.
ĐỂ HIỂU
ĐẠO PHẬT
Phương
Bối
VẤN-ĐỀ
LUÂN-HỒI
Đối
với những bậc đệ-tử đã giác-ngộ, Luân-Hồi là một
thực-thể hiển nhiên không cần bàn cãi. Nhưng các bậc ấy
chỉ có xuất hiện nhiều trong thời-đại đức Phật hay hơn
nữa là trong những thế-kỷ kế cận mà thôi. Ngày nay, rất
ít người chứng được quả A-la-Hán, và cũng vì thế ít
người có thể tự mình chứng-nghiệm được những giáo-lý
Phật dạy. Cũng do đó mà giáo-lý Nghiệp-Báo Luân-Hồi ngày
nay đã trở thành những chủ đề tín ngưỡng. Vấn đề Luân-Hồi
đã trở thành một vấn đề tín ngưỡng cá nhân.
Theo
lời Phật dạy, chúng ta tin tưởng rằng do những nghiệp nhân
quá khứ mà ta có kiếp sống hiện tại. Bản thân của ta
sinh hoạt trong hoàn cảnh hiện tại là kết quả của những
ý tưởng, ngôn ngữ và hành động của ta từ những kiếp
trước. Do vô minh thường xuyên, chúng ta tạo nghiệp và sinh
hoạt trong cuộc sống vô thường, khổ-không và vô ngã. Lại
cũng do vô minh mà ta lầm tưởng có một Bản Ngã riêng biệt,
thường còn, bất biến. Sự vọng tưởng về Bản Ngã ấy
đã làm phát sinh và trưởng thành nhiều dục vọng, và chính
dục vọng thúc đẩy ta tạo thêm vọng nghiệp để rồi phải
bị sinh tử luân hồi mãi mãi trong cuộc đời khổ đau.
Bao
giờ ta diệt được tận gốc những vọng nghiệp, ta sẽ được
giải thoát ra ngoài vòng sinh tử lưu chuyển. Lúc bấy giờ
cuộc đời vô thường khổ đau không còn tồn tại nữa, và
ta sẽ an nhiên thường trú trong Niết Bàn tịnh lạc, kết
quả tích cực của bao nhiêu thiện nghiệp vô lậu mà ta đã
vun xới bón trồng. Lúc bấy giờ những vô minh vọng tưởng
không còn nữa, vì ta đã đạt đến Trí-Tuệ vô-thượng,
hoàn toàn giải thoát khỏi bóng tối mê lầm.
Giáo
lý Nghiệp Báo và giáo lý Luân-Hồi là hai sự thực bất-tương-ly.
Tin tưởng thuyết Nghiệp Báo tức là tin tưởng thuyết Luân-Hồi.
Người Phật-tử không cần đến những "chứng minh khoa-học"
mới tin tưởng được lý Nghiệp-Báo và Luân-Hồi. Bởi vì
chính giáo lý ấy đã được thành-lập trên định luật bất-di
bất-dịch của vũ-trụ mà đức-Phật đã trực-nhận nhờ
Trí-Tuệ Giác-Ngộ của Ngài. Đức Thích-Ca đã trình bày những
khám-phá của Ngài trong những giáo-lý căn bản như Tứ-Diệu-Đế
và Thập-Nhị Duyên-Khởi. Ngài đã tự mình chứng-nghiệm
Chân-Lý tuyệt-đối và theo lời Ngài dạy, tất cả mọi người
đều có thể đạt đến quả-vị giác-ngộ để tự mình
giải-thoát ra ngoài vòng luân-hồi nghiệp-báo.
Con
đường đi đến giác-ngộ là con đường Bát Chánh Đạo.
Đức Phật và các bậc giác ngộ khác đã nhờ trực-giác
nội-tâm mà chứng quả giải-thoát. Con đường trực-giác
nội-tâm là con đường của các nhà đạo-học đông-phương,
trong khi con đường của tây phương là con đường trung-gian
của nhận-xét khoa-học và kinh-nghiệm. Phương-pháp của người
Tây-phương căn cứ trên sự đo-lường chính xác và trên những
khảo sát toán-học, nhờ sự giúp đỡ của máy móc và của
những dụng cụ khoa-học. Cái phương-pháp khoa-học để đi
đến chân-lý ấy là môït phương-pháp lâu-lắc; tuy nhiên,
khoa học đã đưa lại nhiều tiến-bộ, nhất là trong các
địa-vực y-học, hóa-học và lý-học. Nhưng điều đáng kể
hơn cả là khoa-học đã giúp ta nhận biết được vạn vật
một cách rõ ràng hơn.
Khoa
học đã phát-minh nhiều phương-tiện để giúp đỡ giác quan
của chúng ta mở rộng được phạm-vi nhận-biết. Tuy nhiên,
tất cả những phát-minh thần-diệu ấy chỉ có thể khoáng-đại
thêm cái phạm-vi nhận biết của giác-quan mà thôi, chứ không
thể giúp ta nhận biết được sự thật tuyệt-đối của
vạn-hữu. Chúng ta chỉ có thể nhận biết sự thật trong
một giới-hạn rất hẹp hòi. Chúng ta chỉ có thể nhìn vũ-trụ
qua những cửa sổ tý hon, mặc dù khoa-học đã giúp cho thị-giác
và thính-giác của chúng ta một khả năng nhận biết rất
lớn lao. Con người của thời đại mới đã phải kết luận
rằng trong vũ-trụ còn có vô-số những sự-vật mà chúng
ta không thể nhận biết bằng giác-quan được, dù ta có nhờ
đến những phát minh kỳ diệu của khoa-học giúp sức đi
nữa.
Các
nhà khoa-học cũng đã bắt đầu tự hỏi có phương pháp nào
giúp giác-quan nhận được sự thật một cách hữu-hiệu hơn
phương pháp khoa-học không, và một số đã quay về tâm-linh-học.
Có
những nhân-vật siêu phàm đã sáng suốt nhận biết được
nhiều sự-vật thực-tại mà giác-quan tầm-thường không thể
nhận-biết. Sự kiện rõ ràng này đã chứng minh rằng con
người có thể nhận-biết thực-tại bằng những phương-pháp
khác hẳn với phương-pháp nhận biết thông thường của giác-quan.
Hơn
nữa từ khi Freud khám phá ra hiện tượng "vô thức" (l’inconsient)
– khám phá nhờ phương pháp thôi-miên và những phương pháp
phân-tâm-học trị bệnh – người ta thấy có nhiều người,
nhờ lực-lượng thôi-miên, có thể nhớ lại được những
chuyện hồi còn ba bốn tuổi mà khi tỉnh táo họ hoàn-toàn
quên lãng. Ngày nay, y-học đã áp-dụng phương pháp phân-tâm
thôi-miên bằng cách chích vào mạch máu bệnh-nhân chất Sodium
Amytal hay chất Penthotal trong lúc ngủ để tìm hiểu chứng-trạng
của các bệnh thác-loạn tâm-trí và cũng để trị-liệu một
vài chứng bệnh như bệnh suy nhược tinh thần (psychonévrose)
chẳng hạn.
Lại
nữa trong những cuộc thí-nghiệm gọi là "hoàn-đồng" (régression
de l’âge), các nhà tâm-lý-học đã chứng minh rằng trong trạng-thái
thôi-miên, người ta có thể hoàn toàn sống lại như thời
thơ ấu. Các nhà tâm-lý-học kia có thể bắt những người
chịu thôi-miên viết đúng theo tuồng chữ mà những người
này đã viết hồi mười tuổi hay bảy tuổi. Nếu cứ "đẩy
lui" riết cho đến khi họ trở về ba bốn tuổi, họ sẽ không
viết được nữa và chỉ kẻ được lên giấy những giòng
lăng nhăng mà thôi.
Tâm-lý-học
hiện-đại đã chứng minh một cách khoa học rằng ngoài tác-dụng
ý-thức, con người còn có tác-dụng vô-ý-thức, duy trì những
kinh-nghiệm và nhạân-thức từ hồi con người mới sinh.
Nhờ
ánh sáng của khoa-tâm-lý-học mới, giáo-lý Luân-Hồi bỗng
nhiên trở thành dễ hiểu, dễ nhận đối với những người
có chút ít kiến-thức về khoa-học. Bởi vì người ta đã
thấy rõ ràng rằng không những cõi vô-thức duy trì ảnh tượng
và kinh nghiệm của đời này mà còn bảo tồn những kinh nghiệm
và ảnh tượng của những đời quá khứ nữa. Điều ấy
chứng minh rằng khả-năng vô-thức kia đã chứa đựng nghiệp
nhân quá-khứ của nhiều giai đoạn sinh-mệnh quá-khứ.
Giáo-lý
đạo Phật dạy rằng khi con người chết, nghiệp-nhân đã
gây trong kiếp sống vẫn còn lại; và chính đó là nguyên-nhân
cho một giai-đoạn sinh-mệnh khác. Cũng có nghĩa là nghiệp-nhân
ấy tái-sinh trong vô-thức cuả một chúng-sinh mới, và biến
thành một động-lực thúc-đẩy sự trưởng thành và phát-triển
của chúng-sinh ấy. Nghiệp-lực được xem như là đồng-nhất
với tâm-thức, và tâm-thức ấy được gọi là "Kết-sanh
tương-tục thức" (Pàtisanddhis Vinnana).
Khi
đứa trẻ mới sinh, vô-thức đã nằm sẵn trong đáy sâu của
tâm-thức; trong lúc ấy ngoài biểu-diện ý-thức bắt đầu
khai mở và phát-triển.
Vô-thức
chứa đựng nghiệäp-nhân quá-khứ, ảnh hưởng và điều-động
ý-thức sinh-hoạt theo lề-lối quá khứ. Trong kiếp sống hiện-tại,
chúng ta hành động dưới ảnh-hưởng của những tiềm-lực
mà tâm-lý-học ngày nay gọi là những "ước-muốn vô thức"
(souhaits inconscients) đã sẵn có khi mới sinh và từ những
kiếp trước. Tuy vậy, con người còn ý-chí tự-do của mình,
có thể cản ngăn không cho hành-động tư tưởng và ngôn ngữ
của mình đi theo đường lối vọng-nghiệp cũ, rồi lấy đó
làm phương-tiện diệt-trừ những nghiệp-nhân mê-vọng ngày
xưa.
Để
được tự chủ và thoát ra ngoài những chi-phối của những
lề-thói quá-khứ, người Phật-tử phải thực-hành phép thiền-quán.
Sự tập-trung tư-tưởng giúp cho người có ý-thức tràn đầy
về những kinh-nghiệm quá khứ. Con người sẽ hiểu rằng
bao nhiêu khổ đau hiện tại chính là nghiệp-nhân của chính
mình đã tự tạo, và cũng thấy rằng mình có những phiền
não Tham, Sân, Si đã ràng buộc mình vào cái vòng sinh tử thụ-động
và khổ đau. Nhờ nhận-thức ấy, con người sẽ có năng-lực
giải-thoát luân-hồi.
Khoa-học
hiện-đại, khi khám phá ra nguyên-tử-lực, đã chứng minh
rằng luật vô-thường (Anicca) của đạo Phật là một thực-tại.
Tâm-lý-học ngày nay cũng đã tìm ra hiện-tượng vô-thức
trong bề sâu của tâm-lý con người. Một ngày mai, nhờ phương-
pháp "hoàn-đồng" hay những phương-pháp phân-tâm-học mới-mẻ
hơn, khoa học sẽ có thể chứng minh được sự thực-tại
của Luân-Hồi. Những bằng chứng ấy sẽ đánh tan được
trở ngại cuối cùng, để cho mọi người có thể nhận rõ
giáo-lý đạo Phật, và cũng để cho nhân loại ngày nay có
thể tìm được sự an-tĩnh của tâm-hồn.
Là
Phật-tử, chúng ta không cần đến những bằng chứng khoa-học
để tin-tưởng. Luân-Hồi đối với chúng ta là một sự-thực,
bởi vì ta đã thấy nhiều người có thể nhớ lại những
kiếp gần đây của họ. Đức Phật đã dạy cho chúng ta con
đường Bát-Chính để đi đến sự thoát-ly Khổ-Não và Luân-Hồi.
Con đường đã vạch, chúng ta có thể tiến bước với một
niềm tin vững mạnh.
