.
ĐỂ HIỂU
ĐẠO PHẬT
Phương
Bối
VẤN
ĐỀ LỊCH SỬ
Hiện
nay tất cả các tông phái Phật-học, dù là Đại thừa, dù
là Tiểu-thừa, dù là Bắc-Tông hay dù là Nam-Tông, đều không
phải là Phật-giáo nguyên-thỉ. Tất cả đều trải qua nhiều
biến-hóa. Những biến-hóa này đã không làm mất những tính
chất căn-bản của đạo Phật, mà còn khai thác đến cùng
tận những tính-chất ấy, để thực-hiện một sự phát-triển
cần thiết cho các thời-đại và các địa-phương.
Nếu
đạo Phật chỉ là một mớ giáo điều cố-định thì đạo
Phật đã không có địa-vị như ngày nay trong văn-hóa nhân-loại.
Đạo Phật là một giáo-lý có nhựa sống mãnh-liệt, phong
phú cho đến nỗi trải qua mấy ngàn năm, vẫn còn sức để
tiếp-tục phát-triển theo đà nhu cầu của các quốc-gia và
các thời-đại. Điểm đặc sắc của đạo Phật là không
phải một giáo-điều cố-định cứng cỏi, nằm chết cứng
trong khuôn khổ. Phật-pháp là "bất định pháp" phải tùy
thời gian không gian để uyển-chuyển thích nghi với căn cơ
của chúng sanh. Có thể nói rằng đạo Phật nguyên-thỉ là
một "cây giáo lý", bụ bẫm, mạnh khỏe, và sung sức. "Cây
giáo-lý" ấy đã theo thời gian mà trưởng thành, để rồi
bây giờ trở nên một cái cây to lớn, cành lá rườm-rà xanh
tốt.
Đừng
ai bắt "cây giáo lý" ấy đứng yên ở trạng thái ban sơ của
nó, không cho nó sinh trưởng. Bởi vì nếu không sinh-trưởng
thêm thì nó đã tàn hoại và ngày nay đã không có nó. Đàng
này nó sinh-trưởng mãnh-liệt, vì nó có một sức sống mãnh-liệt.
Bây giờ đây nó to lớn sum-xê nhưng nó vẫn là cây giáo-lý.
Bao
nhiêu hệ-thống giáo-lý bao nhiêu tông-phái lưu truyền trên
thế-giới hiện nay đều là phát xuất từ Phật-giáo nguyên-thỉ,
nói một cách khác hơn, đều là những phát-triển của Phật-giáo
nguyên-thỉ. Những hệ-thống giáo-lý này đã có đủ ở Phật
giáo nguyên-thỉ, nhưng chỉ được khai thác và truyền dương
theo nhu cầu của thời đại mà thôi.
Nguyên-thỉ
hay cận-đại Phật-giáo vẫn là Phật-giáo, nghĩa là vẫn
có mục-đích giải-thoát diệt khổ, vẫn tôn trọng sự sống
và chân-lý, vẫn chủ trương từ-bi tế-độ. "Cũng như nước
bốn biển chỉ có một vị: vị mặn, giáo-lý của ta cũng
chỉ có một vị: vị giải thoát". Tự giam mình trong khuôn
khổ của giáo-lý Nam-Tông rồi bảo Phật-giáo Bắc-Tông không
phải nguyên-thỉ, hay đứng về mặt giáo-lý Đại-thừa mà
cho rằng Tiểu-thừa là hẹp hòi cố chấp, hai thái-độ đều
thiên-lệch, không xứng đáng. Phải nhìn giáo-lý qua sự nhu
cầu của nhân-loại, ta mới thấy được khả-năng bất-diệt
của đạo Phật và luôn đó, cả tinh thần tích cực nhập
thế của Phật-giáo.
Nền
văn-học Phật-giáo minh-chứng một cách hùng-hồn cho sự-thực
ấy. Dù cho Phật-giáo phương-nam có tự hào giữ được nhiều
tính chất nguyên-thỉ, ta cũng thấy đã có sự biến đổi
trên nếp sống tư-tưởng và tổ-chức. Chính thời đại mới,
sinh hoạt mới đã tạo nên sự biến đổi đó. Ở Bắc-phương,
nhiều phong thổ khác nhau, nhiều nếp sống khác nhau, cho nên
đạo Phật đi đến đâu cũng đều thích-nghi để hòa mình
vào sự sống của các dân tộc. Tinh thần tích-cực nhập
thế của đạo Phật đã là một trong những nguyên-nhân làm
cho đạo Phật phát-triển mãnh-liệt.
Ở
thời đức Phật, con người đã quá đau khổ và vì vậy rất
mong-mỏi giải thoát cho cá nhân mình. Giáo-lý Phật-giáo cố
nhiên phải cung-phụng cho nhu cầu giải-thoát ấy. Người ta
chỉ lo tuyên-dương giáo-lý giải thoát cá-nhân, sùng thượng
giáo-lý ấy, và hầu như không còn để ý đến giáo-lý nhập-thế
tích-cực nữa. Các kinh điển đại-thừa hầu như bị bỏ
quên, không được ai nhắc đến. Dần dần về sau, theo nhu
cầu của thời-thế, người ta mới để ý đến kinh điển
đại thừa, mới tuyên-dương giáo-lý đại-thừa. Cho nên những
kinh-điển đại-thừa xuất-hiện chậm hơn các kinh-điển
tiểu-thừa. Giáo-lý đại-thừa mà đức Phật truyền dạy
riêng tây cho những bậc bồ-tát, những hàng đại căn có
tinh thần nhập thế, giáo-lý ấy mãi về sau mới được chú
ý đến.
Vậy
trong lúc nghiên-cứu văn-học Phật-giáo, chúng ta hãy gạt
ra ngoài những cố-chấp để có thể thấy rõ được tinh-thần
và khả-năng của toàn-bộ giáo-lý đạo Phật.
