.
ĐỂ HIỂU
ĐẠO PHẬT
Phương
Bối
KHÁI
NIỆM VỀ THIỀN HỌC
Nói
đến Thiền-học, ta thường liên-tưởng đến Thiền-tông,
một học-phái Phật-học rất thịnh-hành ở Trung-Hoa, Nhật-Bản
và Việt-Nam thời trước. Nhưng thực ra, thiền-học có nhiều
chủng-loại khác nhau, chứ không phải chỉ có một Thiền-học
Đại-Thừa như ta thấy ở Thiền-tông của ba nước mà thôi.
Xét
về gốc chữ, thì chữ "thiền" là do tiếng Phạn Dhyana (hay
tiếng Ba-lị Jhana) mà ra: có nghĩa là tư duy hay tĩnh-lự. Du-già-phái,
một trong sáu phái triết-học của Ấn-độ, xem Thiền là
giai-đoạn thứ bảy trong tám giai-đoạn tu-hành. Phật-giáo
Tiểu-thừa đặc biệt chủ trương tứ-thiền và xem thiền
là một pháp-tu quan-trọng nhất. Trong giáo-lý Đại-thừa,
thiền là một trong lục Ba-la-mật (sáu phương tiện để vượt
sang bờ giải-thoát) và gồm có nhiều phương-pháp tu-chứng
sai-biệt.
Tuy
có nhiều chủng-loại, nhưng thiền bao giờ cũng mang nghĩa
tư-duy và tĩnh-lự: phương-pháp của Thiền là tập-trung tâm-ý
vào một đối-tượng để tư-niệm và suy-xét.
Phương-pháp
của Thiền là một phương-pháp thân tâm toàn nhất, nghĩa
là một phương-pháp điều-động cả thân và tâm cùng trong
một lúc. Tuy vậy, khi khảo sát, ta có thể chia làm hai phần:
phần hình-thức và phần nội-dung.
Về
hình-thức, ta có sự tu-luyện thân-thể, tức là phương-pháp
làm cho thân-thể an-tĩnh để trợ-lực cho sự thống-nhất
của tinh-thần. Trong bất cứ môn Thiền nào cũng vậy, sự
điêu-luyện thân-thể cũng được xem là rất quan-trọng, bởi
vì không có nó, phép thiền-định sẽ không thành công. Người
tọa-thiền nếu có một khu-xác quá yếu đuối sẽ rất khó
thu-đoạt được kết-quả.
Về
nội-dung, ta có sự tập-trung và tư-duy của tinh-thần. Nhờ
tập-trung và thống-nhất, tâm-ý trở nên mạnh-mẽ; dùng lực-lượng
tinh-thần này để tư-duy khảo-sát và đi đến chỗ khai-ngộ.
Nói tóm lại, thiền tức là sự thực-hiện khai-ngộ, thực-hiện
lý-tưởng. Lý-tưởng ấy là tiêu-điểm của tư-duy, được
đưa vào trung-tâm thống-nhất của tinh-thần để được khảo-sát
và thực-hiện.
Ngoài
danh-từ thiền, trong đạo Phật còn có danh-từ chỉ-quán.
Chỉ tức là sự tĩnh-định của tâm-ý và quán là sự tư-duy
quán sát căn-cứ trên sự tĩnh-định ấy của tinh-thần. Chỉ-quán
cần được thực-hiện quân-bình: nếu Chỉ thái quá thì hành-giả
sẽ lâm vào trạng-thái bán thụy-miên, thiếu mất khí lực;
còn Quán thái quá thì tâm sẽ tán-loạn và trở thành điệu
cử. Tóm lại trong sự chuyên niệm lý tưởng và khảo sát
đối tượng của tư duy, hành-giả phải rất bình tĩnh: như
thế là thiết lập được sự quân bình giữa chỉ và quán.
Do
chủ-đích phương-pháp và quan-niệm khác nhau, nên thiền có
nhiều chủng- loại. Ngài Tông-Mật Thiền-sư đời Đường
trong cuốn "Thiền-Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự" có phân biệt
5 loại Thiền như sau:
1.-
Ngoại đạo Thiền: Chủ trương thừa nhận ngoài bản-ngã
còn có những thế-giới thần-minh; chán ghét thế-giới hiện
tại này và mong cầu đạt đến các thế-giới thần-minh ấy.
Đó là phương-pháp và tông chỉ của ngoại-đạo-thiền.
2.-
Phàm-phu Thiền: Tin-tưởng ở luật nhân quả, mong ước
đạt đến những thế-giới cọng-nghiệp đẹp đẽ hơn thế-giới
hiện-tại. Thiền ở đây chưa có công-dụng giải-thoát được
cho con người ra khỏi tam-giới.
3.-
Tiểu-thừa Thiền: Tin-tưởng ở đạo-lý vô-ngã và
nhắm vào mục đích diệt-ngã.
4.-
Đại-thừa Thiền: Nhận rõ tự-ngã và ngoại-giới đều
không; ước muốùn thể-nhập lý-chân không mầu nhiệm ấy.
5.-
Như-lai tối-thượng Thiền: Tự-giác có khả-năng-tính
thành Phật, nhắm vào mục-đích thực-hiện hoàn-toàn nơi
mình giác-tính của Phật-đà, để nắm vững được công
hành tự-giác, giác-tha và giác-hạnh viên-mãn. Ngài Tông-Mật
giải thích: Tối-thượng-thiền là môn thiền-học nương vào
sự nhận thức tự-tâm bản lai thanh tịnh, không có phiền
não: trí-tánh vô lậu vốn sẵn đầy đủ, tâm ấy chính là
Phật, hoàn-toàn không sai khác". Tối Thượng Thiền còn gọi
là Nhất-Hạnh Tam-Muôïi, Chân-Như Tam-muọâi, Như-Lai Thanh-Tịnh
Thiền. Môn Thiền-học được truyền sang Trung-hoa do Đạt-Ma
Tổ-Sư và truyền sang Việt-nam do Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi Tổ-Sư
chính là môn Như-Lai Tối-Thượng Thiền này vậy.
Tuy
hết sức giản-lược, lối phân biệt của Ngài Tông-Mật
cũng đã có thể gọi là xác-đáng. Nhưng ta cũng có thể căn
cứ vào những sắc thái đặc biệt của các chủng loại thiền-học
để phân biệt những tính cách khác nhau của thiền. Có những
môn thiền chủ trương phân-ly thân-tâm, hy vọng có thể tiêu-diệt
được ý-chí sinh tồn để được giải thoát khỏi cuộc
đời khổ não. Tính cách của các môn này là yếm thế, vô-hoạt-động.
Có những môn Thiền nhắm vào mục đích vãng sinh lên các
thiên-quốc thì lại mang nhiều sắc-thái tình cảm và tín
ngưỡng, do đó có tính cách y-cứ vào tha-lực. Có những môn
Thiền chỉ tin chính tự khả năng sẵn có nơi mình và hoàn
toàn có tính cách tự lực.
Đứng
về phương-diện triết-học và tôn giáo để khảo sát thiền-học,
ta phải đặc biệt chú trọng đến vấn-đề tự-ngã. Vì
đây là vấn-đề then chốt của Thiền, làm căn bản cho những
vấn-đề khác như vấn-đề sinh-mạng và vấn-đề giải-thoát.
Triết-học
và Tôn-giáo, từ xưa đã nhắm vào mục-đích giải-quyết
vấn-đề tự ngã. Cho đến bây giờ, vấn-đề tự-ngã vẫn
còn là vấn-đề trung-tâm của triết học.
Thông
thường và trước hết, tự-ngã chỉ là thân xác của mỗi
người. Tuy là quan niệm đơn sơ, nhưng chính thực là căn-bản,
bởi vì khu-xác là cứ-điểm để quán-sát tự- ngã toàn-vẹn.
Nhưng
xác thân, thực không phải chính là tự-ngã. Nếu quả xác
thân là tự-ngã thì khi người ta mất một cánh tay, tự-ngã
cũng bị tổn giảm một phần. Mà trên sự thực, không có
như vậy. Người cụt tay vẫn tự giác một tự-ngã toàn-vẹn
như bất cứ một người nào khác. Lại nữa, ngoài xác thân
mình, còn có những vật sở-hữu của mình, còn gia-đình mình;
tổ quốc mình, tất cả những cái mà mình có thể đồng
nhất với tự-ngã ấy không thể gọi là những thứ phi-tự-ngã
được. Nói tóm lại, tự-ngã là một cái gì có tính cách
"co giãn" về một phương diện nó có khuynh hướng đi sâu
vào bên trong, về một phương-diện khác, nó có khuynh-hướng
khai triển ra ngoài. Làm biên giới giữa hai thế giới nội
ngoại đó, chính là xác thân. Từ thân xác trở vào hô-hấp,
từ hô-hấp trở vào nội-tâm, từ nội tâm trở vào chân
ngã, đó là con đường nội-nhiếp. Từ thân xác đi đến
gia-tộc, từ gia-tộc đi đến quốc gia, từ quốc gia đi đến
nhân loại và từ nhân loại đi đến vũ-trụ, đó là con đường
khai triển ra ngoài.
Con
người trước hết là một kết hợp của ngũ-uẩn: sắc thọ
tưởng hành thức. Sắc tức là vật-chất – Thọ tưởng
hành thức là tinh-thần. Sơị dây liên-lạc giữa vật chất
và tinh-thần chính là hô-hấp. Nhờ hô-hấp, con người có
thể trở vào đời sống nội tâm, quán sát các hiện-tượng
thọ tưởng hành thức.
Ở
đây, chủ-thể quán-sát và đối-tượng quán-sát là một
và vì thế thay đổi chuyển biến không ngừng. Những cảm-giác,
suy tưởng, những tri giác liên quan đến ngoại giới do sự
chi-phối của nhục thể… Tất cả các hiện-tượng tâm-lý
ấy đều biến chuyển, tiêu diệt và không thể gọi là tự-ngã.
Tự-ngã phải là một cái gì đồng nhất bất biến… Tự-ngã
phải là một nguyên-lý chủ quan thuần-túy, một nguyên-lý
hoạt động thuần-túy, mà như thế thì nó vượt ra ngoài
phạm vi kinh-nghiệm, phạm-vi của phi-ngã. Dùng khái niệm để
trực tiếp với tự-ngã, đó là điều không thể làm được.
Bởi vì nói "tự-ngã là thế này, tự-ngã là thế kia" tức
cho rằng tự-ngã là một đối tượng của tri-giác. Mà đã
là đối tượng của tri-giác thì phải biến chuyển, tiêu-diệt,
và như thế thì không phải là tự-ngã nữa.
Vì
vậy, tự-ngã phải là tuyệt-đối. Trên lý-luận, tự-ngã
tuyệt đối ấy được thành-lập do một giả-định tối-hậu
cần phải có. Trên thực-tế, tự-ngã tuyệt-đối ấy chỉ
có thể do trực-giác tìm tới được mà thôi, ngôn-ngữ và
tư-lự không thể nào tìm đến và diễn-tả được.
Vậy
dùng thân thể làm xuất phát để đi sâu vào nội-giới, thải
trừ những yếu-tố phi-ngã, cuối cùng tìm đến một giả-định
tối hậu là chân-ngã nằm sâu trong nội-giới và vượt ra
ngoài phạm-vi kinh-nghiệm: là con đường nội nhiếp.
Đứng
về mặt khai triển, tự-ngã có thể bao gồm cả gia-đình,
dân-tộc, quốc-gia, xã-hội. Khi con người lao-tổn tâm-lực
và thân-lực để nuôi gia-đình, con người đã không quan-niệm
rằng tự-ngã chỉ là xác thân nữa. Bao nhà luân-lý, bác-học,
chiến-sĩ đã vì yêu nước, yêu người, yêu nhân-loại mà
hy-sinh cho đạo-đức, cho nhân-loại, cho tổ-quốc. Tự ngã
của họ đã khai-triển từ thân xác họ cho đến chủng loại
họ, quốc gia họ… Phần đông những người ấy đều là
những người chiến thắng được những dục-vọng tầm-thường
của thân xác. Với những kẻ chiến-thắng hoàn-toàn các dục-vọng,
tự-ngã của họ là tất cả nhân-loại, tất cả vũ-trụ.
Đối với họ, không còn có gì là phi ngã cần phải loại
trừ ra ngoài nữa. Tất cả những gì trước kia nhận thấy
là phi ngã bây giờ đều trở thành tự-ngã, không sót một
hào-ly.
Vậy
đứng về phương-diện hình thức, ta thấy tự-ngã có thể
thu-nhiếp thành cực-tiểu cũng như có thể khai-triển thành
cực-đại. Làm căn-cứ cho sự thu-nhiếp và khai-triển ấy
là thân xác của con người… Nhìn về hình thức thấy hình
như có hai thái-cực mâu-thuẫn. Nhưng xét về phương-diện
nội-dung thực-tại, ta thấy cái cực-đại và cực-tiểu ấy
vốn hoàn toàn nhất-trí. Nếu đạt-quán được chân tướng
của cái ngã chân-thực, cái ngã tuyệt-đối, thì mâu-thuẫn
hình thức ấy không còn thấy nữa.
Không
nhận được chân-ngã, tức là đã có quan-niệm sai lầm về
tự-ngã. Những kẻ phàm phu quan-niệm tự-ngã là thân xác
và chỉ biết lo lắng cho thân xác ấy mà thôi. Nhận thân
xác là tự-ngã, lo chiều chuộng và làm thỏa-mãn dục-vọng
của thân xác ấy, kẻ phàm phu vướng vào hai cái tệ lớn:
đối ngoại thì ích-kỷ, tham lam ác độc, không có nhã lượng
dung nạp kẻ khác, nói tóm lại, không thể khai triển tự-ngã;
đối nội không có năng lực tự tỉnh, nội hướng và vì
thế không bao giờ có hy-vọng trực nhận được chân-ngã
của mình.
Trái
lại, nếu cởi mở dần dần dược những ràng buộc của
dục vọng thân xác, thì khi đối ngoại, ta thể nhập dần
dần với đại-ngã, khi đối nội, ta diệt trừ những vọng-niệm
để dần dần đi đến trực-giác chân-ngã. Đời sống nội-tỉnh
càng thấm-thiết, đời sống ngoại quan càng mở rộng. Các
bậc thánh-nhân khi đã vào sâu trong đời sống nội tỉnh,
làm phát triển đến vô hạn khả năng từ-bi, tự thấy muôn
loài đều nằm trong chân-ngã nên đem khả năng từ-bi ấy
mà bao trùm tất cả. Do đó, tự-ngã khai-triển đến vô- biên
và chân-ngã hòa-hợp với vũ-trụ trong một sự nhất-trí
hoàn-toàn.
Tính
chất của tự-ngã là thế, nhưng bản-thể của tự-ngã là
gì? Một giả định tối hậu tất nhiên phải đến: Chúng
ta không thể không thừa nhận sự tồn tại của một cái
bản ngã tuyệt-đối làm bản chất cho chính chúng ta. Cái
tuyệt-đối-ngã ấy chính là sự sống tràn đầy, là sinh
mệnh tuyệt-đối. Sinh mệnh của chúng ta tức là tự-ngã,
ở đâu và lúc nào cũng khuynh-hướng về tuyệt đối, về
vô hạn. Nó kết hợp với đại-ngã tuyệt đối và vô hạn.
Trên thực chất đại-ngã ấy không rời chúng ta. Bởi vì
nếu đại-ngã tuyệt-đối ấy mà rời khỏi chúng ta thì nó
không còn được gọi là đại-ngã tuyệt đối nữa.
Cố
nhiên, cái bản thể tuyệt đối ấy không nằm trong phạm-vi
nhận thức tương đối cuả chúng ta. Ta không thể quan-niệm
được nó. Chỉ có thể tạm gọi nó bằng một cái tên, hoặc
là Pháp Thân, là Phật-Tâm, là Chân Như, là Không… mà không
thể giải-thích nó bằng ngữ ngôn, không thể tìm hiểu nó
bằng suy luận.
Bản
thể ấy tuyệt đối tự do và vĩnh cửu bất biến; đó là
bản chất, là hoạt-động lực của dòng sống tràn đầy,
và là bản tính của chúng ta. Chính đó là cái mà chúng ta
phải thể-hiện bằng phương-pháp thiền-học.
Phải
thể-hiện cho được cái bản-ngã tuyệt-đối ấy, vì đó
là căn-để của tất cả mọi vật-thể, mọi hiện-tượng.
Cành cây ngọn cỏ đều là biểu-hiện cho cái bản ngã tuyệt
đối ấy. Các nhà thiền-học thường bảo "các loài hữu-tình
và vô-tình đều có Phật tính" chính là vì thế.
Muốn
thực hiện đại-ngã, không cần phải hướng ngoại để tìm
cầu. Không phải nhờ công phu nghiên-cứu lịch sử văn minh
nhân loại, hoặc phân tích các hiện-tượng đạo-đức, tìm
hiểu các hiện-tượng sinh-lý, vật-lý…mà có thể tìm thấy
đại-ngã. Tất cả các hiện-tượng kia tuy nằm trong dòng
sống tuyệt đối nhưng vẫn là những hiện tượng tương
đối. Muốn đạt đến bản-ngã tuyệt-đối, phải căn cứ
vào những nguyên-lý tuyệt đối.
Như
trên đã nói, phương-pháp của thiền-học một mặt là chế-ngự
cảm giác, một mặt là chuyên niệm về tiêu-điểm lý-tưởng,
dùng chỉ-quán quét sạch vọng động để trực-nhận chân-ngã.
Ban đầu dùng hô hấp để từ thân-thể đi vào tinh thần,
rồi đem tinh thần tập trung ở chân-ngã, trực tiếp dung-hợp
với chân-ngã. Trực-nhận được chân-ngã tức cũng là trực-nhận
được đại-ngã tuyệt đối bởi vì cả hai đều là bản
thể bất nhị "Trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật"
chính là ý ấy.
Vậy
sự khai-ngộ của thiền-học chính là nhờ ở lực-lượng
thống-nhất của tâm-ý và khả năng trực nhận chân ngã.
Một khi đã được khai ngộ, hành-giả không còn sống trong
những mảnh giả-ngã rời rạc nữa, và được an-trú trong
một cảnh giới toàn-nhất tuyệt-đối. Cảnh giới toàn-nhất
ấy không thể dùng ngữ ngôn diễn tả được, chỉ có thể
do tự-thân thực nghiệm. Trong giới chứng-ngộ, thỉnh thoảng
có những lối diễn tả đặc biệt, mà với trí suy luận
ta chỉ thấy toàn là vô lý mâu thuẫn, không thể nào lĩnh
hội được. Những lời nói lạ lùng, những cử chỉ kỳ
quặc ấy chỉ có thể có nghĩa với những ai mà tâm-trí đã
gần kề với sự giác ngộ và đang đợi sự khai thị của
những bậc đã trực-nhận chân-lý.
Source:
http://www.buddhahome.net/
