cứ dai dẳng trong tôi và càng lúc
càng mạnh lên đến mức tôi nghĩ rằng hay là mình cứ ở
mãi tại đây và... theo về với Phật. Tôi chợt hiểu được
tại sao có nhiều người tự nguyện ở lại. Tôi đang trở
thành như họ rồi ư?
Tôi
bỗng giật mình. Còn nhiều nhiệm vụ ở cơ quan chưa làm
xong, còn nhiều việc của gia đình phải lo toan, còn nhiều
món nợ (cụ thể) với ngân hàng phải trả... Tôi quá nặng
nợ với cuộc đời. Thế là tôi phải tiếc nuối giết chết
cái cảm giác lâng lâng sung sướng mà mình không dễ gì có
được để trở về với cuộc đời trần tục sân si của
mình.
Đường
đến đất Phật
Kỳ
4: Ấn Độ diệu kỳ
Phụ
nữ thường chỉ ra đường đông đúc vào ngày lễ - Ảnh:
H.N.C
1.
Xuống phi trường New Delhi vào buổi tối, ở lại một đêm
tại một khách sạn ngoại ô rồi tờ mờ sáng hôm sau lên
đường ra ga xe lửa cạnh đó để đi thẳng về phía thủ
phủ Lucknow của bang Uttar Pradesh, tôi chưa thấy mặt mũi của
đất nước Ấn Độ ra sao cả.
Buổi
trưa, bước ra khỏi nhà ga để vào thành phố Lucknow, tôi
không khỏi ngạc nhiên. Ấn Độ đã độc lập từ năm 1950,
đã chế được bom hạt nhân, phóng được tên lửa, là trung
tâm xuất khẩu phần mềm tin học hàng đầu thế giới...
nhưng phố phường vẫn còn lộn xộn và nhếch nhác. Người
ăn xin đầy nhà ga và ở bất cứ địa điểm có khách du
lịch nào. Quán xá hai bên đường phố nhỏ bé và luộm thuộm.
Người ta tiểu tiện bất cứ chỗ nào có thể, nhà vệ sinh
công cộng không có cửa đóng. Cạnh quảng trường ngay trước
nhà ga, có nhiều "tiệm" hớt tóc mà ghế ngồi là một cục
gạch đặt trên nền đất bẩn đầy rác. Khách hớt tóc ngồi
trên cục gạch, còn thợ thì ngồi chồm hổm phía sau để
hành nghề.
Trâu
bò ở chung với... người tại một vùng nông thôn Ấn Độ
- Ảnh: H.N.C
Trên
đường phố, những chỗ chợ búa đông đúc chỉ thấy toàn
đàn ông. Đàn bà rất ít và có thể nói là thiếu hẳn bóng
người phụ nữ nơi công cộng. Sau này, đi về các vùng quê,
ngang qua các khu chợ búa tôi cũng chỉ thấy toàn đàn ông
họp chợ. Ngồi bán cũng đàn ông, đi mua cũng đàn ông, hiếm
hoi lắm mới thấy có đàn bà ngồi bán hoặc đi mua. Ở các
quán cóc ven đường cũng toàn đàn ông ngồi bán và đàn ông
tụm lại mua, ăn trầu và ngồi lê tán gẫu.
2.
Đàn ông Ấn Độ chỉ ăn trầu và rất ít người hút thuốc.
Họ lại tuyệt đối không uống bia rượu. Chúng tôi đi suốt
12 ngày trên đất nước Ấn Độ rộng lớn từ nông thôn
về đến thủ đô New delhi mà không thấy một quán nhậu nào.
Thỉnh thoảng có gặp vài quán ăn nhưng đó là quán ăn thuần
túy chứ không phải là quán nhậu. Đến Delhi, vào các siêu
thị tôi cũng không hề tìm ra một chai bia hoặc một chai rượu
nào. Tại các khách sạn theo tiêu chuẩn quốc tế dành cho
du khách cũng khó thấy bóng dáng bia rượu, cũng không thấy
khách gọi bia rượu. Tôi thử gọi hai chai bia, mãi một lúc
lâu mới thấy phục vụ mang đến. Mở nắp ra thấy miệng
chai dính gỉ. Có lẽ bia này được đem về từ một nhà máy
nào đó xa lắm và để lâu lắm chưa có người uống. Giá
2 chai bia ngọt ngọt ấy tính ra tiền Việt là 160 ngàn đồng.
Không
uống bia rượu và hút thuốc như đàn ông Ấn Độ là điều
tốt đẹp. Có lẽ nhờ vào đó mà chúng tôi đi lại
khắp nơi trên đường phố Ấn mà không hề thấy một vụ
tai nạn giao thông hoặc một vụ xô xát, ẩu đả nào. Trong
khi đó ở Việt Nam, chỉ trong một buổi sáng đi từ TP.HCM
đến Vũng Tàu, tôi đã chứng kiến đến 3 vụ tai nạn giao
thông. Mà đường sá ở Ấn Độ thì có khi còn tệ hơn ở
VN (dĩ nhiên là không kể đến New Delhi và các thành phố lớn
khác).
3.
Có một hôm chúng tôi đi ngang qua một đền thờ Hindu vào
đúng một ngày lễ của tôn giáo này. Tôi choáng ngợp khi
thấy cơ man nào là... phụ nữ. Họ mặc đồ thật đẹp,
thật sặc sỡ, dĩ nhiên là bộ xari truyền thống, xếp hàng
để chen vào cái hồ nước rộng trước đền thờ - hầu
như trước đền thờ Hindu nào cũng có một cái hồ như vậy.
Họ đến đây để tắm theo một nghi lễ bắt buộc. Vào ngày
này, nếu người giàu sẽ đến tắm trên sông Hằng, còn những
người khác ở xa sông Hằng thì đành phải tắm trên hồ
nước trước đền thờ vậy. Dường như chỉ vào ngày lễ
phụ nữä mới ra đường.
Chúng
tôi đến núi Linh Thướu là một Phật tích quan trọng ở
bang Bihar, cũng là một địa điểm du lịch tuyệt đẹp, vào
ngày chủ nhật. Ở đây cũng có rất nhiều phụ nữ, nhưng
phần lớn là thanh niên và học sinh, đến đây vui chơi và
ngoạn cảnh. Những cô gái trẻ rất dạn dĩ, cởi mở và
hiếu khách. Vài cô nữ sinh biết chúng tôi là du khách nước
ngoài, mạnh dạn đến làm quen, bắt chuyện, cho chụp ảnh
chung một cách rất tự tin và không kém phần lịch lãm. Điều
đó chứng tỏ rằng phụ nữ Ấn Độ không đến nỗi phải
khuê môn bất xuất như kiểu phụ nữ Trung Quốc hoặc Việt
Nam thời phong kiến.
4.
Trẻ con không đi học thì trông lam lũ, nhưng học sinh lại
rất tinh tươm và sạch sẽ trong các bộ đồng phục. Trường
học từ nông thôn đến thành thị đều đàng hoàng, đặc
biệt là trường đại học. Từ Agra chạy về New Delhi, hai
bên đường tôi thấy rất nhiều trường đại học. Trường
nào cũng xây dựng tuyệt đẹp trong một khuôn viên rộng rãi
được thiết kế cẩn thận. Có những trường đại học
người ta mời các kiến trúc sư danh tiếng nhất thế giới
đến thiết kế. Như trường đại học IIM do kiến trúc sư
thiên tài Louis Kahn người Mỹ thiết kế là một tuyệt tác
về kiến trúc. Ấn Độ rất chú trọng về môi trường giáo
dục, có thể chỗ này chỗ nọ nhếch nhác nhưng trường học
thì không thể để cho nhếch nhác.
5.
Sống 12 ngày ở Ấn Độ, bên cạnh các món chay thì món
mặn duy nhất tôi được ăn là thịt gà. Người Hindu (chiếm
82%) không ăn thịt bò, nhưng lại chê thịt heo. Còn người
Islam (11%) thì không ăn thịt heo nhưng lại không dám đụng
đến thịt bò. Do vậy gà là món thịt phổ biến. Cá thì
chỉ có ở vùng ven biển mà khu vực tôi đến, nằm chung quanh
vùng thủ đô sâu trong lục địa nên cũng rất hiếm cá.
Ở
nông thôn Ấn Độ người ta sống chung và thân thiện với
trâu bò. Hầu như nhà nào cũng nuôi từ 3 đến 10 con trâu
hoặc bò. Ngành nông nghiệp của Ấn Độ đã được cơ giới
hóa, nên rất hiếm khi thấy trâu bò phải kéo xe hoặc cày
ruộng. Trâu bò được nuôi chỉ để lấy phân và lấy sữa.
Phân bò được trộn với rơm rồi nắn lại thành bánh phơi
khô để làm chất đốt. Ở thành phố thì bò đi lang thang
đầy đường, tự tìm ăn nơi các bãi rác.
Khỉ
cũng được người Ấn Độ tôn trọng nên có ở khắp nơi:
từ đền đài chùa miếu đến các cơ quan công thự, thậm
chí ở ngay tại các khách sạn sang trọng. Buổi sáng từ khách
sạn mở cửa nhìn ra, tôi thấy từng đàn khỉ "hành quân"
từ mái nhà này qua mái nhà khác. Nhà nào lơ là quên đóng
cửa sổ là chúng đột nhập vào quậy phá và trộm cắp thức
ăn. Các khách sạn đều cảnh báo khách không nên mở cửa
sổ đề phòng khỉ đột nhập. Những đàn khỉ sống tự
do trong thành phố trở thành tai họa cho người dân nước
này.
Trong
thời gian ở đây, tôi đọc trên báo chí Ấn Độ thấy người
ta đang bàn cách đối phó với lũ khỉ. Có một người phổ
biến kinh nghiệm của mình là nuôi một loài khỉ gì đó to
lớn hơn nhưng ít quậy phá hơn để làm kẻ bảo vệ chống
lại lũ khỉ kia. Anh ta nói rằng chỉ cần nuôi 2 "bảo vệ"
ấy trong nhà là lũ khỉ quậy phá không dám bén mảng đến
nữa. Nhưng có nhiều ý kiến khác phản bác sáng kiến trên
vì không khéo lại "đuổi giặc cửa trước rước giặc cửa
sau".
Người
Ấn Độ phải sống chung với bò, khỉ và cả quạ nữa. Quạ
ở đây nhiều vô kể, nhiều lúc chúng bay rợp trời, con nào
cũng to lớn và mập mạnh. Có lẽ chúng phát triển hưng thịnh
nhờ vào thịt trâu bò chết. Thử tưởng tượng, 100% hộ
nông thôn ấn Độ đều nuôi trâu bò. Nuôi cho đến già chết
thì mang đi chôn hoặc vứt ra đồng. Quạ phát triển đông
đúc là nhờ thu dọn những xác chết này.
6.
Đại đa số người dân nông thôn Ấn Độ sống còn rất
thiếu thốn. Nhà cửa nhỏ bé chen chúc, thiếu điện, thiếu
nước sạch. Nhà ở nông thôn ấn Độ không giống như ở
nông thôn VN là có vườn tược rộng rãi. Đa số nhà
đều xây bằng gạch đúc mái bằng, nhưng lại rất nhỏ hẹp,
chen chúc bên nhau, không có hiên, nếu có chút sân thì lại
dùng làm chỗ ở cho trâu bò, là nơi chứa phân... Chúng tôi
đi qua nhiều làng mạc, thị trấn không hề thấy ăng-ten mọc
lên trên mái nhà. Giới bình dân ở thành thị cũng không hơn
gì nhiều. Thế nhưng nhìn vào nét mặt người Ấn gần như
không thấy ai lộ ra vẻ lo lắng, buồn khổ hay bức xúc. Họ
có cái vẻ gì đó yêu đời và rất bình thản. Thiếu thốn
vật chất và tiện nghi sinh hoạt không làm cho họ quá bận
tâm.
Họ
lại tỏ ra hiền hòa và hiếu khách, buôn bán tuy nói thách
rất cao nhưng không chèo kéo khách hàng, không tỏ ra giận
dữ khi khách hàng trả quá rẻ hoặc bỏ đi không mua khi đã
đồng ý bán. Rất hiếm khi thấy họ giận dữ và cãi vã
xô xát với nhau. Người Ấn Độ dù có bị che lấp bên ngoài
cái vẻ lam lũ, vẫn thấy toát ra một cái gì đó cao quý mà
chỉ có thể có được ở một dân tộc lớn với nền
văn minh tầm cỡ và lâu đời.
Tôi
chợt nghĩ đến Phật Thích Ca, tư tưởng hiền hòa của ông
lại chinh phục được nước Trung Hoa kiêu ngạo ngày xưa vốn
xem mình là trung tâm của nhân loại. Tôi nghĩ đến Thánh Gandhi,
với phương cách hành xử hiền hòa mà ông dạy cho dân, lại
đẩy được ra khỏi Ấn Độ kẻ xâm lược hùng mạnh, luôn
không muốn cho mặt trời được phép lặn trên đế quốc
của mình.
Ấn
Độ diệu kỳ là như thế đó.
Ký
sự của Huỳnh Ngọc Chênh
(Thanh
Niên)
Đọc
thêm:
Thiên
Trúc Tiểu Du Ký, Thiên Phúc
Ngôi
Chùa Việt Đầu Tiên Trên Đất Phật, Thanh Bình
Đại
Đường Tây Vức Ký, Pháp Sư Huyền Trang - Thích Như Điển
Việt dịch
Sự
Tích Tây Du Phật Quốc, Nhẫn Tế Thiền Sư