.
ĐỂ HIỂU
ĐẠO PHẬT
Phương
Bối
VẤN-ĐỀ
NHÂN-DUYÊN
Vào
thời-đại của đức Phật, vấn-đề nguyên-lý của vạn
vật là một vấn-đề rất được chú-trọng trong tư-tưởng-giới
Ấn-Độ. Kinh Phạm-Động có chép lại đến sáu mươi hai
lối giải-thích khác nhau của các triết-phái Ấn-Độ thời
ấy. Tựu trung, ta thấy có ba khuynh hướng sau đây:
1.-
Khuynh-hướng Túc-mệnh-luận (Pubba katahetu). – Các triết-phái
thuộc khuynh-hướng này chủ trương tất cả tự-nhiên-giới
và nhân-sự-giới đều do tiền-định an bài. Mọi sự đều
vận-hành theo những quy luật tự nhiên sẵn có. Giá-trị nhân-lực
và vật-lực ở đây không được thừa nhận.
2.-
Khuynh-hướng Thần-ý-luận (Issara-mimmarahetu). – Các
triết-phái thuộc khuynh-hướng này chủ trương tất cả vạn-sự
đều tồn-tại do ý-chí của một đấng thần-minh. Vị thần-minh
ở đây là Phạm-Thiên (Brahma) và trung-tâm của các triết-phái
thuộc khuynh-hướng này là Bà-la-môn-giáo.
3.-
Khuynh-hướng Ngẫu-nhiên-luận (Ahetu apaccaya) – Các triết-phái
thuộc khuynh-hướng này không thừa-nhận có lý nhân-quả.
Tất cả vạn-tượng đều sinh khởi và tồn tại một cách
ngẫu nhiên, không theo một quy-luật, một lý-pháp nào cả.
Khuynh-hướng
thứ nhất và thứ hai quy tất cả trách-nhiệm cho một thế-lực
siêu-nhiên. Trách-nhiệm cá nhân ở đây không thành vấn-đề;
họa phúc đều là những gì mà con người không thể quyết-định.
Những hành-vi thiện-ác của con người không phải là động-cơ
của tất cả mọi sự thành bại hư nên.
Khuynh-hướng
thứ ba cũng không đặt được nền tảng của trách-nhiệm
đạo-đức cá nhân. Nếu tất cả đều là ngẫu-nhiên, thì
thiện cũng ngẫu-nhiên, ác cũng ngẫu nhiên, họa phước cũng
ngẫu-nhiên; không có gì làm tiêu chuẩn cho hành-vi con người
cả. Do đó con người không thể tiến dần đến chân-mỹ-thiện,
trái lại còn rất dễ sa vào dốc tội-lỗi và trụy-lạc
nữa.
Đứng
về phương-diện lý-luận, những thuyết thuộc khuynh-hướng
trên đều có nhiều khuyết-điểm. Đứng về phương-diện
nhân-sinh, hậu-quả do những thuyết kia đem lại là những
hậu-quả đen tối, buồn nản. Tất cả đều không thể gây
cho con người một sự an tâm lập mạng, không xác nhận được
khả-năng cần thiết và sẵn có của con người.
Lập
trường của đức Phật là thuyết-minh nguyên-lý vũ-trụ để
làm nền-tảng cho một đường lối nhân-sinh. Nguyên-lý ấy
phải phù-hợp với sự thật của muôn ngàn hiện-tượng,
và đường lối nhân-sinh ấy phải đưa con người đến sự
hoàn-thành một giá-trị đạo-đức và tôn-giáo. Mục-đích
của đức Phật khi thuyết Trường-A-Hàm không phải là cố
đánh đổ lý-thuyết của kẻ khác mà chỉ là để bài-xích
những quan-niệm triết-học sai-lạc có thể cản ngăn sự
thực-hiện đạo đức và giải thoát của con người.
Thế-giới-quan
mà đức Phật thuyết-minh là thế-giới-quan nhân-duyên (paticca
samuppada). Tất cả mọi hiện-tượng đều nương vào nhau để
mà thành-lập. Tất cả đều có liên-hệ mật-thiết đến
nhau. Không có sự liên-hệ ấy, sẽ không có một vật nào
được thành lập. Sự liên-hệ ấy chính là nhân-duyên. Trong
kinh điển có những danh-từ NHÂN (Hetu), DUYÊN (Paccaga), ĐIỀU-KIỆN
(Nidana), TẬP (Samudaya) đều là những tên gọi khác nhau để
chỉ sự liên-hệ ấy. Đức Phật đã định nghĩa NHÂN-DUYÊN
như sau:
"Nhược
thử hữu tắc bỉ hữu, nhược thử sinh tắc bỉ sinh, nhược
thử vô tắc bỉ vô, nhược thử diệt tắc bỉ diệt…"
(Cái
nầy có thì cái kia có, cái nầy sinh thì cái kia sinh, cái nầy
không thì cái kia không, cái nầy diệt thì cái kia diệt…"
Nói
"Cái nầy có thì cái kia có, cái nầy không thì cái kia không"
tức là trình bày sự quan-hệ của những sự-vật tồn-tại
đồng thời. Nói "Cái nầy sinh thì cái kia sinh, cái nầy diệt
thì cái kia diệt" tức là trình bày sự quan-hệ của những
sự-vật tồn tại khác thời. Tất cả các pháp đều sinh
diệt và tồn tại trong sự hỗ-tương liên-hệ rất mật-thiết
ấy; không có pháp (hiện-tượng) nào có thể tồn-tại độc-lập
và tuyệt-đối. Nhân trước quả sau thì gọi là dị-thời
nhân-quả, nhân-quả cùng một lúc thì gọi là đồng-thời
nhân-quả. Một nhân có thể có những quả khác nhau tùy theo
các duyên (điều-kiện) phụ tiếp. Vì vậy, không thể có
nhân tuyệt đối và cũng không có quả tuyệt-đối.
Thế-giới
được dệt thành bởi những hệ-thống nhân-duyên đồng-thời
(đứng về phương-diện không gian) và những hệ-thống nhân-duyên
dị-thời (đứng về phương-diện thời-gian). Đó là quan-niệm
nhân-quả của đạo Phật. Trong kinh luận, danh-từ hữu-vi-pháp
(Samkhata dhamma) chính là để chỉ cho những hiện tượng của
thế-giới nhân-duyên ấy. Tất cả đều vô thường biến-thiên
chính cũng do sự liên-hệ nhân-duyên, bởi vì trong thế-giới
nhân-duyên, không thể có những hiện-tượng thường hằng
vĩnh-cửu. Do quan-niệm duyên-sinh nầy mà đạo Phật bài-xích
quan-niệm sáng-tạo thế-giới của một đấng Thượng-Đế
hữu-ngã. Đó là một điều mà chúng ta không thể không thừa-nhận.
Theo
chủ trương của Hoa-Nghiêm Tông, toàn thể vũ-trụ là cả
một hệ-thống duyên-khởi trùng-điệp vô-tận. Giáo-lý Hoa-Nghiêm,
như thế, đã thành lập trên quan-niệm liên-hệ nhân-quả
của A-Hàm. Còn tác-phẩm A-Tỳ-Đạt-Ma của Phật-giáo Nam-Tông
cũng đã phân loại nhân-duyên để quan-sát tìm hiểu và chính
đó cũng là nhiệm vụ chủ-yếu của các luận-sư Thượng-tọa-bộ.
(Luận Mahapakarana phân biệt đến 24 duyên; Xá-Lợi Phất A-Tỳ-Đàm-Luận
quyển 25 phân biệt 10 duyên; Hữu-Bộ chủ trương 4 duyên).
Ở
đây chúng ta chỉ tìm hiểu sơ-lược về hai loại: dị-thời
nhân-quả và đồng-thời nhân quả.
1.-
Vấn-đề đồng-thời nhân-quả, cũng là vấn-đề chủ-quan
và khách-quan. Đức Phật dạy: thế-giới là sự giao tiếp
giữa nhậïn-thức chủ-quan và đối-tượng khách-quan. Ngoài
ra, không có gì có thể gọi là thế-giới nữa:
"Nầy
các thầy Tỳ-kheo! Ta muốn khai thị cho các ngươi về vấn-đề
tất cả (các pháp). Các ngươi hãy lắng nghe.
Các
thầy Tỳ-Kheo! sao gọi là "tất cả (các pháp)?" Đó là mắt
đối với sắc, tai đối với tiếng, mũi đối với hương,
lưỡi đối với vị, thân đối với xúc, tâm đối với pháp.
Nầy các thầy Tỳ-Kheo! Như thế gọi là "tất cả (các pháp)"
(Samyutta)
Như
thế, thế-giới được thành lập trên sự liên-hệ nhận-thức
của lục-căn và lục trần. Ngoài lục-căn và lục-trần tất
cả đối với chúng ta đều là vô nghĩa. Cho nên như lời
Phật dạy, nếu không có chủ-quan thì không có khách-quan,
không có đối-tượng thì không có chủ-thể! Nếu ly-khai sự
liên-hệ giữa chủ-quan và khách-quan thì thế-giới không thể
thành-lập. Tất cả đều được thành lập trên sự liên-hệ
ấy, cũng như hai nhánh lau dựa nhau mà sống vững:
"Này
các bạn! Như hai cây lau nhờ liên-hệ nhau, dựa nhau mà đứng,
cũng như thế, nhờ Danh, Sắc (le nom et la forme) làm duyên mà
có Thức, nhờ Thức làm duyên mà có Danh, Sắc… Trong hai cây
lau, nếu lấy cây này đi cây kia sẽ ngã, nếu lấy cây kia
đi, cây này sẽ ngã. Như thế, này bạn! do Danh, Sắc diệt
cho nên thức diệt, do Thức diệt cho nên Danh, sắc diệt."
(Samyutta)
"Danh
Sắc" ở đây là chỉ cho tổ-chức sinh-lý và tâm-lý của
loài hữu-tình, làm đối-tượng cho "Thức" tức là phần nhận-thức
chủ-quan. Nhưng không phải Danh Sắc là những gì tồn tại
biệt lập ngoài Thức. Cả hai nương nhau để được thành
lập. Giữa cả hai có một liên-hệ mầu-nhiệm, không phải
một cái có trước, một cái có sau. Lìa sự liên-hệ ấy,
cả hai đều không thể tồn-tại.
2.-
Vấn-đề dị-thời nhân-quả cũng là vấn-đề liên-tục tồn-tại.
Tất cả mọi hiện-tượng tuy là vô thường, biến-thiên,
nhưng không có một vật nào hoàn-toàn đoạn-diệt. Không có
một cá-thể nào vĩnh-cửu bất-biến, nhưng luôn luôn có những
"giòng" hiện-tượng liên-tục bất-đoạn. Mọi vật biến-chuyển
liên-tục theo những phép tắc nhất-định, Đức Phật đã
chú-trọng đặc-biệt về sự thuyết-minh dòng liên-tục sinh-mạng;
nghĩa là về những hiện-tượng hữu-tình. Ngài dạy rằng
động cơ căn bản của luân-hồi sinh-tử là vô- minh và ái-dục.
Bản thân loài hữu-tình là những kết-hợp của toàn thể
những kinh-nghiệm và những nghiệp-nhân quá-khứ. Do những
nghiệp-nhân hiện-tại, các loài hữu tình sẽ đi đến những
giai-đoạn sinh-mệnh vị-lai. Về phương-diện luân-lý, Ngài
khai-thị quy-luật dị-thục-nhân và dị-thục-quả. Về phương-diện
tâm-lý, Ngài giải bày quy- luật đồng-loại-nhân và đẳng-lưu-quả.
Về phương-diện siêu-hình, Ngài trình-bày quy-luật Thập-Nhị
Nhân-Duyên. Tuy rằng cách đây hai ngàn năm trăm năm, những
thuật- ngữ và cách dụng-ngữ còn nghèo-nàn, nhưng văn tự
Tứ-A-Hàm cũng đã có thể diễn giải được những giáo-lý
tinh-vi ấy.
Tóm
lại, quan-niệm nhân-quả của Phật-Giáo theo nghĩa hẹp, chỉ
là Nhân-quả-luật (Loi de Causalité); nhưng theo nghĩa rộng,
không phải chỉ là những quan-hệ nhân-quả có tính cách thuần-túy
lý-luận. Quan-niệm nhân-quả của đạo Phật bao-hàm cả những
quan-hệ đạo-đức, giải-thoát; bề rộng thì dàn trải khắp
mười phương và chiều dài thì thấu suốt quá-khứ vị-lai
hiện-tại. "Một" có liên hệ mật-thiết đến "Tất Cả’
và "Tất Cả" có thể nhận-thức qua "Một". Một vị thiền-sư
Việt-Nam thời xưa đã diễn tả lý ấy trong hai câu thần-diệu:
"Tác
hữu trần sa hữu
Vi
không, nhất thiết không"
Dịch:
"Có
thì có tự mảy may
Không
thì cả thế-gian này cũng không."
Một
hạt bụi tuy là nhỏ, nhưng đã tồn-tại trên sự liên-hệ
của toàn thể. Toàn thể tuy là lớn, nhưng mất sự liên-hệ
với hạt bụi nhỏ, sẽ không thể thành-lập. Vì vậy, một
vị thiền-sư khác triều Lý đã diễn tả:
Càn-khôn
tận thị mao đầu thượng,
Nhật-nguyệt
bao-hàm giới tử trung.
(Càn
khôn rút lại đầu lông xíu,
Nhật-nguyệt
nằm trong hạt cải mòng.)
Sự
lớn nhỏ ở đây không còn là sự lớn nhỏ nữa. Một hạt
cải tuy nhỏ, nhưng đã được thành-lập trên sự liên-hệ
của toàn-thể. Tất cả vũ-trụ đã hòa hợp để tạo nên
nó cũng như nó đã hòa hợp với tất cả vũ-trụ để tạo
nên nhật-nguyệt. Có nó thì có tất cả, không có nó thì
tất cả đều không. "Trời Đất có thể nằm gọn trên đầu
một sợi tóc." Chính là ý ấy.
Thế-giới
vũ-trụ và muôn loại được dệt nên bởi những hệ-thống
nhân-duyên trùng trùng vô tận. Đó là nhận-định căn-bản
và sâu-sắc của đạo Phật. Trên nhận-định ấy, sẽ được
thành-lập nên những hệ-thống giáo-lý siêu-việt và những
phương-pháp hành-trì mầu-nhiệm. Khoa-học hiện thời đã
vượt qua quan-niệm nhân-quả đơn giản một chiều và đã
tiến gần đến quan-niệm trùng trùng duyên khởi của đạo
Phật. Chúng ta mong rằng một ngày kia bó đuốc của giáo-lý
nhân-duyên sẽ được hoàn-toàn tỏ rạng để tiếp tục phá
trừ những quan-niệm về túc-mệnh, về ngẫu-nhiên và về
thần-tạo, để loài người sớm nhận-thức được đường
lối của mình.
