.
ĐỂ HIỂU
ĐẠO PHẬT
Phương
Bối
VẤN
ĐỀ THỰC CHỨNG
Tất
cả các giáo-lý của đạo Phật đều được xây dựng trên
nền-tảng thực-chứng của đức Phật, của các vị bồ-tát
và của bậc tăng-già tu-hành đắc-đạo. Tư-tưởng Phật-
giáo vì thế đều đã được thể-nghiệm hóa. Đạo Phật
mà ly-khai với sự thực-chứng thì cũng như Cơ-đốc-giáo
ly khai với sự cầu nguyện. Bởi vì, nếu ly khai với sự
cầu nguyện, Cơ-đốc giáo sẽ mất hết sinh khí, và đạo
Phật nếu ly khai với sự thực-chứng thì sẽ không còn gì
nữa.
Chân
lý mà đức Phật đã chứng-ngộ được gọi là giáo lý bản
chất. Những lời lẽ, những luận-lý mà Ngài dùng diễn-đạt
chân-lý ấy được gọi là giáo lý ảnh-tượng. Đó không
phải là bản-thân của chân-lý mà chỉ là những đồ-án
dùng để thể-nghiệm chân-lý.
Giáo-lý
của Câu-xá-Tông, Thành-Thật-Tông, Pháp-Tướng-Tông, Thiên-Thai-Tông
hay Hoa-Nghiêm-Tông… cũng đều là những kết-quả của sự
thực-chứng bằng Thiền-định. Tùy theo sự chứng-ngộ cao
thấp và tùy theo nhu cầu của căn cơ và của thời-đại,
sự diễn-giải giáo-lý có sai khác nhau. Mỗi giáo-lý trình-bày
một khía-cạnh của chân-lý, một ảnh-tượng của chân-lý.
Sự kiến lập của bất cứ một hệ-thống giáo-lý nào trong
Phật-giáo cũng đều lấy nền-tảng ở thiền-quán. Hệ-thống
giáo-lý ấy nếu sau này có mang nặng tính cách lý-luậïn
hình-thức, thì đó cũng là vì hậu-thế không lo thực-chứng
mà chỉ lo lý-luận suông. Biến Phật-giáo thành một môn học
để nghiên-cứu bằng lý-luận hình-thức, đó là một công
việc mà người đời nay ưa làm, và cũng là bằng cớ chứng
tỏ sự suy-trầm cuả đạo Phật. Đạo Phật không chú trọng
luận-lý suông: đạo Phật đòi hỏi sự thực chứng.
Nếu
các vị tổ xưa không tu tập tứ-thiền và tứ-vô-sắc-định,
thì ngày nay ta đã không có giáo-lý Câu-xá. Nếu không có
sự thực-hiện ngũ-trùng duy-thức-quán, ngày nay ta sẽ không
có giáo-lý Duy-Thức. Nếu các Ngài không thực hiện pháp-môn
thực-tu nhị-đế và không-quán ngày nay ta cũng sẽ không có
giáo-lý Tam-Luận… Nhưng với những giáo-lý ấy, những đồ
án để đi tìm chân-lý mà các ngài đã để lại ấy, chúng
ta chỉ đem ra thảo-luận mà không chịu thực-hành, sinh-khí
của đạo-pháp làm sao mà phát hiện được?
Trong
phương pháp thể-nghiệm của đạo Phật, ta thấy có hai phần:
chỉ và quán. Chỉ là tác-dụng điều-trị cảm giác, chế
ngự biểu tượng, xả bỏ tất cả những vọng-niệm và tạp-niệm.
Đó là phần tiêu-cực. Còn quán, phần tích-cực, là tác-dụng
khảo-sát những công-án thiền-định, căn cứ trên lực lượng
tập trung của tâm-ý. Chỉ và quán được thực-hiện một
cách quân-bình và thăng-tiến sẽ đưa hành giả đến sự
thể nghiệm chân-lý.
Công-năng
của chỉ là ngăn ngừa sự tán loạn dao động của tinh thần,
tạo cho người hành-giả một cảm giác an lạc, tự chủ,
giải phóng, những yếu-tố tạo-thành thiền-duyệt (khoái
cảm trong thiền định). Công năng của quán là đồng-nhất-hóa
khả-năng tâm-ý và nội dung của quan-niệm, tiêu trừ sự
khu-biệt chủ-thể và đối-tượng chủ quan và khách quan và
làm phát sinh sự trực-nhận chân-lý (hiện-lượng-trí). Ở
đây những công-án giáo-lý có vai trò mở lối, giúp đỡ
cho trực-giác thiền-quán.
Vì
thế, lý-luận giáo-lý dù có tinh nhuệ bao nhiêu, lý tưởng
giáo-lý dù có cao xa bao nhiêu, bất quá cũng chỉ dừng lại
ở phạm-vi tri-thức và chỉ có thể là một thứ đồ-án
mà thôi. Hành-giả phải căn cứ vào đồ-án ấy, dùng đồ-án
ấy làm nền tảng cho phương-pháp chỉ-quán của mình. Nếu
giáo-lý không được học hiểu và áp dụng như thế thì dù
có chứa đủ tám vạn bốn ngàn pháp môn, cũng chỉ là bánh
vẽ mà thôi vậy.
Đức
Phật, sau khi chứng ngộ chân-lý, liền chỉ bày cho các đệ-tử
xuất-gia những tài-liệu và phương-pháp để thực chứng
chân-lý; những giáo-lý ấy phù hợp với khả-năng và trình-độ
của họ. Ta không thể nhìn qua các tài-liệu và phương-pháp
ấy để đoán định nội-dung thực-chứng của đức Phật,
bởi vì nội-dung thực-chứng ấy chỉ nằm trong sự thể-nghiệm
bản-thân của Ngài. Nội dung ấy chỉ được biểu-diện-hóa
một phần nào nơi giáo-lý. Các pháp Tứ-đế-quán, Thập-nhị-nhân-duyên
quán, Tứ-niệm-xứ-quán, Tứ-vô-lượng-quán… đều là những
hình-thức giáo-lý được phát-biểu trong một thời đại,
với một căn cơ. Sau này, các vị bồ-tát và các bậc cao
tăng chứng ngộ cũng tùy thời, tùy cơ mà tiếp tục biểu-diện-hóa
và giáo-lý-hóa nội-dung sự thực-chứng ấy.
Do
công trình không ngừng ấy của các bậc chứng ngộ, mà Phật-giáo
dần dần được phân-hóa và trở thành phong-phú thêm về
phương diện giáo-lý. Tuy vậy, từ xưa tới nay, giáo-lý Phật-giáo
vẫn được nhận thức như "những ngón tay chỉ mặt trăng",
những phương tiện chỉ bày chân lý. Giáo lý không thể là
chân-lý, vì giáo-lý chỉ là ngữ-ngôn, văn-tự, lý-luận,
trong khi chân-lý là trực-quán, thoát-ly suy lý và tư lự.
Chân-lý
có thể được biểu-diện-hóa bằng trăm ngàn phương-thức
và được giáo-lý-hóa trên những cơ-sở lý luận phù hợp
với sự tư-duy của trí-óc con người. Các hệ-thống giáo-lý
được thành lập sau này chính là kết quả của sự khai-triển
không ngừng của Phật-giáo để thực hiện sự khế-hợp
với căn-cơ và với thời đại. Giáo-lý chân-không của Trung-Quán-Luận
chẳng hạn là phương thức biểu-diện-hóa chân lý đứng
trên lập trường biện-chứng-luận. Giáo-lý duy-thức của
Pháp-Tướng-Tông là sự biểu-diện-hóa chân-lý đứng trên
lập trường nhận-thức-luận. Giáo-lý "chân-như" của Khởi-Tín-Luận
là sự biểu-diện-hóa chân-lý đứng về mặt bản-thể-luận…
Tất cả đều là kết-quả của sự thực-chứng. Nghiên cứu
các giáo-lý ấy là để giúp thêm cho mình những kiến-văn
cần thiết cho sự tu-tập, chứ không phải để "thấy" được
ngay chân-lý.
Kết
luận: Giáo-lý Phật-giáo sở dĩ có giá-trị vì đó là kết
quả của thực-chứng. Trong hai ngàn rưỡi năm lịch sử, giáo-lý
đã được phong-phú thêm nhiều chính là do ở sự thực tu,
thực-chứng của các bậc tiền bối. Sinh-khí cuả đạo Phật
đã được nuôi dưỡng từ thời đại đến thời đại, qua
sự truyền-trì và tu-chứng của các bậc xuất gia tịnh-hạnh.
Ngày nay, những bậc có thực-chứng hình như đã hiếm-hoi,
sinh-khí của Đạo-Pháp vì vậy không còn linh-hoạt như trước.
Nghiên-cứu giáo-lý Phật-giáo là việc mà người ở thời-đại
chúng ta thích làm. Nhưng nghiên-cứu mà làm chi, nếu chúng
ta chỉ bằng lòng với những chiếc bánh vẽ? Cố gắng để
có thực-tu và thực-chứng, đó mới thực là thổi dậy một
nguồn sinh-lực mới cho đạo Phật vậy.
