3.
NÚI POTALA
CÕI
THUẦN TỊNH CỦA ĐỨC AVALOKITESHVARA
Kính
lễ Đấng Bi Mẫn Siêu Việt, Avalokiteshvara, kho tàng vĩ đại
của lòng bi mẫn.
Mặc
dù cô gái này không thể nói như cô nên nói, tôi có nên thuật
lại cho các bạn một tường thuật ngắn về Núi Potala hay
không?
Cõi
được gọi là Núi Potala nằm ở phía đông nam của Bodh Gaya
(Bồ Đề Đạo Tràng) ở Ấn Độ. Toàn thể vùng này phủ
đầy những bông hoa tươi đẹp, và những cây như ý bằng
châu báu phát triển ở đó. Những con suối sủi bọt cam lồ,
và những đàn chim véo von tuyên thuyết Giáo Pháp. Mọi người
đều sinh ra từ những đóa hoa và không có thay đổi thời
tiết từ hạ sang đông. Ngay cả ý niệm về đau khổ cũng
không có, trong khi kinh nghiệm về hỉ lạc và hạnh phúc thì
vô biên.
Các
Bồ Tát nam và nữ đã đạt một cấp độ chứng ngộ vững
chắc, vui hưởng thực phẩm tuyệt vời một trăm vị, mặc
y phục bằng vải sắc-cầu vồng, và uống cam lồ của các
vị trời. Các ngài đã thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử, phụng
sự các Đức Tathagata1 và nghe Giáo Pháp từ chính Đấng Bi
Mẫn Siêu Việt. Dòng tâm thức các ngài được giải thoát
nhờ lòng bi mẫn vô biên của các ngài. Các ngài tắm trong
những cái hồ đầy nước có tám phẩm tính.2
Ở
đây tôi tìm thấy một tòa lâu đài đẹp tuyệt vời, tự-xuất
hiện và hình thành tự nhiên, tường làm bằng năm lớp3 riêng
biệt. Nó trong mờ cả trong lẫn ngoài, được nâng đỡ bằng
một ngàn cây cột pha lê và được tô điểm bởi những đà
mái bằng châu báu. Nó được trang hoàng với những cái rèm
ánh sáng cầu vồng, như thể được thắp sáng bởi một ngàn
mặt trời và mặt trăng. Những đà tường làm bằng lam ngọc,
đầu tường bằng san hô, những bậc thang bằng ngọc trai.
Vây quanh dinh thự làm bằng năm loại châu báu này là một
bậc thềm thấp bằng hồng ngọc, trên đó nhiều ngàn thiên
nữ cúng dường nhảy múa vui đùa. Phía trên là một mái vòm
bằng vàng, với những chiếc dù bằng lụa trắng và một
Pháp luân có nai quỳ gối và lắng nghe ở hai bên.4 Ở bốn
bên của lâu đài là những miệng máng xối có đầu makara,5
những sợi dây bằng ngọc trai treo từ miệng chúng với những
cái chuông và chuông chùm nhỏ xíu phát ra những âm thanh thú
vị.
Bốn
phía của tòa lâu đài được trang trí bằng bốn cửa. Tôi
đi vào cửa phía tây và gặp một thiên nữ giác tánh nguyên
sơ. Đi sâu vào trong, tôi thấy vô số của cải và nhữngï
niềm vui dạt dào, như thể đang ở trong một ảo giác. Vô
số vật cúng dường được sắp xếp, thậm chí còn vượt
hơn cả của cải của những đại thiên trong cõi trời
Nirmanarati.6
Ở
giữa những thứ này, trên một hoa sen trắng trăm ngàn cánh
nở lớn, là Đức Avalokiteshvara cao quý, bậc điều phục chúng
sinh bi mẫn tối thượng, với vẻ thanh xuân của một thiếu
niên mười sáu tuổi. Thân Ngài có sắc trắng chói lọi, một
mặt và bốn tay. Đôi bàn tay thứ nhất chắp lại nơi tim
và cầm một viên ngọc, bàn tay phải của đôi tay thứ hai
cầm một chuỗi hạt pha lê và bàn tay trái cầm một cành
huệ trắng rực rỡ cạnh tai Ngài. Tôi bị thu hút bởi những
tướng chính và phụ trên thân tướng toàn hảo của Ngài.7
Ngài mặc y phục bằng lụa và những vật trang sức bằøng
những châu báu khác nhau, trên vai choàng bộ da của một linh
dương krisnasaranga8 trùm qua phía trái ngực. Ngài ngồi chéo
chân trong tư thế kim cương,9 thân Ngài sáng chói lọi với
vô số tia sáng. Trong tâm tôi, Ngài không khác với ngài Drimed
Khakyod Wangpo, Lạt ma gốc của tôi.
Bên
phải Đức Avalokiteshvara là Manidhara, Bậc Hộ trì Bảo Ngọc,
trưởng tử siêu phàm của Ngài; bên trái là con gái Ngài,
Vidyadhari, Bậc Hộ trì Thần chú của Giác tánh; phía sau Ngài
là Đấng bảo trợ, Đức Phật Amitabha; và trước mặt Ngài
là vị phối ngẫu siêu phàm của Ngài, Đức Shadakshari, Thiên
nữ của Thần chú Sáu-Âm. Đoàn tùy tùng của Ngài chỉ gồm
những bậc trưởng thượng tâm linh là những vị đã đạt
những cấp độ chứng ngộ cao quý, tập hội không thể nghĩ
bàn chư Phật và Bồ Tát.
Đức
Tara, bạn đồng hành của tôi nói:
Cung
điện này là một xứ sở được tô điểm bằng hoa.
Cõi
giới này là một lâu đài quý báu rộng lớn vô biên.
Bổn
tôn này là Bổn tôn của lòng bi mẫn của tất cả các Đấng
Chiến Thắng.
Quyến
thuộc này là một đoàn tùy tùng gồm các Bồ tát nam và nữ.
Con,
cô gái may mắn, nên lễ lạy và cúng dường với lòng sùng
mộ.
Hãy
tụng đọc những lời nguyện ước để có một liên hệ
nghiệp tích cực.
Lòng
tôi tràn ngập sự kính sợ và hoan hỉ, và bắt đầu lễ
lạy, khẩn cầu. Tôi nói:
Đức
Avalokiteshvara Bi Mẫn,
hóa
hiện những tia bi mẫn khắp mười phương,
con
đảnh lễ Ngài, đấng bất khả phân với Lạt ma siêu phàm
của con, và bất khả phân với quyến thuộc của Ngài.
Con
cúng dường tập hợp những vật cúng dường vô song, thực
có và tưởng tượng.
Với
sự hối tiếc chân thành, con sám hối những ác hạnh và vi
phạm giới nguyện của con,
và
hứa không làm những điều đó trong tương lai.
Con
tùy hỉ năng lực đức hạnh vô tận.
Con
khẩn cầu Ngài trụ thế mãi mãi, không thị nhập Niết Bàn,
và
liên tục chuyển Pháp luân rộng lớn, sâu xa.10
Con
hồi hướng công đức tích tập được để tất cả chúng
sinh trong sáu loài, vô biên như không gian,
có
thể nhanh chóng đạt được trạng thái của Ngài, Ôi đấng
cao quý siêu phàm.
Con
khẩn cầu Ngài, trong mọi cuộc đời, xin ban cho con ân phước
siêu việt nhất
không
bao giờ xa lìa Ngài, Đấng Bi Mẫn Siêu Phàm.
Khi
tôi khẩn cầu như thế trong trái tim tôi, Đức Bi Mẫn cao
quý mỉm cười, khuôn mặt rạng rỡ, và tôi nghe những
lời sau đây, trong những âm thanh du dương, dịu dàng, Pháp
âm của Ngài rung động tự nhiên và vang rền tới toàn thể
mạn đà la của đoàn tùy tùng:
Om
mani padme hung hri.
Lạt
ma của ta chính là lòng bi mẫn siêu phàm.
Ta
chính là Bổn tôn hiện thân tự nhiên của lòng bi mẫn của
tất cả các Đấng Chiến Thắng.
Hoạt
động giác ngộ của ta trải rộng tới mọi chúng sinh, đối
tượng của lòng bi mẫn,
và
với sự xót thương, ta đặc biệt chăm sóc mọi chúng sinh
trong cảnh khốn cùng.
Con,
con gái ta, cũng có tâm hồn bi mẫn như thế,
giờ
đây may mắn được gặp ta trong cõi này.
Tất
cả những ai lễ lạy và tôn kính ta với niềm tin và lòng
sùng mộ
Ta
sẽ đưa dẫn tới Cõi Cực Lạc, nhờ nguyện lực trước
đây của ta.
Nhờ
năng lực lòng bi mẫn của ta, chúng sinh vô biên như không
gian trong sáu trạng thái,
và
đặc biệt những người ở Tây Tạng, Xứ Tuyết,
có
thể tạo mối liên hệ với ta nhờ nghe danh hiệu và lễ lạy
ta với đức tin,
và
ta sẽ chăm sóc họ với lòng bi mẫn, bởi ta được gọi là
Mahakarunika, Đấng Bi Mẫn Siêu Phàm.
Đặc
biệt những ai không có khả năng tự vệ, suốt sáu thời
ngày và đêm11
ta
chăm sóc với lòng bi mẫn, đôi mắt giác tánh nguyên sơ của
ta không bị ngăn che.
Ta
thấu hiểu tất cả họ và ban tặng những con người nhỏ
bé này sự nương tựa cuối cùng từ khổ đau của họ,
bởi
ta được gọi là Avalokita, Đấng có Đôi Mắt Thấu suốt.
Thiền
định về thân tướng của ta, niệm danh hiệu ta, trì tụng
tâm chú của ta,
và
cử hành nghi lễ chay của ta – những ai nỗ lực trong những
thực hành này,
mặc
dù có thể họ đã phạm một hành vi cực kỳ tàn ác đưa
tới quả báo lập tức vào lúc chết,
ta
sẽ dẫn họ tới Cõi Cực Lạc, bởi ta được gọi là Lokeshvara,
Đấng của Thế Giới.
Bởi
nguyện lực kiên quyết từ lâu xa của ta là đưa dẫn mà
không dụng công
tất
cả chúng sinh nào nhìn thấy ta, nghe ta nói, tưởng nhớ tới
ta, hay tiếp xúc với ta
tới
những hàng thính chúng của Đức Phật Amitabha trong Cõi Cực
Lạc,
các
Đấng Chiến Thắng đã tuyên xưng ta là Khorwa Rangdrol, Sự
Giải thoát Tự Nhiên khỏi Luân Hồi Sinh Tử.
Than
ôi! Trong những ngày cuối cùng này của Giáo Pháp của Đấng
Chiến Thắng12
mặc
dù ta chăm sóc chúng sinh với lòng bi mẫn rộng lớn hơn bao
giờ hết,
nhưng
như thể giây buộc chiếc móc bi mẫn của ta đã đứt.
Bởi
năng lực ngoan cường của ác hạnh, nhiều người đã mất
niềm tin và lòng sùng mộ.
Dường
như họ vuột khỏi cái nhìn bi mẫn của ta.
Giống
như ánh sáng mặt trời không lọt vào hang quay về hướng
bắc,
họ
bị đoạt mất sự hiện diện của ta, lòng bi mẫn hiển nhiên
của tất cả các Đấng Chiến Thắng.
Trong
khi lòng bi mẫn của ta thì không định kiến hay thiên vị,
nhưng
bởi tập khí ương ngạnh của họ, những niệm tưởng không
thích đáng tự bản chất,
chúng
sinh cứ mãi lang thang trong vực sâu tăm tối của những con
đường ti tiện và những trạng thái tái sinh thấp kém.
Nhận
ra rằng tình huống của họ do họ tự tạo, lỗi lầm nằm
nơi chính họ,
trong
sự chăm sóc của ta, ta tìm thấy những người bơ vơ thực
sự xứng đáng với lòng bi mẫn của ta.
Thời
đại trở nên tồi tệ khi bệnh tật, vũ khí, và nạn đói
hành hạ họ;
thọ
mạng của họ ngắn lại bởi ma quân bất thần mang họ đi;
ngôn
ngữ của họ thoái hóa bởi họ trở nên lanh lợi trong việc
lọc lừa người khác;
thực
phẩm của họ hư hỏng bởi họ dấn mình vào những cách
sinh nhai tà vạy;
cái
thấy của họ suy đồi bởi họ lao mình xuống vực thẳm
của học thuyết vĩnh cửu và hư vô.13
Mặc
dù bàn tay Đấng Chiến Thắng muốn ngăn họ lại, nhưng không
dừng họ lại được.
Chắc
chắn là họ phải chịu đau khổ trong sự thèm khát, có phải
thế không?
Họ
thật đáng thương với ác nghiệp của họ, khi theo đuổi
những gì họ cho là lạc thú.
Giờ
đây các con, Ôi dân chúng Xứ Tuyết, những kẻ tự thiêu
đốt thịt da mình,
bởi
nỗi khổ của các con chỉ do một mình các con sắp đặt,
chỉ một mình các con bảo đảm, và chỉ hành hạ một mình
các con,
hãy
nhớ lại lỗi lầm che dấu to lớn đã phạm trong quá khứ,
bởi nghiệp và những cảm xúc phiền não.
Đã
tới lúc để ban cho các con vài lời khuyên.
Chỉ
một lần duy nhất trong một quãng thời gian rất dài, các
con mới có được nơi nương tựa này với sự tự do
và cơ hội.14
Bây
giờ là lúc các con có thể gặp được các thiện tri thức
và thực hành Phật Pháp linh thánh,
và
những hoàn cảnh thuận lợi cùng tụ hội, hãy sử dụng phần
đời còn lại của các con trong chính con đường này.
Nếu
ngay lúc này các con đầm mình trong vũng lầy của nghiệp hay
những cảm xúc phiền não,
các
con sẽ gây nên đau khổ trong tương lai ở những trạng thái
tái sinh thấp kém
là
nơi khó tìm ra ngay cả cơ hội để nghe danh hiệu của Tam
Bảo.
Những
thuộc hạ khiếp sợ của Yama, Thần Chết, sẽ tới lúc nào
các con không biết.
Một
khi tâm thức các con đã có được sự hỗ trợ này,
hãy
thận trọng thực hành cốt tủy của Thánh Pháp.
Phật
Pháp không hiện hữu chỉ vì lợi ích bề ngoài nhằm bảo
vệ các con khỏi nỗi sợ và đáp ứng mọi ước muốn của
các con;
nó
không đơn thuần là sự đạo đức giả như thế, vì vậy
hãy nhìn vào tâm vô đạo đức của các con.
Giờ
đây, khi các con đã sở hữu một nền tảng cho sự tự do
trong một cõi giới đức hạnh,
các
con đã có những hột giống của lương tri đạo đức không
lầm lạc để tích tập đức hạnh.
Hãy
sử dụng ba điều – chánh niệm, tỉnh giác, và chú tâm –
là nước và phân bón của đức hạnh,
thiền
định về lẽ vô thường, nó làm tăng trưởng đức hạnh.
Hãy
bắt đầu vun trồng đức hạnh với lòng sùng mộ và nỗ
lực liên tục.
Niềm
tin và sự trông cậy là gốc rễ của đức hạnh.
Lòng
vị tha bi mẫn là thân của đức hạnh.
Bồ
Đề tâm ước nguyện và Bồ Đề tâm thực hành là cốt lõi
của đức hạnh.
Sáu
toàn thiện (sáu ba la mật) là những nhánh và cành15 của đức
hạnh.
Ý
hướng, hồi hướng đức hạnh của riêng con, và hoan hỉ
trước đức hạnh của người khác là lá của đức hạnh.
Bốn
phương pháp ảnh hưởng tốt đẹp tới người khác là hoa
của đức hạnh.16
Và
tánh Không và lòng bi mẫn siêu phàm là trái của đức hạnh.
Nếu
cây đức hạnh cao quý được vun trồng theo cách này,
nó
sẽ đem lại những trái quả nuôi dưỡng các con và những
người khác, bây giờ và mãi mãi;
đó
là tính chất không thể sai lạc của sự tương thuộc của
các pháp.
Không
có phương tiện bảo vệ giống cây đức hạnh tích tập cao
quý,
những
đức hạnh này sẽ liên tục bị hư hỏng trong bardo.
Ngu
xuẩn phủ nhận nhân và quả, từ bỏ Giáo Pháp, và làm hư
hỏng giới luật tâm linh của các con là trận sương giá dữ
dội giết chết đức hạnh.
Gây
gổ, sân hận, thù hằn, và ganh tị
là
trận mưa đá hung tợn làm hư thối trái quả của đức hạnh.
Tham
luyến thanh danh và lợi dưỡng, và liên tục bị mắc bẫy
trong đời sống của gia chủ
là
những con sâu đục khoét các con tự bên trong, cướp đoạt
gốc rễ đức hạnh của các con.
Báng
bổ hay sỉ vả các Lạt ma và Bồ Tát
bởi
sự tự phụ, kiêu căng, và ngạo mạn thái quá
là
một cơn khô hạn dữ dội làm hư hỏng những đức hạnh
tích tập được của các con.
Hậu
quả không tránh khỏi của tất cả những điều này là sự
phát triển mạnh mẽ nỗi khổ;
nó
là kẻ thù vĩ đại của tài sản đức hạnh mà các con đã
thâu thập.
Các
pháp đối trị cho những điều này là ba loại trí tuệ siêu
việt,17
niềm
tin kiên định vào bốn phẩm tính,18
sự
hoan hỉ trước thành công của người khác,
quán
chiếu sâu xa về lẽ vô thường, nhàm chán vòng luân hồi
sinh tử, và sự từ bỏ,
chế
ngự tánh kiêu ngạo, và tu tập trong một quan điểm thiêng
liêng không thành kiến,
Chớ
bao giờ rời xa những lá chắn và sự bảo vệ này.
Ban
đầu, được thúc đẩy bởi niềm tin, lòng sùng mộ, và lòng
bi mẫn.
Hãy
giữ các giới luật tạm thời của những thệ nguyện tám
nhánh.19
Hãy
nhất tâm từ bỏ những phóng dật thuộc ba năng lực20 của
các con.
Bất
kỳ những gì xuất hiện đều là sắc tướng của Avalokiteshvara,
nơi Ngài tất cả các Đấng Chiến Thắng hợp nhất;
âm
thanh nghe được là âm thanh của thần chú tinh túy sáu-âm;
sự
vắng mặt bất kỳ cấu trúc nhận thức nền tảng nào là
phạm vi hoạt động không tạo tác của Bồ Đề tâm.
Đừng
bao giờ lìa xa ba điểm trọng yếu này;
hãy
liên tục trì tụng lớn tiếng thần chú sáu-âm – chỉ mình
điều đó là đủ.
Hãy
cùng nhau thâu thập đức hạnh mà các con và những người
khác tích tập trong ba thời,
và
sử dụng tất cả chúng như một nguyên nhân nhờ đó tất
cả chúng sinh nhanh chóng thành tựu Phật Quả,
hãy
theo gương các Đấng Chiến Thắng và những bậc kế thừa
của các Ngài với những lời cầu nguyện hồi hướng và
ước nguyện;
chủ
đề hợp nhất này giống như một dây cương dẫn dắt một
con ngựa tốt.
Nếu
các con nỗ lực liên tục trong bốn loại thực hành đức
hạnh,
vào
giờ chết, ta sẽ đưa dẫn các con trong một trạng thái cực
kỳ hoan hỉ
tới
cõi Cực Lạc thuần tịnh.
Hãy
nói với dân chúng Tây Tạng rằng chớ có nghi ngờ điều
này.
Đừng
do dự! Đây là lời khuyên thương yêu và chân thành của ta.
Đừng
bám chấp vào đời này; nó giống như một giấc mộng dễ
chịu.
Đừng
bị cám dỗ bởi cái xấu; điều ác hại mà các con có thể
tự gây cho mình không có lúc chấm dứt.
Đừng
củng cố tám ảnh hưởng thế tục;21 các con sẽ chỉ lừa
gạt chính mình.
Đừng
tạo lập mọi thứ kế hoạch; nhớ rằng các con có thể chết
ngày mai.
Hãy
cần mẫn hiến dâng năng lực ba phần22 cho Thánh Pháp.
Đây
là sự tốt lành vĩ đại nhất mà toàn thể dân chúng Tây
Tạng tự họ có thể làm.
Nếu
các con có một thái độ thiện lành toàn hảo như thế,
hãy
liên tục trì tụng thần chú mani và tare
và
khuyến khích mọi người thực hành đức hạnh trong bất kỳ
cách nào các con có thể.
Về
sau, các con có thể đi tới mọi cõi thuần tịnh mà các con
ước nguyện.
Con
không xa lìa ta, con gái, vì thế hãy hoan hỉ.
Nghe
những lời này, tôi đã trải nghiệm một niềm tin siêu phàm,
hỉ lạc, và để khẩn cầu Đức Bi mẫn ban phước, tôi đọc
bài kệ sau:
Đức
Avalokiteshvara, bất kỳ sắc tướng nào của Ngài,
bất
kỳ quyến thuộc, thọ mạng, và cõi thuần tịnh nào của
Ngài,
và
bất kỳ phẩm tính cao quý nào của Ngài,
cầu
mong con và những người khác hoàn toàn giống như Ngài.23
Chắp
hai bàn tay lại, tôi hỏi rằng sau này tôi có được gặp
lại Ngài nhiều lần hay không. Đấng cao quý trả lời:
Những
ai gìn giữ một thái độ quan tâm với lòng sùng mộ,
ta
sẽ hiện diện trước mặt họ;
ta
ban cho họ lễ quán đảnh và các ân phước.
Chớ
có hoài nghi điều này, Ôi người nữ của Tara.
Tôi
cảm thấy một sự xác tín lớn lao chưa từng có về tính
chất chân thật của những lời này. Tôi nhiễãu quanh Đấng
Chiến Thắng ba lần, đi xung quanh sân trong tòa lâu đài nguy
nga của Ngài trong khi đọc bài kệ sau:
Trong
mọi cuộc đời, cầu mong con không bao giờ xa lìa Lạt ma,
Pháp vương của các đấng cao quý.
Cầu
mong con vui hưởng sự tráng lệ của Pháp,
hoàn
thiện các phẩm tính của con đường và cấp độ.
Cầu
mong con mau chóng đạt được trạng thái của Đức Avalokiteshvara.24
Ở
đây tôi sẽ đưa ra một ít luận giảng dựa trên Kinh điển
để làm tăng thêm vẻ đáng tin cậy cho những điều tôi vừa
thuật lại.
Đức
Avalokiteshvara cao quý và tôn kính biểu lộ lòng bi mẫn của
tất cả các Đấng Chiến Thắng. Hằng hà sa số kiếp về
trước, chính trong thế giới này, trong một đại kiếp tên
là Graha có một vị đại đế có danh hiệu là Aranemi, ông
có một ngàn người con trai. Người con trai cả tên là Animisha,
là người đầu tiên phát khởi thái độ giác ngộ Bồ Đề
tâm trước sự hiện diện của Đức Như Lai Ratnagarbha (Bảo
Tạng Như Lai).
Có
một lần, ngài nghĩ tưởng tới tất cả chúng sinh trong sáu
trạng thái tái sinh với lòng bi mẫn, đặc biệt ngài đã
nguyện: “Cầu mong chúng sinh không được giúp đỡ, bị lâm
vào cảnh khốân khổ, dính mắc trong nhân quả, sẽ lập tức
thoát khỏi đau khổ nhờ nhớ tưởng tới tôi hay niệm danh
hiệu của tôi. Cầu mong tôi không bao giờ đạt được sự
toàn giác cho tới khi tôi chấm dứt mọi nỗi khổ đau của
chúng sinh.”
Khi
Ngài đã viên mãn hoạt động sâu xa và rộng lớn của Ngài,
Ngài mang danh hiệu Avalokiteshvara, một Bồ Tát vĩ đại và
dũng cảm. Có tiên tri rằng trong tương lai, trong cõi Sukhavati-padmapradesha,25
với tư cách là nhiếp chính của Đấng Chiến Thắng siêu
phàm Amitabha (Đức Phật A Di Đà), Ngài sẽ giác ngộ là Đức
Như Lai Rashmisamudra-shrikutaraja và thành tựu lợi ích to lớn
hơn cho chúng sinh. Phù hợp với lời nguyện được tiên tri
này, Ngài làm việc thậm chí còn mạnh mẽ hơn vì lợi ích
của chúng sinh trong sáu loài nói chung và đặc biệt là chúng
sinh ở Xứ Tuyết Tây Tạng. Như Kinh Hoa Sen Trắng của Thánh
Pháp nói:26
Bồ
Tát Akshayamati (Bồ Tát Vô Tận Ý) kính bạch Đấng Chiến
Thắng, Đức Phật Toàn Giác, Đấng Thế Tôn, hỏi rằng: “Đức
Thế Tôn, vì sao vị ấy được gọi là Avalokiteshvara?”
Đức
Thế Tôn trả lời: “Chỉ nhờ nghe danh hiệu của Đức Avalokiteshvara
mà hàng tỉ tỉ chúng sinh đang phải chịu đựng đau khổ
sẽ hoàn toàn thoát khỏi những gánh nặng đau khổ không thể
chịu đựng nổi. Bất kỳ khi nào chúng sinh bị đe dọa bởi
lửa, nước, thuốc độc, vũ khí, thú dữ, những yêu tinh
dạ xoa ác hại, quỷ ma, sự tù đày, trộm cướp v.v.. họ
sẽ được cứu thoát. Họ sẽ thoát khỏi năm độc của những
cảm xúc phiền não và thoát khỏi mọi phương cách hãm hại.
Nếu họ chỉ lễ lạy Ngài với đức tin trọn vẹn, mọi
mục đích của họ không loại trừ điều nào sẽ được
thành tựu tự nhiên.”
Kinh
Quý báu về Dãy Bình (Kinh Đại thừa Trang Nghiêm Bảo Vương)
nói:27
“Bồ
Tát Nivaranavishkambhin (Trừ Cái Chướng) hỏi rằng vẻ vô cùng
chói lọi của những năng lực kỳ diệu phi thường của Bồ
tát của lòng bi mẫn siêu phàm thì giống điều gì.
Từ
kim khẩu của Đức Như Lai phát ra những lời này: “Đức
bi mẫn Avalokiteshvara đem chúng sinh trong các cõi địa ngục
tới chỗ thuần thục tâm linh viên mãn. Khi đã mang hình tướng
của một vị đại đế an trụ hoàn toàn thoải mái tại một
khu rừng an lạc trong kinh thành của các ngạ quỷ, Ngài mang
lại một sự mát mẻ dễ chịu cho những người bị lửa
nóng hành hạ và biến hầm lửa thành những ao sen.
“Bằng
cách tung rải và phân bổ lính canh trong các địa ngục, Ngài
làm cho Thần Chết, Dharmaraja, lễ lạy và liên tục tán thán
ngài. Ngài cũng làm dịu mát kinh thành của các ngạ quỷ và
làm yên dịu những đám mây mưa đá kim cương.
“Hơn
nữa, những quân lính bảo vệ kho tàng,28 nhận thấy những
thái độ thô lậu của họ được thuần hóa và bắt đầu
phát khởi Bồ Đề tâm. Mười con sông lớn chảy ra từ mười
ngón tay và bốn mươi con sông lớn khác chảy từ mười ngón
chân Ngài. Những hạt suơng chảy ra từ những lỗ chân lông
của đấng có một trái tim thương yêu, nhỏ xuống các ngạ
quỷ. Chỉ nhờ nếm những giọt sương này mà cổ họng của
họ được nghỉ ngơi, thân họ trở nên mạnh mẽ và toàn
hảo, và họ được thỏa mãn với thực phẩm hàng trăm vị
của các vị trời. Đức hạnh của những hành giả của Pháp
đang cư ngụ trên trái đất khiến cho các ngạ quỷ hết sức
hỉ lạc trong Giáo Pháp và Pháp âm Đại thừa xuất hiện
trong cõi giới của họ. Vào lúc này, hai mươi ngọn núi sừng
sững của quan điểm hư vô bị chày kim cương giác tánh nguyên
sơ đập tan tành, rồi những ngạ quỷ này được tái sinh
trong Cõi Cực Lạc, ở đó họ trở thành các Bồ Tát phù
hợp với ước nguyện của họ và được làm cho thuần thục.
“Theo
cách này, mỗi ngày Ngài đưa hàng tỉ không thể tính đếm
chúng sinh tới sự viên mãn. Đó là sự xác quyết của Đức
Avalokiteshvara mà ngay cả các Đức Như Lai vẫn còn thiếu.”
Vì
lợi ích của những người được thuần phục, tùy theo tánh
khí, năng lực, và động lực của riêng họ, trong sáu thời
ngày và đêm, Đức Avalokiteshvara hóa hiện làm chư Phật, Bồ
Tát, Thanh Văn (shravaka), Phật Độc Giác (pratyekabuddha), các
vị trời, các nhạc sĩ cõi trời, các yêu tinh dạ xoa (yaksha),
Ishvara (Tự tại thiên), Maheshvara (Đại Tự tại thiên), các
vị đại đế, những quỷ ma khát máu, chúng sinh có thân tướng
siêu phàm, những người Bà la môn, và Đức Vajrapani (Kim Cương
Thủ) và giảng dạy Pháp.29
Hơn
nữa, thậm chí chỉ gọi tên Ngài một lần thì giốõng như
niệm danh hiệu chư Phật nhiều lần như cát sông Hằng. Tương
tự như vậy, tô tạo một pho tượng Đức Avalokiteshvara thì
ngang bằng việc tô tạo những hình tượng của tất cả chư
Phật và Bồ Tát đã xuất hiện, đang, và sẽ xuất hiện
trong ba thời. Thiền định trong một ngày về thân tướng
của Đức cao quý Avalokiteshvara có công đức to lớn hơn việc
thực hành sáu toàn thiện (sáu ba la mật) trong một trăm năm.
Đây là một vài trong những phẩm tính không thể nghĩ bàn
của Bồ Tát.
Về
những lợi ích và thuận lợi của việc trì tụng dharani30
của Đức Avalokiteshvara mười-một mặt (Quán Thế Âm Thập
nhất diện), ta được biết là cuối cùng thì hành giả sẽ
hoàn toàn làm chủ bốn phẩm tính tốt: Vào lúc chết, hành
giả sẽ nhìn thấy các Đức Như Lai; hành giả sẽ không tái
sinh trong các cõi thấp; sẽ không gặp giờ chết dữ; và sau
khi chết ở thế giới này, hành giả sẽ được tái sinh trong
Cõi Cực Lạc.
Nhờ
sáu-âm của thần chú mani, tất cả các Kinh điển của Phật
Pháp được đúc kết; mọi bệnh tật, thế lực xấu, và
những chướng ngại đều bị xua tan; hành giả đạt được
vô số phẩm tính tích cực như sự trường thọ và thoát
khỏi bệnh tật; nỗi khổ của sáu loài chúng sinh được
làm yên dịu; sáu toàn thiện (sáu ba la mật) được hoàn tất;
và các kaya (thân) của sáu Đấng Chiến Thắng được thành
tựu. Tóm lại, chỉ cần nhìn, nghe, nhớ tưởng, hay xúc chạm
sáu âm này là đã gieo trồng hạt giống của sự giác ngộ.
Mọi che chướng đều được nhanh chóng tịnh hóa và hành
giả tránh được sự tái sinh trong các cõi thấp. Sau khi trải
qua một loạt những tái sinh cao quý trong các cõi cao, hành
giả nhanh chóng đạt được giác ngộ viên mãn.
Chỉ
cử hành nghi thức chay của Đấng Bi Mẫn Siêu Phàm một lần,
hành giả giải trừ được bốn mươi ngàn kiếp lang thang
trong luân hồi sinh tử và tịnh hóa tất cả các nghiệp và
các che chướng do những hành động như năm hành vi đưa tới
quả báo trực tiếp.31 Khi hoàn thiện mọi phẩm tính tích
cực của sáu toàn thiện, hành giả an trú trong cấp độ của
một Bồ Tát bất thối chuyển. Những người nữ cũng thế,
những ai cử hành dù chỉ một lần duy nhất nghi thức chay
này, khi chết sẽ được tái sinh như những Bồ Tát chứng
ngộ cao cấp và quay lưng lại vòng luân hồi sinh tử. Sự
thực hành của thân hành giả trong nghi thức chay sẽ tịnh
hóa các che chướng thuộc thân, và hành giả không bị tái
sinh làm một ngạ quỷ. Việc tự chế sự nói năng bằng lời
nguyện giữ yên lặng tịnh hóa các che chướng thuộc ngữ,
và hành giả sẽ không bị tái sinh làm một súc sinh. Việc
trì tụng đà ra ni trong tâm tịnh hóa các che chướng thuộc
về tâm và đóng lại cánh cửa dẫãn tới tái sinh trong các
cõi địa ngục. Như vậy, khi sử dụng ba phương pháp giữ
gìn thân, ngữ và tâm trong sự tỉnh giác sống động, hành
giả nhanh chóng thoát khỏi luân hồi.
Phục
vụ ngũ cốc nóng cho các hành giả ăn điểm tâm sáng theo
nghi lễ thì tương đương với việc phục vụ một Bồ Tát
đệ bát địa; phục vụ một người chỉ thọ xuất gia tạm
thời thì tương đương với việc phụng sự một vị A La
Hán (arhat).32
Một
người bảo trợ cho một nghi thức chay như thế sẽ không
bị tái sinh trong ba cõi thấp, mà sẽ được phú cho thái độ
giác ngộ của Bồ đề tâm, được hưởng một sự may mắn
vô tận trong mọi tái sinh, hoàn thiện phẩm tính của hạnh
bố thí, và nhanh chóng đạt được giác ngộ.
Bởi
những ích lợi này và những lợi lạc không thể nghĩ bàn
khác, trong việc tìm kiếm đức hạnh hoàn toàn thanh tịnh,
được thúc đẩy bởi lòng vị tha, niềm tin, và lòng sùng
mộ mãnh liệt và quả quyết, các bạn hãy hoan hỉ và nỗ
lực ngày đêm không xao lãng.
Nếu
các bạn sống những ngày còn lại của đời mình thật là
ý nghĩa, các bạn sẽ bảo đảm được hạnh phúc của riêng
mình và của những người khác. Sự thật này đã được
xác nhận bởi ngữ chân thật của các Đấng Chiến Thắng,
kinh nghiệm của tất cả những bậc trưởng thượng tâm linh
vĩ đại, và sự kiểm chứng trực tiếp của giác tánh nội
tại của chính hành giả, và những công đức của sự theo
đuổi của các bạn với ý hướng sùng mộ.
Không
khởi hành sai lạc, các bạn sẽ thoát khỏi nỗi sợ chết
và sợ tái sinh; nếu không được như thế thì các bạn sẽ
có sự xác tín để gặp gỡ cái chết một cách hoan hỉ;
ít nhất, các bạn sẽ chết mà không sợ hãi hay hối tiếc.
Tôi
chắp tay và cầu nguyện tận đáy lòng rằng tất cả các
bạn sẽ có thể thực hiện được điều này. Tôi luôn thúc
giục các bạn hãy giải thoát tâm thức mình khỏi sự do dự
và giữ vững sự trung thực trong nỗ lực đầy ý nghĩa này.
May
mắn, may mắn, may mắn!