ẢNH HƯỞNG
PHẬT GIÁO TRONG THƠ DU TỬ LÊ
QUA THI PHẨM
“VÌ EM TÔI ÐÃ LÀM SA DI”
DU
TỬ LÊ,
ẢNH
HƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG THI PHẨM “VÌ EM TÔI ĐÃ LÀM SA DI”
(Bài
nói chuyện trên PHẬT HỌC ÐƯỜNG VẠN HẠNH của ChuaQuocTeOnline
ngày 20/09/2003)
Nam
Mô A Di Đà Phật,
Kính
thưa quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni,
Thưa
quý vị và, các bạn,
Đây
là lần thứ hai, cá nhân chúng tôi được hầu chuyện với
quý vị và các bạn, qua Phật học đường Vạn Hạnh của
ChùaQuốcTếOnline,.
Khác
hơn trước, lần này, theo yêu cầu của ban tổ chức, chúng
tôi xin nói về một tác phẩm rất mỏng của chúng tôi, đó
là cuốn thơ “Vì em tôi đã làm sa di.” (*)
Vì
khả năng, vì sự hiểu biết vốn nông cạn của mình, trước
khi bước vào bài nói chuyện, tôi xin được minh thị một
vài giới hạn như sau:
-Thứ
nhất, chúng tôi xin được miễn trả lời những câu hỏi
liên quan gần, xa tới chính trị, cũng như sự khác biệt giữa
tôn giáo này, với tôn giáo khác, nếu có, của các bậc thức
giả, quý thính giả theo dõi cuộc nói chuyện này.
-Thứ
nhì, chúng tôi xin được miễn trả lời những câu hỏi có
tính cách cá nhân, đời tư liên quan tới người khác; hoặc
những câu hỏi mà chúng tôi cho rằng, sẽ chỉ đưa tới những
tranh luận vô bổ, chỉ làm mất thì giờ của đa số thính
giả.
-Và,
sau chót, chúng tôi xin chỉ trả lời những câu hỏi liên quan
tới thi phẩm “Vì Em Tôi Đã Làm Sa Di,” trong sự cố, rán
tối đa mà, khả năng giới hạn của tôi, cho phép.
Kính
thưa quý Chư Tôn Đức, Tăng, Ni
Thưa
quý vị và các bạn,
Cách
đây hơn bốn năm, khi được mời tham dự tuần lễ Đa Văn
Hóa, trong hai ngày liên tiếp Thứ Bảy 21 tháng 8 và Chủ Nhật,
22 tháng 8 năm 1999, tại hí viện The Stage Downtown San Jose, thuộc
miền bắc tiểu bang California, do các Hội đồng The Arts Commission
- City of San Jose, The Arts Council Silicon Valley và, California Arts
County, cùng nhật báo The San Jose Mercury News đồng bảo trợ,
ngay nơi phần mở đầu bài nói chuyện của chúng tôi, nhan
đề “Tôi, Ấu Thơ và Mẹ,” chúng tôi đã nói rằng:
Chúng
tôi được sinh ra trong một gia đình, với người cha là một
thầy đồ, theo Nho giáo và mẹ là một tín đồ Phật giáo.
Thuở ấu thơ, chúng tôi có nhiều dịp theo mẹ tôi tới chùa,
nhưng không hề có một chút ý thức nào về giáo lý Phật
Giáo.
Cuối
năm 1988, thân mẫu của chúng tôi qua đời. Thời gian này,
tinh thần tôi cực kỳ sa sút. Nếu cá nhân tôi không được
nâng đỡ bởi hai tôn giáo lớn là Phật Giáo và Ky Tô Giáo,
tôi đã tự chấm dứt đời sống của mình.
Khởi
tự biến cố cá nhân, lớn lao, dữ dội đó, tôi mới bắt
đầu để tâm tìm hiểu giáo lý Phật giáo, cũng như đọc
lại Tân Ước của Ky Tô giáo.
Bài
nói chuyện vừa kể, sau đó, tôi còn dùng nó để thuyết
trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, như đại học
UCLA, đại học UCI, đại học Berkeley, đại học MIT, đại
học Wellsley, đại học Boston College, ở Hoa Kỳ, cũng như tại
một số địa điểm khác ở Âu châu và, Úc Châu.
Gần
nhất, trong hai đêm Thứ Sáu, ngày 2 tháng 5 và Thứ Bảy, ngày
3 tháng 5 vừa qua, nhân tuần lễ Ngày Của Mẹ, tôi cũng đã
dùng lại bài đó, để nói chuyện tại Hội Quán Thùy Dương,
ở thành phố Westminster, thuộc miền Nam tiểu bang California.
Kính
thưa quý vị và các bạn,
Kể
lại chuyện này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh, rằng, cho tới
ngày hôm nay, về phương diện giáo lý Phật Giáo, tôi vẫn
chỉ là kẻ mon men tới gần thiền môn mà thôi.
Kể
lại chuyện này, tôi chỉ muốn tự nhận, rằng, tôi kiến
thức, hiểu biết của tôi về giáo lý Phật giáo, là kiến
thức, là hiểu biết của một học trò lớp mẫu giáo, vẫn
còn trong giai đoạn đang được khai tâm bởi sách vở, những
bài giảng của quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni, cùng các bậc thức
giả về giáo lý Phật Giáo.
Tuy
nhiên, vì ảnh hưởng của Phật giáo tại Việt Nam là một
ảnh hưởng sâu, dầy, đã có tự nhiều đời, trải qua nhiều
nghìn năm, cho nên, dù không được học, không được nghe
giảng dạy tới nơi tới chốn, nhưng cá nhân tôi, cũng như
tất cả những người Việt Nam khác, ở thế hệ của tôi,
thế hệ của những người đã bước vào tuổi 60, và, dù
cho họ có thuộc về một tôn giáo nào khác, thì - - những
ý niệm như gieo nhân nào, thì sẽ hái được quả nấy, là
một chân lý rất phổ cập.
Đó
là một ý niệm mang tính dân gian, tính đại chúng, đi ra từ
triết lý nhân quả của Phật giáo.
Dù
không được học hành, được nghe giảng dạy, tới nơi tới
chốn, nhưng những người ở thế hệ của tôi, thế hệ của
những người đã bước vào tuổi 60, và, dù họ có thuộc
về tôn giáo nào khác, thì họ cũng thấm nhuần những răn
dạy rất dân gian, rất đại chúng, những ý niệm về phần
số của mỗi cá nhân, hay mỗi dân tộc, về tiền kiếp, về
đời sau, về kiếp khác ...Vốn là những ý niệm đi ra từ
quan niệm Biệt Nghiệp và Cộng Nghiệp cũng thuộc về triết
lý căn bản của Đức Phật...
Ngay
cả chân lý hay tiến trình nhân sinh bốn giai đoạn là “sinh,
lão, bệnh, tử” của nhà Phật, dù cá nhân tôi không được
học hỏi, không được nghe giảng dạy tới nơi tới chốn,
nhưng khi có ý thức, tôi cũng đã mặc nhiên được tiếp
nhận định luật, chân lý bất khả hoán chuyển này.
Kính
thưa quý vị, thưa quý bạn, nói cách khác, theo tôi, ảnh hưởng
của giáo lý Phật giáo trong đời sống tinh thần, tâm linh
của người Việt Nam, là một ảnh hưởng mặc nhiên, tự
nhiên. Nó có sẵn trong đời sống, như khí trời, ta thở mỗi
giây, phút; như nước, chúng ta uống mỗi giờ...Mặc dù, thường
thì, chúng ta chẳng bao giờ thắc mắc tự hỏi, về những
nguồn nuôi dưỡng sự sống ấy.
Lại
nữa, bất cứ ai, ở thế hệ của tôi, thế hệ đã bước
vào tuổi 60, nếu được đi học, và học hết bậc trung học,
thì, đều thấm nhuần những ý niệm về “từ bi,” “hỉ
xả,” về “nghiệp duyên, về “tâm,” về “tiểu” hay
“đại ngã”...vốn là những quan niệm triết lý của Phật
giáo, qua tác phẩm của những tác giả cổ điển...
Ảnh
hưởng triết lý Phật giáo mạnh mẽ nhất, rõ ràng nhất,
là tác phẩm Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, mà chúng
ta đã được học từ thời trung học.
Ảnh
hưởng của triết lý Phật giáo không chỉ đầy rẫy, cùng
khắp, trong các tác phẩm văn chương mà nó còn đầy rẫy
trong cả những câu ca dao, tục ngữ, tức trong văn chương
bình dân của người Việt Nam nữa.
Đó
cũng là một trong những điều mà, khi được mời nói về
tinh thần “Từ bi trong thi ca Việt Nam,” trong đại lễ kỷ
niệm “40 Năm Phật Gíao Việt Nam Nhập Cuộc,” do Giáo Hội
Phật Gíao Việt Nam Thống Nhất ở Hải Ngoại, tổ chức lúc
11 giờ trưa Thứ Bảy, ngày 23 tháng 8 vừa qua, tại phòng sinh
hoạt Người Việt, thành phố Westminster, miền nam tiểu bang
California, tôi cũng đã nhấn mạnh rằng:
“...Riêng
Việt Nam, là một trong những dân tộc được thấm nhuần
triết lý đạo Phật rất sớm, nên tinh thần Từ-Bi của đạo
Phật đã tiềm ẩn hay hiển lộ lộng lẫy trong văn chương
truyền khẩu - - Là giai đoạn văn học ta chưa có văn tự.
“Riêng
Việt Nam, là một trong những dân tộc thấm nhuần triết lý
Phật giáo rất sớm, nên tinh thần Từ-Bi của đạo Phật
đã tiềm ẩn hay hiển lộ một cách lộng lẫy, trong văn chương
bác học - - là giai đoạn văn học ta đã có văn tự - - Từ
giai đoạn văn chương chữ Hán, qua tới chữ Nôm, rồi chữ
quốc ngữ.
“Từ
tấm bé, trải qua hàng trăm thế hệ, chúng ta đã được hát
ru, bú mớn, được nuôi lớn bằng tinh thần Từ-Bi.
“Người
Việt Nam trải qua nhiều đời kiếp, không chỉ được thắp
sáng bằng ngọn lửa Từ-Bi trong tâm mình, để mang thương
yêu, đem độ lượng, hy sinh và, thương xót đến cho người
khác - - Mà, chúng ta còn được nhắc nhở phải đem ngọn
lửa Từ-Bi kia, đến với những hồn ma, bóng quế, những
sinh linh vì nghiệp nặng, không thể siêu thoát; qua lễ giỗ
hằng năm: Lễ giỗ “Ngày rằm xá tội vong nhân” - - Mà,
bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, còn được
lưu truyền đến hôm nay, là một điển hình, tiêu biểu...”
Kính
thưa quý vị, vì được thấm nhuần triết lý Phật giáo như
mọi người, từ tấm bé, nên tôi rất hân hoan, cho là thuận
duyên, khi nhận lời với quý Thầy trong Phật học đường
Vạn Hạnh, nói chuyện về đề tài “Ảnh Hưởng Phật Giáo
trong Thơ” của tôi.
Kính
thưa quý vị và, các bạn, mặc dù đề tài được ghi xuống
là ảnh hưởng Phật giáo trong thơ của tôi, nhưng để không
bị tản mạn, lan man, làm mất thì giờ quý báu của quý vị
và các bạn, tôi đã xin quý Thầy, cho phép tôi, giới hạn
phần nói chuyện của mình, trong tập sách mỏng của chúng
tôi, đó là thi phẩm “Vì em tôi đã làm sa di.”
Những
ai có trong tay cuốn sách mỏng kia, có thể không để ý tới
hàng chữ in nơi trang thứ 4 của cuốn sách. Đó là hàng chữ
Vì em, tôi đã làm Sa Di – Tuyển tập thơ thiền tính – Du
Tử Lê.
Kính
thưa quý vị, không phải vô tình, ngẫu nhiên mà nhà xuất
bản có hàng chữ Tuyển tập thơ thiền tính.
Khi
tôi yêu cầu nhà xuất bản ghi xuống hai chữ thiền tính -
- chủ tâm của tôi, muốn minh thị với người đọc rằng,
tập thơ nhỏ của tôi, không phải là một tuyển tập thơ
Thiền. Khi yêu cầu nhà xuất bản, ghi rõ điều đó, tôi muốn
tránh trước mọi nhăn mặt, khó chịu của những bậc thiền
giả; của những bậc thức giả có kiến thức sâu, rộng
về thiền - - luôn cả những văn nghệ sĩ từng cho biết có
làm thơ thiền, hay đã in thơ thiền!...
Khi
yêu cầu nhà xuất bản, ghi rõ điều đó, tôi muốn xác định
rằng, tập thơ nhỏ của tôi, chỉ là một tập hợp những
bài thơ có chút hơi hướm, hoặc phảng phất chút hương vị
Thiền, hoặc triết lý Phật giáo mà thôi.
Tuyển
tập ấy, không hề, và cá nhân tôi, cũng không có tham vọng,
gọi đó là một tuyển tập thơ thiền.
Kính
thưa quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni
Thưa
quý vị và các bạn,
Là
một người Việt Nam, cũng như bất cứ một người Việt
Nam nào khác, ở lứa tuổi của tôi, trải qua một tuổi thơ
tan nát, bầm dập trong chiến tranh, loạn lạc, lớn lên, vào
đời, chứng kiến không biết bao nhiêu thảm cảnh, đưa tiễn
không biết bao nhiêu người thân, ruột thịt, bạn hữu vào
nhà xác, tới nghĩa trang...
Cá
nhân tôi, với tuổi tác có thêm, càng lúc tôi càng nghĩ nhiều
hơn về hai phạm trù “nghiệp,” “tâm” của Phật giáo...
Với
tuổi tác có thêm, càng lúc tôi càng thấm thía về những
đối nghịch, hay tinh thần phân biệt nhị nguyên, mà danh từ
nhà Phật gọi là những cặp đối đãi...
Thí
dụ như: sống / chết; đen / trắng; còn / mất; thắng / bại;
được / thua; cao / thấp; ngắn / dài; trên / dưới; đi / về;
hạnh phúc / khổ đau; địa ngục / niết bàn; hận thù / tha
thứ; thương yêu / ghét bỏ; dài lâu / ngắn ngủi; vân vân...
Tinh
thần nhị nguyên hay những cặp đối-đãi kia, sau này, tôi
hiểu, sở dĩ có, là do nơi cái tâm-phân-biệt.
Kính
thưa quý vị và các bạn,
Những
suy nghĩ, ghi nhận, cảm nghiệm về giáo lý Phật giáo, ở
nơi tôi, cuối cùng, đã ảnh hưởng vào một số thơ, cũng
như văn của tôi...
Tôi
nghĩ, vì ảnh hưởng của triết lý Phật giáo mà tôi đã
có những câu thơ xóa bỏ tính nhị nguyên vốn hằng có mạnh
mẽ trong tôi.
Thí
dụ, qua bài “Phân biệt,” in nơi trang số 22 của thi phẩm
“Vì Em Tôi Đã làm Sa Di,” tôi viết:
ta,
có đâu! mà một
người,
có đâu! mà hai
trời
không hai, chẳng một
đất
không mộtchẳng hai
như
con gió tự tại
chưa
từng: trong với ngoài.
Hoặc
trong bài “Mất hay còn chưa hẳn khác nhau đâu,” nơi trang
58, tôi viết:
tôi
không thể chẻ đôi hình với bóng
như
em buồn có dễ mấy năm sau.
riêng
tôi đã bị tâm tôi phỉnh gạt
khi
hiểu ra thì tóc đã hai mầu.
............
tôi
không thể nghĩ rằng em đã khuất
mất
hay còn, chưa hẳn khác nhau đâu.
Hoặc:
Ai
là ta nhỉ? Ai là em?
là
một hay hai? Mất ở còn.
(Trích
“Bay suốt đời chưa thấy được mình,” trang 18, sđd.)
Hoặc:
muông
thú vì em ở với rừng
tôi
vì em ở với Kim Cang
thấy
nhau là một dâu còn ngã
thân
chẳng riêng thì tâm đâu có riêng.
(Trích
“Vì em tôi đã làm sa di,” trang 42,sđd.)
Hoặc
trong bài “Riêng sóng rao tìm: Em thất tung,” nơi trang 62,
tôi viết:
tìm
thấy trong ta một cửa vào
cũng
là lối ngõ để đi ra
nhớ,
quên quay tít đồng xu, cũ
còn,
mất truy lùng dăm bóng ma.
Hoặc
nữa, trong bài thơ nhan đề “Sinh, diệt,” ở trang số 71,
tôi viết:
trăng
vô thỉ, vô chung
em
vô hình, vô tướng
giọt
nước và, đại dương
vốn
cùng ta sinh, diệt.
Sự
trộn lẫn, tính gắn bó hữu cơ, khằn cứng giữa Tâm và,
Nghiệp; giữa Tâm bản chất nhị nguyên của con người trong
đời thường, đưa tôi tới những cảm nghiệm, thể hiện
qua bài “Chánh niệm,” nơi trang 74.
Ở
bài thơ này, tôi viết:
nhìn
nghiêng: cây thấy sương gieo nghiệp
những
sợi thời gian giăng rất xa
cái
tâm cười, bảo: nghìn, sau, trước
không
có tôi và, không: chúng ta.
Hoặc
như đoạn cuối cùng, của bài thơ nhan đề “bài buông, xả
học từ những vết thẹo chấp thủ, quá khứ,” trang số
100, tôi viết:
như
mây,
như
cá,
như
bầu trời,
như
biển cả,
như
tôi và, em
ngay
lúc này,
tất
cả, chúng ta:
-vốn
một.
Kính
thưa quý vị, thưa các bạn, về “cái tâm” bất trị, bất
an, và quan điểm “như thị” tức như là, hay bản chất
của mọi sự trên thế gian, luôn cả sự sống, chết của
những sinh vật hữu tình, đã mặc nhiên như thế, khi hiểu
ra, tôi viết:
con
giun đâu hỏi vì sao sống?
cái
gió không hề biết ở yên.
cái
tâm ngó vậy mà xuôi, ngược
con
mắt mai này: khép tự nhiên.
(Bài
“Và, Nguyễn Tự Cường,” trang 40, sđd.)
Hoặc:
tọa
thiền mỗi tối. Tâm thêm động
trí
quẩn hồn quanh những ngổn ngang...
(Trích
“Giống cõi âm,” trang 29, sđd.)
Ám
ảnh về quan niệm “nghiệp” của nhà Phật, ảnh hưởng
trong thơ tôi, qua bài “Cổ kiềng kiếp sau,” in nơi trang
số 11, như sau:
tôi
căng mình ngang âm, dương
cổ
đeo đá tảng. Chân giầm ván thiên
tôi
trầm mình trong hư không
chân
neo đời trước. Cổ kiềng kiếp sau.
Hoặc:
diện
bích ngàn năm vẫn bất an
nhờ
em thưa lại với Quan Âm
cõi
tâm tôi trụ nơi nào nhỉ
phải
chính tình em? Chính mắt em?
(Trích
“Sơn tự thi, trang 33, sđd.)
Kính
thưa quý vị, thưa các bạn,
Những
lúc gần đây, tôi cũng bị ám ảnh nhiều bởi những ý niệm
khá trừu tượng, là “danh-tánh,” “hình-tướng” - - Mà
theo giáo lý Phật giáo thì danh-tánh cũng do tâm phân biệt,
tâm chấp thủ mà có.
Và,
vẫn theo triết lý Phật giáo thì, đó chỉ là hư ảo, là
vọng tưởng, là ảo giác vì, tất cả cuối cùng, rồi cũng
chỉ là hư không mà thôi.
Khởi
từ quan niệm triết lý đó, của Phật giáo, thơ của tôi,
có những câu như:
đá
ngồi như vết nhăn,
rừng
ngồi như vô tận,
núi
ngồi như Quan Âm,
tôi
ngồi như cướp cạn,
biển
ngồi như nếp nhăn,
đời
ngồi như dấu hỏi,
tình
ngồi như vuông khăn,
phố
ngồi như mộ nổi,
em
ngồi như trăm năm:
-chỗ
ngồi không...tên gọi.
(Bài
“Danh, tánh,” trang 21, sđd.)
Hoặc:
ta,
biến mất như chưa từng xuất hiện
có
tôi không? Hình, tướng ở đâu cà?
sông
chảy miết, thủy chung không diện mạo
sóng,
lênh đênh, gió. Biển vẫn, như là.
(Bài
“Vẫn như, là,’ trang 79, sđd.)
Kính
thưa quý vị và các bạn,
Sau
nhiều đổ vỡ, nhiều tang thương, cá nhân chúng tôi cũng
suy nghĩ khá nhiều về cái mà giáo lý Phật giao gọi là “chấp
thủ” - - một trong những bản năng tự nhiên của con người.
Nhưng, đó lại là một trong những nguồn, những gốc tạo
ra, mọc lớn những thân cây đau khổ, bất mãn, sân hận...
Những
suy nghĩ về bản tính “nắm, giữ” của con người, của
chính tôi, khiến khiến tôi viết xuống những câu thơ mang
ý nghĩa khuyên nhủ, nhắc bảo chính mình rằng, hãy buông,
bỏ hình, buông bỏ tướng, buông bỏ cảnh, như sau:
nếu
hiểu rồi ra là cát bụi
kinh
nào uyên áo hơn vô ngôn
sơn
tự là tôi, em hãy trú
có
cũng xong. Mà, không cũng xong.
.........
hãy
khép trang kinh trả lại đời
cứ
gì sơn tự mới an vui.
(Sơn
tự thi, trang 33 và 34, sđd.)
Hoặc:
trì
tụng cho tình kinh vãng sinh
một
pho phụ rẫy. Một pho quên
đêm
đêm trăn trở Tăng và Pháp
ngón
nào là Phật? Ngón nào trăng?
(Trích
“Bay suốt đời chưa thấy được mình,” trang 18, sđd.)
Hoặc
nữa:
tấm
gương tiền kiếp soi không thấu
mỗi
loài chim: một cách bay riêng
đôi
khi đồng loạt va vô núi
từ
chối đời kia cách thản nhiên.
còn
ta: mất tích khi đang sống
(vẫn
sống không hề cật vấn chi!)
hỏi
đâu tên, họ? – Đây tên, họ
nhưng
của ai kìa. Không của ta!
(Trích
“Truy tầm lý lịch người không bóng,” trang 91, sđd.)
Kính
thưa quý Chư tôn đức tăng, ni,
Thưa
quý vị và các bạn,
Tôi
vừa gửi tới quý vị và các bạn, vài cảm nghiệm thô thiển
một cách rất CHỦ QUAN của tôi, về những cái mà, tôi cho
là tôi đã nhận được trực tiếp, hay gián tiếp từ triết
học, từ giáo lý Phật Giáo.
Khi
viết xuống những dòng thơ đó, tôi không có một ý nghĩ
nào, khác hơn sự tự nhắc nhở, tự răn dạy chính mình.
Vì
thế, tôi lập lại, tập thơ “Vì em tôi đã làm sa di,”
chỉ là một tuyển tập thơ thiền tính! Cá nhân tôi không
hề cho nó, hay gọi nó là thơ Thiền.
Do
đó, mọi ngộ nhận, mọi danh, tánh, chủ tâm nào khác nếu
có, gán ghép cho nó, thì, bằng vào tinh thần “hỷ, xả”
của nhà Phật, xin quý vị hiểu cho, đó không phải là tâm,
ý của cá nhân tôi.
Trân
trọng cảm ơn quý chư tôn đức tăng, ni; quý vị và các bạn.
Nam
Mô A Di Đà Phật.
DU
TỬ LÊ
(Calif.
Sept. 18th. 2003.)
(*)
Vì em tôi đã làm sa di, Tống Châu, Canada xuất bản, 2001. Tạp
chí Pháp Âm, Hoa Kỳ, phát hành. Địa chỉ liên lạc, Pháp
Âm, P.O.Box 496405, Garland, TX 75049-6405, USA.
Source:
http://www.globalbuddhism-online.org/chuaquocte/dutule200903.htm
Xem
Tiếp: Trang
01