.
ĐỂ HIỂU
ĐẠO PHẬT
Phương
Bối
VẤN
ĐỀ SIÊU HÌNH
Bất
cứ một cá-nhân nào hay một dân-tộc nào, dù sinh-hoạt còn
dã-man và cổ-lỗ đến mấy đi nữa, cũng có trong đầu óc
một vũ-trụ quan. Cá-nhân ấy hoặc dân-tộc ấy rất có thể
không ý-thức rằng mình có một vũ-trụ quan, nhưng vũ-trụ
quan ấy vẫn âm thầm điều-khiển cuộc đời của mình và
quy-định một phần rất lớn những hành-động, ý-tưởng
và ngôn-ngữ mà mình tưởng rằng khi xúc-sự mình mới quyết
định có.
Bởi
vì con người luôn luôn muốn hành-động theo cái hiểu của
mình, dù cái hiểu đó nằm ở phạm-vi ý thức hay là nằm
trong phạm-vi tiềm-thức. Một lề-lối sống, nói một cách
khác hơn, một quan-niệm nhân-sinh bao giờ cũng thành-lập trên
một quan-niệm về vũ-trụ. Nhân-sự-giới dầu sao cũng vẫn
là một bộ-phận của tự-nhiên-giới, và sự vận-hành của
nhân-sự-giới nếu muốn có kết-qủa tốt-đẹp, phải được
nhịp-nhàng theo cái hoà-điệu đại-đồng của tự-nhiên-giới.
Lão-tử đã sớm biết được điều quan-trọng đó khi ông
nói:
"Không
biết cái hòa-điệu đại đồng của vũ-trụ để vận-hành
theo, cứ tự-ý mình mà vọng tác, thì thế nào cũng sẽ gặp
phải tai-họa"
( Bất
tri thường, vọng tác, hung!) (Đạo-đức kinh).
Nếu
về vũ-trụ, ngài có một quan-niệm duy-vật, ngài sẽ hành-động
như thế nầy; ông ấy có quan-niệm duy-thần, ông ấy sẽ
hành-động như thế kia; và nếu tôi có một quan niệm khác
hơn, tôi lại sẽ hành-động theo một thế khác nữa. Nhậân-thức
nếu không đồng nhau, thì hành-động cũng sẽ không đồng
nhau. Có một vũ-trụ-quan tức là đã có một tín-ngưỡng,
không hơn không kém. Chỉ có những vũ-trụ-quan riêng cho mỗi
dân-tộc, mỗi cá-nhân, mà không có một vũ-trụ-quan chung
cho tất cả nhân-loại. Tùy theo khả-năng nhận-thức, ta chấp
thuận một vũ-trụ-quan sẵn có hoặc ta kiến-tạo một vũ-trụ-quan
khác mới hơn. Cũng như tùy theo bản-chất con người, chúng
ta chấp-nhận một tín-ngưỡng tôn-giáo hoặc xây-dựng một
tín-ngưỡng mới. Vậy thì cần gì phải tin vào một đấng
thần linh mới là có tín-ngưỡng? Chỉ cần có một vũ-trụ-quan
tức đã có tín-ngưỡng rồi. Và như thế, chính những con
người duy-vật cũng đã có một tín-ngưỡng: tín-ngưỡng
ấy là một vũ-trụ-quan duy-vật mà họ cũng có thể nồng-nhiệt
sùng-bái như những kẻ cuồng-tín khác.
Có
một quan-niệm về vũ-trụ tức là đã có lối giải-đáp
một ít những vấn-đề siêu-hình, hoặc ít ra, cũng đã tin-tưởng
theo những giải-đáp sẵn có. Mà nói đến siêu-hình tức
là nói đến phạm-vi siêu thực-nghiệm . Ở đây chỉ có thể
có những giả-thuyết mà thực-nghiệm không thể kiểm-điểm.
Nếu ta chấp-nhận một giả-thuyết nào đó, bằng ý-thức
và bằng tiềm-thức, tức là ta có một tín-ngưỡng về vũ-trụ,
ta có một vũ-trụ-quan. Rồi dựa trên tín-ngưỡng ấy, ta
hành động.
Ví-dụ:
một triết-phái Ấn-độ cho rằng tất-cả thế-giới nhân-loại
vũ-trụ mà ta thấy đây đều là nằm trong giấc mộng của
Brahma: Brahma buồn, ngài muốn giải-trí, ngài nằm mộng. Trong
giấc mộng của ngài, hiện ra thế-giới, nhân-loại, cầm-thú…
Bao giờ ngài tỉnh mộng, thì tất cả những thứ ấy đều
tan biến. Nếu tôi tin theo "vũ-trụ-quan" nầy, thì tôi cứ
sẽ ngồi đợi giờ Brahma tỉnh mộng cho khỏe thân.
Nhưng
nếu tôi tin rằng thế-giới nầy là do một đấng Thượng-đế
tạo-lập, rằng con người sẽ được cứu-chuộc một khi
biết tin tưởng Thượng-đế, tôi sẽ hành-động khác hơn,
bấy giờ tôi sẽ trao hết bao nhiêu hy-vọng của tôi vào đấng
thượng-đế ấy và tuyệt-đối vâng theo lời ngài.
Hoặc
giả nếu tôi tin rằng không có một lực-lượng thần minh
nào cả, thế-giới chỉ là một thực-tại vật-chất, linh-hồn
con người cũng chỉ là một thuộc-tính của vật-chất và
sau khi chết, tuyệt-đối không còn gì nữa hết, tôi sẽ chẳng
tin gì đến luật nghiệp-quả báo-ứng và tôi sẽ dễ-dàng
phạm vào muôn ngàn tội ác.
Thế
cho nên một quan-niệm đứng-đắn về vũ-trụ rất cần-thiết
cho cuộc sống nhân-loại. Có một vũ-trụ-quan gần với chân-lý
bao nhiêu, con người sẽ đến gần được hạnh-phúc bấy
nhiêu. Vũ-trụ-quan càng sai-lạc, thì nhân-sinh-quan càng sai
lạc, và con người càng bị đau-khổ.
Nhưng
làm sao để biết được rằng quan-niệm nầy gần chân-lý
và quan-niệm kia xa chân-lý? Trăm ngàn quan-niệm khác nhau, trăm
ngàn tín-ngưỡng khác nhau. Người nào cũng muốn rằng quan-niệm
của mình là chân-lý, nhưng rốt cuộc, không có quan-niệm
nào được toàn-thể chấp-thuận cả, vì tất cả các quan-niệm
đều chỉ là những giải-đáp siêu-hình, vượt ngoài phạm-vi
thực nghiệm.
Bởi
thế nên đã có người muốn quét sạch trong óc mình những
lối giải-đáp siêu-hình, không muốn chấp nhận một vũ-trụ-quan
nào cả. Họ không muốn bắt đầu bằng một vũ-trụ-quan,
họ muốn bắt đầu bằng cuộc sống thực-nghiệm, tìm hiểu
ngay từ cuộc sống thực-nghiệm. Đó là những nhà đạo học.
Họ
không muốn để trí-óc phiêu-lưu trong những thế-giới siêu-hình.
Họ trở về với thực-tại, sống với thực-tại, nhận-xét
thực-tại. Thực-tại gần nhất là bản thân họ và sự sống
xung-quanh họ. Họ vận-dụng lực-lượng tâm-linh và khám-phá
ra những sự thực mà họ chứng-nghiệm được một cách minh
bạch: thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp
vô ngã…
Họ
tìm thấy bản thân họ và cuộc đời họ là một dòng tâm-lý
vật-lý liên-tục, thúc đẩy bởi một lực-lượng nghiệp-báo.
Họ cố-gắng tận diệt những ác-nghiệp và nuôi dưỡng những
thiện-nghiệp để biến dòng đời khổ-đau thành dòng đời
an-lạc. Và khi vô-minh trừ-diệt, trí-tuệ khai mở, họ đạt
đến chân-lý, thấu hiểu mọi lẽ huyền-diệu của vạn-pháp,
thấy được và dự được vào sự vận-hành của vũ-trụ.
Họ dạy lại cho những kẻ chưa "giác-ngộ" những đường
lối vận-hành ấy để những người nầy có thể hành-động
hợp với hòa điệu đại đồng của thế-giới vũ-trụ và
đi đến địa-vị đạt-đạo như họ.
Theo
những lời chỉ dẫn ấy, mọi người cũng có thể có một
quan-niệm về vũ-trụ. Họ tin theo những định-luật nghiệp-báo,
luân-hồi, nhân-qủa và thực-hành theo đó để xây-dựng một
cuộc nhân-sinh hợp-lý, ít khổ đau, nhiều an-lạc. Họ hành-động
theo chân-lý và họ không sợ rằng họ sẽ "vọng-tác" để
phải đi đến những hậu-quả khổ-đau nữa.
Họ
có một vũ-trụ-quan, một tín-ngưỡng; và như thế là họ
may-mắn được thừa-hưởng sự khám-phá của những người
đạt đạo. Vũ-trụ-quan ấy (hoặc tín-ngưỡng ấy) là cỗ
xe đưa họ đi về chân-lý, họ sẽ về đến đích một cách
ít khó nhọc hơn.
Còn
những nhà đạo học đã làm công-việc khám-phá trên kia thì
đã không cần dựa vào một tín-ngưỡng nào cả, một vũ-trụ-quan
nào cả. Họ bắt-đầu bằng cuộc sống thực-tại. Chẳng
cần phải mang một tín-ngưỡng nào hết, chẳng cần chấp
nhận trước một quan-niệm siêu-hình nào hết, họ vẫn có
thể đi đến chân-lý, thành-tựu đạo-quả.
Và
như thế, trong đạo Phật những vấn-đề siêu-hình không
là vấn-đề hệ-trọng đối với những ai đang cố thực-hiện
cuộc thực-nghiệm tâm-linh. Đối với các vị tỳ-kheo hay
đặt những thắc-mắc siêu-hình, đức Phật thường quở-phạt
là vì lẽ đó. Ngài dạy rằng điều hệ-trọng nhất là phải
tự tinh-tiến lên để được giải-thoát giác-ngộ. Đừng
phí thì giờ và tâm-lực vào những vấn-đề siêu-hình " Nầy
các tỳ-kheo, các thầy đừng thắc-mắc về vấn-đề thế-giới
nầy là hữu-hạn hay vô-hạn, hữu cùng hay vô-cùng. Dù thế-giới
nầy là hữu-hạn hay vô-hạn, là hữu-cùng hay vô-cùng, thì
điều mà chúng ta phải nhận là thực có ở giữa đời nầy,
vẫn là những khổ đau sinh lão bệnh tử" Như thế đức Phật
đã kéo chư đệ-tử trở về thực tại để giải-quyết
vấn-đề quan-yếu nhất là vấn-đề giải-thoát diệt khổ.
Sự thực "đau-khổ" hiển-nhiên trước mắt, cần được giải-quyết
cấp-tốc, người ta không có thì-giờ để đi tìm hiểu những
chuyện xa xôi.
Trong
Kinh có chép câu chuyện của một người bị trúng tên độc
không chịu cho người ta nhổ tên để rịt thuốc "Khoan, khoan
nhổ mũi tên đã. Để tôi còn phải tìm hiểu kẻ nào đã
bắn tôi, mặt mũi ra sao, tên gì, làng nào, có thù hằn gì
với tôi không, rồi sau hãy nhổ." Nếu mà tìm-hiểu được
từng ấy thứ thì thuốc độc đã ngấm vào thân-thể rồi,
còn cứu làm sao được. Cuối đoạn dụ, đức Phật kết
luận rằng các đêï- tử phải mau mau thực-hành phương-pháp
giải-thoát diệt khổ, đừng mất thì-giờ đi tìm hiểu những
chuyện vu-vơ.
Trong
rừng chân-lý mà đức Phật đã đi đến, ngài chỉ lựa chọn
một ít những chân-lý căn-bản có lợi cho sự giải-thoát
diệt khổ để dạy cho tứ chúng đệ-tử.
Ở
đây, ta cần nhớ lại lời dạy của đức Phật trong kinh
Samyutta Nikaya.
Những
vị đệ-tử chưa chứng ngộ thường thắc mắc về Niết-Bàn
và đặt những câu hỏi về Niết-Bàn. Đức Phật có nhiều
lần đã im lặng trước những câu hỏi đó. Sự im lặng của
Ngài cũng đã là một cách trả lời. Tìm hiểu về Niết-Bàn
là một điều mà trí thức phàm phu không thể nào làm được,
và rốt cuộc, đó là một việc làm đã khiến mất thì giờ
lại còn dễ đưa người tới những tưởng tượng hư-vọng.
Niết-Bàn là một thực-thể cần được thực-chứng chứ
không phải là đối tượng của những suy-luận duy-lý.
Không
cho những vấn-đề siêu-hình là quan trọng, đó là một điểm
đặc biệt của đạo Phật. Một vị tỳ-kheo quyết tâm chứng
đạo, không bắt buộc phải có lòng tin của một tín đồ.
Người ấy có thể không bận tâm đến các vấn đề cực
lạc, thiên đường, luân hồi, địa ngục. Người ấy chỉ
cần đặt vấn-đề giải-thoát diệt-khổ. Bởi vì người
ấy đã có thể nhận-chân được tính cách khổ, không, vô
thường, vô ngã của vạn hữu (khổ đế) cùng nguyên-nhân
của những khổ đau ràng buộc ấy (tập đế) và cương quyết
trừ diệt chúng bằng những phương pháp hợp lý (đạo đế)
để đi đến sự chiến thắng khổ đau, sống trong tịnh lạc
(diệt đế). Một khi thành công, người sẽ biết tất cả,
hiểu tất cả, vì bấy giờ người đã sống trong chân-lý.
Nhưng
có phải toàn nhân-loại đều là những đấng trượng-phu
như thế cả đâu? Số người quyết tâm xả bỏ dục lạc,
đi tìm chân lý thời nào cũng hiếm, cũng ít. Họ là những
chiến-sĩ can-đảm vô song. Không đủ sức kham-nhẫn, không
đủ nghị lực, họ sẽ bỏ cuộc dễ dàng. Họ sẽ trở về
đi con đường tiệm tiến của đa số, con đường tương đối
ít chông gai hiểm trở.
Ở
đây tín-ngưỡng đóng vai trò quan-trọng hơn. Nhờ sự hướng
dẫn của các bậc giác-ngộ, người ta tin ở nhân quả, tội
phước, nghiệp qủa, luân-hồi và người ta hành động theo
những tín-ngưỡng ấy. Những chân-lý trên đây ít nhiều
nằm trong phạm-vi siêu hình, tổ hợp nên một tín-ngưỡng
về vũ-trụ – một vũ trụ quan – làm nền tảng cho một
lối sống an-hòa và tịnh-lạc hơn, ít khổ đau hơn. Những
chân-lý ấy có thể nhận chân được một phần nào bằng
trí suy luận và có thể chứng nghiệm hoàn toàn được bằng
những cuộc thực nghiệm tâm-linh mà nếu muốn, ai cũng có
thể làm được. Mà hễ làm được tức là đã bước lên
con đường chứng ngộ của các bậc đại-sĩ trượng phu.
Vậy
có một căn cơ yếu đuối, ta sẽ bằng lòng đi con đường
tiệm tiến: con đường bắt đầu từ tín-ngưỡng (một tín-ngưỡng
mà ta có thể chấp nhận bằng trí suy luận, chứ không phải
một tín-ngưỡng vô điều kiện) và sẽ sát nhập vào con
đường thực nghiệm chân-lý khi nào ta đã có một căn-cơ
mạnh mẽ.
Nếu
sức ta mạnh, lòng ta hăng, nghĩa là khi ta có đại-căn, đại
cơ, ta sẽ chọn ngay con đường của những bậc xuất trần
thượng sĩ, bắt tay vào cuộc thực nghiệm tâm linh, diệt
dục, đạt tuệ, chứng quả. Với con đường này, ta không
cần một tín-ngưỡng siêu hình nào cả, những suy tưởng
và biện-luận về các vấn-đề siêu-hình không cần thiết
gì cho ta, chúng chỉ làm mất thì giờ và gây thêm cho ta nhiều
vọng tưởng. Cuộc thực-nghiệm tâm linh sẽ đưa ta đến
chỗ chứng-đạo, thấu hiểu mọi chân-lý mầu nhiệm bằng
trí-tuệ Bát-nhã.
Chân-lý
chỉ có thể thấu-triệt bằng thực-nghiệm, vậy thì những
cuộc suy luận về các vấn đề siêu hình đều chỉ là "hý-luận"
không cần thiết. Một lần nữa, là người học Phật, ta
chớ nên nghĩ rằng giáo-lý đạo Phật chỉ nhằm mục đích
giải đáp những thắc mắc siêu hình.
