.
ĐỂ HIỂU
ĐẠO PHẬT
Phương
Bối
VẤN
ĐỀ BẢN-NGÃ
Bản-ngã
thật ra chỉ là ngã chấp.
Có
hai thứ ngã-chấp: câu sanh ngã-chấp và phân-biệt ngã-chấp.
I.-
Câu-sanh ngã-chấp. – Câu-sanh ngã-chấp là thứ ngã-chấp
có ngay từ khi con người mới sinh, chứ không phải do sự
phân-biệt vọng-chấp mới có. Ngã-chấp này có từ vô-thỉ,
chỉ khi nào giác-ngộ thành Phật mới hẳn tiêu-tan, còn là
chúng-sinh thì vẫn còn.
Câu-sanh
ngã-chấp có hai tác dụng phân-biệt; Một là "trực-giác ngã-chấp",
tức là chỉ cho Mạt na (1) do duyên với kiến phần A-lại-gia
và chấp cái cảnh tượng mà mình đã biến ra làm tướng-phần
của mình. Ấy là thứ ngã-chấp sâu-xa, thắm-thiết. Hai là
"phân biệt ngã-chấp", khi trực tiếp với đối tượng, có
những tâm sở ngã-kiến, ngã-ái, ngã-mạn, ngã-si phát-sinh
để phân-biệt và tham đắm. Hai loại ngã-chấp thuộc về
Mạt na này thật khó trừ đoạn, chúng tồn tại trước khi
có sinh mệnh; chúng có từ vô-thỉ, chứ không phải chỉ khi
con người sinh ra mới phát hiện. Trên đường tu-đạo hành-giả
phải "quán thắng sinh-không" mới dần dần trừ diệt được.
II.-
Phân-biệt ngã-chấp: là thứ ngã-chấp mới phát hiện
sau khi có thân, do sự phân-biệt vọng-chấp. Thứ ngã-chấp
này dễ trừ-đoạn hơn; khi mới vào địa-vị kiến-đạo
hành-giả quán, "sinh-không chân-như" là có thể tiêu diệt
được.
Phân
biệt ngã-chấp thuộc về ý-thức (conscience-connaissance), cũng
có hai tác dụng phân-biệt: một là trực-giác ngã-chấp tức
là chỉ cho ý thức khi chấp toàn thể sinh lý và tâm lý là
"ngã" một cách trực tiếp không cần phân-biệt; hai là suy-nghiệm
ngã-chấp tức là cho ý-thức khi dùng suy-nghiệm để chấp-ngã
bằng sự suy-nghiệm đo đắn.
Phân
biệt ngã-chấp tất nhiên phải nương trên câu-sanh ngã-chấp
mà phát hiện. Tuy nhiên hoàn cảnh và ý-thức là hai động
lực thiết yếu cho sựï phát hiện ấy. Trên Mạt-na, lúc
nào cũng có ngã-chấp thầm-kín, sâu xa; trên ý-thức, trực-giác
ngã-chấp do suy nghiệm ngã-chấp cấu thành, cũng lấy đó
làm nền tảng.
Lúc
mới sinh, ý-thức về bản ngã của trẻ con rất lờ mờ,
vì lẽ phân biệt ngã-chấp của chúng mới được ý-thức
và ngoại cảnh thai-nghén nên một cách yếu ớt. Có thể nói
rõ rằng khi ấy suy-nghiệm ngã-chấp đã có một cách lờ-mờ,
nhưng trực-giác ngã chấp thì còn chưa có. Tuy nhiên câu-sanh-ngã-chấp
của chúng vẫn có đầy đủ như thường – giống hệt như
của người lớn.
(Xin
độc-giả tham khảo thêm trong cuốn Duy Thức Học của Giáo-sư
Thạc-Đức)
Lớn
lên một chút, trẻ con đã có thể quan niệm về nó và về
kẻ khác, và bắt đầu phân-biệt mình và người, mình và
vật. Nhờ sự đụng chạm giữa căn và cảnh, nó phân-biệt
được thân nó và sự vật khác với thân nó. Vì thế, đối
với trẻ con, bản ngã nó tức là thân xác nó. Sự phân-biệt
rõ-ràng về mình và về người luyện nơi ý-thức của nó
một trực-giác chấp-ngã.
Cũng
có nhiều người lớn chỉ quan-niệm về bản ngã giống hệt
như trẻ con cho bản ngã là xác thân mình, và chỉ có thế.
Chỉ những kẻ mà suy-nghiệm ngã-chấp đã trở nên tinh-vi
mới có những quan-niệm khác hơn về bản-ngã. Nhiều kẻ
không cho xác thân là bản-ngã nữa, và họ nói: "tôi muốn
thoát khỏi cái xác này cho rồi." Thế thì tôi và xác đã
là hai cái khác nhau.
Những
kẻ ấy hẳn cho cái ta (le moi) là ý thức1, là một linh hồn
có tính cách thuần nhất và có thể tồn-tại ngoài xác thân.
Có kẻ lại cho "cái ta", là tổng hợp của tất cả những
kiến-thức, tư-tưởng, tình cảm, không có tánh cách thuần-nhất.
Vậy
bản ngã là gì? Thật khó trả lời, vì thực ra theo Phật
học ta không tìm hiểu nó được, vì nó không thực có. Bản-ngã
mà ta quan niệm phải là một cái gì có tính cách duy nhất,
bất biến và có khả năng chủ-tể. Ta thử nhìn xem cái gì
trong ta là duy nhất, bất biến và có khả năng chủ tể. Thân
xác ư? Thân xác thì luôn luôn biến đổi, hằng giờ, hằng
phút. Thân xác chỉ là sự tập hợp của vô-số tế bào sống
đang biến chuyển mau lẹ vô cùng. Tinh-thần ư? Tinh thần là
sự tập hợp của tất cả mọi tư-tưởng, cảm giác, tri
giác, các hiện tượng ấy vẫn tiếp-tục biến chuyển, thay
đổi màu sắc, không khi nào giống khi nào và chẳng có gì
là thuần-nhất cả.
Nói
"bản ngã" tức là toàn thể những yếu tố vật-lý, tâm lý
cũng không được, vì hợp lại, chúng cũng chẳng có tính
cách thuần-nhất chút nào. Nếu nói bản ngã là một cái gì
chẳng phải vật-lý cũng chẳng phải tâm-lý – tức là bản
ngã ly-uẩn – thì cái ấy sẽ đồng như hư không, không còn
có tác dụng gì hết, làm sao có thể gọi là bản-ngã được?
Khi
chúng ta nói: "Tôi ở Saigon", tiếng tôi ấy chính là để chỉ
cho thân xác. Khi chúng ta nói: "tôi suy nghĩ ước mơ", thì chữ
tôi ấy không chỉ cho thể xác nữa mà lại chỉ cho ý-thức1.
Khi chúng ta nói: "tôi viết một bài diễn-văn", thì chữ tôi
ấy chỉ cho cả thân-xác lẫn ý-thức, vì chính ta phải nhờ
trí óc suy nghĩ và nhờ tay viết. Thế thì tôi là cái gì?
Là thân xác, là ý-thức, hay là cả thân xác và ý-thức hợp
lại? Sao lại có sự không đồng-nhất ấy? Tôi có thể là
xác thân, lại có thể là ý-thức, tôi là hai hay là một?
Lại
như chúng ta bảo: "thân xác của tôi to lớn", thì tôi ở đây
là cái gì? Lẽ dĩ nhiên là cái có một thân xác1. Thân xác
là cái sở hữu của tôi. Thế thì thân xác không phải tôi.
Thế thì ngoài thân xác còn cái Tôi nào nữa? Chúng ta lại
bảo: "ý-thức của tôi, ý-thức của anh" Thế thì ý-thức
cũng là một vật sở-hữu của cái tôi và ngoài ý-thức còn
có cái Tôi nào nữa? Cái Tôi ấy là trừu-tượng hay cụ-thể?
Nếu trừu tượng thì hành-tướng nó như thế nào? Nếu cụ-thể
thì nó là cái gì? Nếu không trừu-tượng cũng không cụ-thể,
thì nó là cái "không" sao?
Nói
rằng bản-ngã vừa là đồng-nhất vừa là biến chuyển, cũng
không xong. Thử hỏi cái phần đồng nhất ấy có khác biệt
với phần biến chuyển không? Nếu khác biệt, thì không có
tính cách duy nhất, nếu không khác biệt, thì lại bị biến
chuyển, sao có thể gọi là đồng nhất?
Vậy
"Bản ngã" chỉ là những quan-niệm mơ hồ sai lạc về một
cái gì đồng nhất, bất biến, có tính cách chủ tể, và
cái gì đó tự thân nó không thể có được Sự sống chỉ
là một giòng biến chuyển mà trong ấy không có một bản
ngã chủ động.
Năm
trước, tôi mua một chiếc xe đạp. Cách đó vài tháng, tôi
thay cặp bánh, cách đó nửa năm, tôi thay cặp niền. Cái xe
có thay đổi, nhưng tôi cứ bảo đó là cái xe của tôi trước
kia. Cứ lâu lâu, tôi lại phải đổi nào chuông, nào hãm,
nào đèn, đổi luôn cả khung xe, đổi căm, đổi líp, đổi
tất cả. Đến nay, cái xe ấy, tôi đang dựng bên tường.
Tuy nó đã hoàn toàn thay đổi, tôi cứ bảo rằng nó là cái
xe của tôi mua năm xưa. Thế thì cái xe ấy, ngoài hình thức
nó ra còn có một cái "hồn xe" duy nhất, không biến chuyển
ư? Nếu hình thức cái xe chịu luật biến chuyển, thì bên
trong phải có một cái gì, cái "hồn xe" chẳng hạn, không
biến chuyển, tôi mới có ý-niệm rằng đó là cái xe của
tôi mua năm xưa chứ! Thực ra, làm gì có cái "hồn xe"! Cái
xe là một giòng biến chuyển mà không có bản-ngã, chủ động.
Thân-thể và tâm-hồn ta cũng là một giòng biến chuyển mà
không có bản-ngã chủ-động.
Vì
thế, cái bản-ngã chủ tể (le moi-sujet) và cái bản-vị đối-tượng
(le moi-object) đều là những giả danh, không có thực, chỉ
do phân-biệt vọng-chấp mà hình như thực có.
Cái
vọng chấp của ý-thức, tuy thế vẫn nương trên vọng-chấp
của Mạt-na. Nguồn gốc sâu xa của ngã-chấp là ở Mạt-na.
Mạt-na kết tinh của vô-minh, luôn luôn lấy phần tri-kiến
của Alaya làm đối-tượng để chấp làm ngã, chấp một cách
chặt cứng, không rời. Alaya tự nhiên không muốn mà trở
thành "ngã-tướng" và bị Mạt-na chấp.
Cái
kiến chấp ấy vô-lý quá, nhưng cũng lại rất sâu thẳm,
ta khó dùng ý-thức để tìm hiểu và đoạn trừ được. Do
công-phu thiền-định ta mới có thể thấy rõ và tiêu-diệt
được nó mà thôi. Nhờ công năng tu thiền định, ta có thể
chuyển ngã-chấp thành trí-tuệ, thành " bình-đẳng tánh-trí"
trí sáng-suốt nhận rõ lý bình-đẳng tuyệt-đối của vạn-pháp,
không phân-biệt mình, người. Khi đã chứng ngộ lý phân-biệt
ngã-không và phân-biệt pháp-không, tức là đến địa-vị
hoan-hỷ-địa, địa thấp nhất của Bồ-Tát, ý-thức có thể
dùng "quán" để ngăn-ngừa bốn tâm sở ngã si, ngã kiến,
ngã mạn, ngã ái, và tám tâm sở đại tùy không cho hiện-hành.
Do đó Mạt-na mất rất nhiều tính chất ô-nhiễm và bắt
đầu gần bình-đẳng tánh-trí. Mạt-na trong công việc giải-thoát
chỉ đóng vai trò thụ-động, chính kẻ giải-thoát cho nó
là ý-thức.
Khi
chưa lên đến thất địa của Bồ-Tát thì ý-thức còn chưa
được thường-trực an-trú nơi nhị-không chân-như nên pháp-ngã-chấp
hãy còn và sự phân-biệt mình người của ý-thức cũng chưa
dứt hẳn. Đến đây Mạt-na mới chịu rời Alaya, và phá được
câu sanh ngã chấp. Lên đến thất địa thì ý-thức đoạn
được, sự phân-biệt hư-vọng về mình và người, nhưng
pháp ngã-chấp vẫn còn. Đến bát địa trở lên, cả hai thứ
nhân ngã-chấp và pháp-chấp đều được diệt sạch, chỉ
còn lưu lại các thứ pháp-chấp vi-tế mà thôi. Đến đây
ngã-chấp hư-vọng mới được vĩnh-viễn trừ diệt.
Khi
Mạt-na được hoàn-toàn chuyển thành bình-đẳng tánh-trí,
đến quả vị Phật, thì có thể hiện ra các tha thọ- dụng
thân để hóa độ chúng sinh.
