.
ĐỂ HIỂU
ĐẠO PHẬT
Phương
Bối
VẤN
ĐỀ PHƯƠNG PHÁP
Duy
lý tâm-lý-học hay là siêu-hình tâm-lý-học (psychologie rationnelle
ou psychologie métaphysique) căn-cứ trên những hiện-tượng tâm-lý
mà ý-thức và giác quan nhận biết được để xác-định
bản-tính của tâm-thức; do sự xác-định ấy, tiến đến
sự suy-luận ra nguyên-nhân và cứu-cánh của nó. Dựa trên
nguyên tắc thuần-lý, những xác-định, những sưu-tầm ấy
không thể dùng thực nghiệm để kiểm-điểm được. Phật-học
chủ trương rằng lý-trí và giác-quan không có được một
giá-trị hiểu-biết tuyệt-đối, và những suy-luận căn-cứ
trên trí-óc còn nặng-nề vô-minh vọng-tưởng rất dễ bị
sai-lạc. Khoa-học hiện-thời đã chứng-minh điều đó.
Tâm-lý-học
thực-nghiệm cũng nghiên-cứu những hiện-tượng tâm-lý và
xác-định những nguyên-do và những định-luật phát sinh,
tồn-tại, và tiêu-diệt của các hiện- tượng ấy; tất cả
những xác định ấy đều được kiểm-điểm bằng thực-nghiệm
tâm-lý-học thực-nghiệm theo phương-pháp khoa-học để tìm-hiểu
và giải-thích các sinh-hoạt tâm- lý một cách chắc-chắn
và tìm những định-luật tổng-quát nhưng xác-thực về các
hiện- tượng ấy, chứ không tìm-hiểu được bản-chất và
nguyên-do cứu cánh của tâm-hồn. Những tìm hiêåu quả có
giá-trị, song con đường còn xa-xôi, những cái đã tìm-tòi
và phát-minh ra được chưa có bao nhiêu; hơn nữa khoa-học
chưa phải hoàn-toàn là một khí-cụ để kiểm-điểm được
chân-lý và tri-thức của con người vì nặng trĩu dục-vọng
và thành-kiến, đang thú nhận một cách rõ-rệt sự non-nớt
thiếu-kém của mình.
Phật-học
phân-biệt ba khả-năng nhận-thức: hiện-lượng, tỷ-lượng
và thánh-giáo-lượng.
Hiện
lượng là sự nhận thức bằng trực-giác, cái biết không
cần suy-luận. Hiện-lượng có hai thứ: biết bằng trực-giác,
mà đúng thì gọi là chân hiện-lượng; biết bằng trực-giác
mà sai thì gọi là tợ hiện-lượng.
Tỷ
lượng là sự nhận-thức căn-cứ trên suy-luận. Nhưng tỷ
lượng cũng có hai thứ: biết đúng do sự suy-luận đúng thì
gọi là chân tỷ lượng, biết sai do sự suy-luận sai lầm
thì gọi là tợ tỷ-lượng.
Thánh-Giáo-Lượng
là nhận thức của các bậc giác-ngộ, những cái biết của
trí-tuệ vô-ngại, của trí chân-hiện-lượng. Các bậc giác-ngộ
ấy chứng-nhập chân-lý bằng chân hiện-lượng, trực nhận
sự thực không cần suy-luận, và thuận theo lối suy-luận
tỷ-lượng của chúng sinh mà phương-tiện chỉ-bày chân-lý
ấy lại cho chúng sinh. Trí-óc vô-minh của chúng-sinh không
nhận thấu được chân-lý ấy, chúng-sinh chỉ có thể nghe
lại lời của Thánh-nhân và do những thực-nghiệm của mình
để tự dần dần tiến đến trong sự tu-tập chứng-nghiệm
chân-lý.
Vì
thế Phật-học không giống với duy-lý tâm-lý-học. Phật-học
không phải căn cứ trên trí tỷ-lượng suy-đoán ức-đạc
của chúng-sinh mà lại căn-cứ trên lời dạy của các bậc
giác-ngộ. Người ta nói Phật-giáo có tính-cách tôn giáo là
ở điểm ấy.
Song
Phật-giáo không bao giờ bắt buộc ai tin-tưởng theo mình một
cách mù- quáng, nên trong sự nghiên-cứu, vẫn có đầy đủ
tinh-thần thực-nghiệm của khoa-học. Tin hay không tin quyền
ở mình. Kẻ học-giả đồng thời phải là hành-giả, (giống
hệt nhà khoa-học phải luôn luôn tiến bước trên sự nghiên-cứu
và thấu-đạt) để dần dần chứng-nghiệm chân-lý của Thánh-giáo-lượng,
thấy rõ những cái mà lâu nay trí-óc mê-mờ của mình không
thể thấy.
Muốn
hiểu thì phải tự mình chứng-nghiệm lấy. Ai uống nước
chỉ một mình kẻ ấy biết nóng nhiều nóng ít, không mô
tả cái cảm-giác nóng ấy cho người không uống biết một
cách trực tiếp được.
Chân-lý
của các bậc giác-ngộ (như Phật) dạy lại, tin hay không
tin là tùy ở ta. Nhưng ta cũng đủ trí năng để thấy rằng
những lời Thánh-giáo chưa từng sai bao giờ; do trí năng nhận-xét
ấy ta có thể tin ngay ở sự Giác-Ngộ của đức Phật. Biết
bao nhiêu điều của Phật dạy đã được khoa-học và thực-nghiệm
chứng minh, những cái ấy cũng đủ cho chúng ta đặt tin-tưởng
trên trí giác-ngộ viên-mãn cuả Ngài. Ta lại phải theo lời
Phật dạy để tự chứng-nghiệm lấy chân-lý, tự mình chứng
nghiệm lấy chứ không thể nhờ vả ai được.
Phật-học
có tính-cách thực-nghiệm, nhưng lại khác với thực-nghiệm
tâm-lý-học ở chỗ Phật-học thuyết-minh được chân-lý
cứu-cánh mà tâm-lý-học thực-nghiệm thì đang mò-mẫm trên
một con đường xa lắc xa lơ. Khổ hơn nữa là những cái
mà tâm-lý- học gọi là thực-nghiệm vẫn chưa chắc là đúng,
vì lẽ lợi-khí của thực-nghiệm là khoa-học vẫn chưa có
thể gọi là có giá trị tuyệt đối.
Đạo
Phật chủ-trương rằng đã là chân-lý tuyệt-đối thì không
thể dùng ngữ ngôn, văn tự để phô diễn được. Chân-lý
là một cái gì vô biên, vô cùng, không có giới hạn; trí
óc, văn tự, ngữ ngôn là những gì có biên giới có hạn
lượng; đem cái có biên giới mà so với cái vô cùng đem cái
hữu hạn mà đựng trong cái vô hạn là một việc không thể
nào thực hiện. Chân lý trong sách vở không phải là chân-lý:
văn-tự danh-ngôn chỉ là bóng dáng đã đổi hình của chân
lý mà thôi. Bóng dáng còn không phải là chân-lý, huống hồ
là bóng dáng đã đổi hình! Đức Phật thuyết pháp trong 45
năm và Ngài nói: "Trong 45 năm, ta chưa hề nói được một
tiếng". Câu nói ấy chứng tỏ rằng chân lý không thể diễn
tả được bằng ngôn ngữ, văn tự. Kinh Kim-Cang dạy rằng
"chứng ngộ mà nói được rằng chứng ngộ thì đó không
phải là chứng ngộ thực". Phật lại dạy: "Y theo kinh điển
giải nghĩa thì oan cho tam thế chư Phật, nhưng lìa kinh ra một
chữ thì lại đồng với ma-thuyết". Kinh điển, lời dạy
của bậc Giác ngộ không phải là chân lý mà chỉ là phương-tiện
chỉ bày chân-lý, nói đó là chân lý thì oan cho tam thế chư
Phật. Nhưng thảm hại thay, nếu bảo đó không phải là chân
lý mà bỏ những phương tiện chỉ bày chân lý (tức là kinh
điển) đi thì chẳng còn gì nữa, mà chỉ còn là tà-thuyết
của Ma-vương. Phật lại dạy: "Chân lý như mặt trăng, giáo
lý ta dạy như ngón tay chỉ mặt trăng cho các ngươi thấy.
Đừng chấp lầm ngón tay ta là mặt trăng" (Nhất thiết Tu-Đa-La
giáo như tiêu nguyệt chỉ). Thâm thúy bao nhiêu mà cũng đầy
đủ bao nhiêu, cái ví dụ ấy của đức Phật!
Cái
mùi vị của một múi "sầu riêng", hình dáng của những con
vi trùng thấy trong kính hiển vi, những cái không phải là
khó hiểu lắm ấy mà chúng ta cũng không thể diễn tả cho
người khác nhận biết được một cách trực tiếp, huống
hồ là chân lý mà chỉ có trí giác ngộ xa lià được mê
lầm mới có thể thân chứng!
Bởi
vậy, "nghiên cứu để hiểu được chân-lý" là một cái mộng
không thể thực hiện. Nghiên cứu để tự mình thực hành
theo, nương vào đấy mà chứng nhập chân lý, ấy mới là
công việc của người học Phật. Cho nên mục-đích của Phật-Học
không phải chỉ là để thỏa-mãn trí tìm tòi của thế-nhân,
mà để làm phương-tiện chỉ bày chân lý, vì tự nó, nó
không phải là chân-lý thực thụ; lý do là nó được biểu
lộ bằng ngôn ngữ văn tự và căn cứ trên trí tỷ-lượng
của chúng-sinh.
Tất
cả những gì được biểu lộ bằng lời nói đều là những
phương-tiện mà phương-tiện không phải là chân lý, không
phải là chân lý tức là sai-lầm. Chân lý là cái gì? Chân-lý
ở đâu? Chân-lý là chân-lý, vượt ra ngoài ngữ ngôn và văn
tự. Mâu thuẫn bao giờ cũng biểu hiệu cho một sự sai lầm
dù ít dù nhiều. Phật-học chủ trương rằng trong tất cả
những quan-niệm đều chứa sẵn mâu thuẫn và những chân
lý nào có thể diễn giải được đều là những chân lý
tương-đối, cũng như Đạo Đức Kinh chủ trương "Đạo khả
đạo phi thường Đạo". Mâu thuẫn dẫn dắt đến sự phủ
nhận quan-niệm về chân lý và đem ta đến một từng chân
lý cao hơn, song vẫn ở trong vòng tương-đối. Đã là chân
lý tương-đối thì vẫn bao hàm mâu thuẫn, để rồi có sự
phủ định chân lý ấy, và do dó, đưa sự hiểu biết tiến
dần lên. Vì thế Phật-học là một biện-chứng-pháp rất
hoàn-toàn. Biện chứng pháp duy-vật còn có khuyết-điểm:
người ta có thể cho nó là sai lầm vì tự nó vẫn có chứa
đựng mâu thuẫn. Phật học vì vậy lại rất khác với các
học thuyết siêu hình viển vông.
Như
ta đã biết, lời dạy của đức Giác-ngộ tuy không phải
là chân lý nhưng quý giá vô chừng vì nó là phương-tiện
chỉ bày chân-lý. Nó không phải là chân lý vì nó được
biểu lộ băèng ngữ ngôn văn-tự là mộït phương-tiện thiết
lập theo trí suy lượng của chúng-sinh; song lìa nó ra, ta không
thể vịn vào đâu để chứng nhập chân lý nữa. Bởi thế
học để hiểu, để thấy, để đừng chấp chân lý là cái
có thể do ngữ ngôn văn tự biểu lộ được, để nương
theo phương tiện mà đi vào cứu cánh. Trong khi tìm học ta
có quyền nghi, và nghi, là một lợi khí cho sự giác-ngộ vì
có nghi mới có ngộ. Đừng mù quáng chấp theo văn tự, phải
dùng trí óc, phải dùng công phu thực hành để quán chiếu
chân lý, để được giác-ngộ. Phương pháp của Phật-Học
khác với các phương pháp của tâm-lý-học Tây phương ở
chỗ ấy. Cốt nhất là đừng cố chấp vì chính sự cố chấp
che mất chân lý, mà phá được cố chấp thì đồng thời
cũng phá trừ được những tham vọng mê mờ che lấp trí trực
giác.
Hai
người bạn đứng chơi, một người bạn đứng quay mặt về
hướng Nam, một người quay về hướng Bắc. Người quay mặt
về hướng Nam thấy con chim Phụng Hoàng bay qua, liền bảo
bạn: "Này, anh quay lại xem con chim Phụng-Hoàng". Nhưng vừa
nói xong chim đã bay mất. Thế là người bạn kia cứ một
mực đòi biết cho được chim Phụng-Hoàng là chim gì, hình
thể như thế nào, lông cánh ra thế nào. Người này không
biết làm sao: mô tả thế nào cũng không gợi được trong
trí óc bạn một con chim phụng-hoàng, và dù có gïợi được
cũng là gợi nên một hình ảnh khác, nhiều khi phản lại
cả hình ảnh chính nữa. Cuối cùng anh ta phải vẽ một con
chim phụng-hoàng thật giống (thì cứ cho thật giống đi) và
tung nó lên trời. Anh bạn kia có thể chấp chặt đó là con
chim phụng-hoàng thật và nghĩ: "Phụng-hoàng là con chim giấy
ấy, chim giấy ấy là phụng-hoàng, chim giấy và phụng hoàng
là một" Chết chưa! Sao lại là một được? Con chim giấy
không phải là phụng-hoàng mà chỉ là một phương-tiện để
chỉ phụng-hoàng thôi. Nếu nó là phụng-hoàng thực sao nó
không bay? Chấp nó là phụng-hoàng, cái kiến chấp ấy nguy
hiểm biết bao nhiêu, đời nào để có thể biết được phụng-hoàng
thực? Nếu anh bạn bỏ cố chấp đi, và do chim giấy mà biết
được rằng: "Con phụng-hoàng vừa bay qua cũng giống thế,
nhưng nó là một con khác, một con chim bay được, hót được
và đã bay qua mất rồi. Ta đã hiểu, còn con chim này chỉ
là con chim giấy, một phương-tiện để chỉ bày cho ta hiểu
ấy thôi". Thấy được như vậy mới thật là không cố chấp.
Học Phật cũng giống như thế, có điều là ta sẽ thấy được
chính chân lý bằng trực giác chứ không phải chỉ thấy có
chân lý bằng trí suy-lượng, như anh chàng kia chẳng được
thấy bằng mắt con chim phụng-hoàng, mà chỉ thấy được
bằng ý-thức suy-đạc, căn cứ trên "mắt thấy" và trên con
"chim giấy".
