|
|
c
From:
Hoa Nguyen <thanhhuy@email.msn.com>
Date:
Sat Jan 20, 2001 4:29pm
Subject:
Vào Ðịnh : Theo Zen (5)
Theo tác giả Katsuki
Sekida)
Khi một thiền
sinh nắm được thoại đầu Mu (Vô) trong toàn định thì được
bảo thử làm lại điều đó trong ánh sáng của lý trí. Ðiều
gì biết được bằng trực giác thì làm nẩy sinh lòng tin
tưởng chủ quan, nhưng nó nên được lý trí soi sáng để
thành tựu một tri thức được xác nhận là khách quan. Một
sự hiểu biết được xác nhận là khách quan trong Zen phải
được thể hiện trong vài khái niệm và ý tưởng. Có hai
cách vận dụng khái niệm : (1) thuần túy là công việc của
trí tuệ, khái niệm này tạo chồng lên khái niệm khác. hoặc
là (2) tạo ra bằng nối kết mỗi khái niệm với chính kinh
nghiệm thực tế của chúng tạ Ðây là phương pháp dùng trong
Zen. Bất cứ đang tu tập với công án nào, chúng ta không coi
nó là điều khảo sát bằng trí tuệ trừu tượng. Nó phải
trở nên một phần của chúng tạ Làm sao làm được điều
này?
Chúng ta có thể
lấy thí dụ thứ nhất sau đây : " Không nghĩ thiện không
nghĩ ác, thì ngay lúc đó Tự Tánh ban đầu của bạn là gì
?". Giải quyết vấn đề này bằng cách tìm ý tưởng hay khái
niệm học từ trong sách và từ các thứ triết học thì không
có ích chị Ðiều gì bạn học được là vay mượn từ kẻ
khác, và không bắt nguồn từ chính kinh nghiệm bản thân.
Vậy ta phải giải quyết thế nào với công án ? Hãy đọc
lại công án, đưa cả tâm trí vào, trong một hơi thở ra dùng
phương pháp thở cắt quãng ( tức mỗi hơi thở ra dừng lại
hai lần). Bạn đọc lại từng âm, từng tiếng, và đặt hết
sự chú ý lên trên mỗi tiếng. Mỗi lần thay đổi âm, bạn
hãy làm căng những cơ hô hấp ở bụng. Khi một tiếng hay
một câu được giữ trong trí trong một thời gian dài, mà
không trộn lẫn với những nhân tố khác, thì dường như
nó thấm nhập vào từng phần của não bộ . Sự thấm nhập
của ý niệm vào khắp não sản sinh ra một hiệu quả kỳ
diệụ Chúng ta đọc sách với độ mau bình thường không
làm xảy ra sự thấm nhập như thế. Nhưng đôi khi nó xảy
đến khi chúng ta đọc một bài thơ của một thi sĩ mà chúng
ta đặc biệt ngưỡng mộ, hay đọc Kinh Thánh, dừng lại trên
mỗi chữ và dành cho nó nhiều thời gian. Vào những lúc đó,
bạn có thể đọc từng lời, cẩn thận và tán thưởng sâu
xa; thình lình đoạn văn như mang ý nghĩa vô hạn, dường như
là lời mặc khải đến từ trời . Bất cứ ai đã từng đọc
Kinh Thánh với lòng sùng mộ phải có được cái kinh nghiệm
như vậỵ Chúng ta gọi cách đọc này "ngôn ngữ Ðịnh" ,
và đó là điều chúng ta phải làm khi đọc một công án Thiền.
Ý niệm không
ngừng hoạt động khi đã thâm nhập được vào nãọ Ngay
cả trong khi không còn được chú ý tới nữa, ý niệm vẫn
kiên trì hoạt động ngấm ngầm và gây ra một hiệu quả
nào đó. Khi thời cơ đến, hiệu quả này sẽ bùng lên trên
bình diện ý thức, và chiếm lấy sự chú tâm. Cái gọi là
cảm hứng là một thí dụ về chuyện đó đã xảy rạ Nó
không phải thực sự đến từ bên ngoài, nhưng từ sản phẩm
của ý niệm đã lên men. Khi bạn đọc lại, như tả ở trên,
"Cái gì là tự Tánh lúc ban đầu ?" thì thình lình, vào lúc
nào đó, Tự Tánh sẽ bật tung ra và đứng trước bạn với
tất cả vẻ uy nghi rực rỡ. Tự Tánh là sự hiện hữu thanh
tịnh, đã được nhận biết ở bên trong khi bạn đi vào cơn
Ðịnh sâu, và bây giờ nó bật lên, trở ra vùng tập trung
của ý thức.. Nhưng nó đã biểu lộ như thể nó đến từ
bên ngoàị Cái hình thức nó mang theo thay đổi tùy người
.Chúng ta có thể xem vài thí dụ
Tiếng Củi Ðổ
:
Có nhà sư thình
lình thấy được Tự Tánh khi nghe tiếng của đống củi đổ
xuống . Trong âm thanh đó, ông nghe mọi thứ đều sụp đổ
_ vọng tưởng, thói quen tư duy của ý thức _ để cho sự
hiện hữu tinh tuyền phô bày rạ Nhưng sự thật là sự sụp
đổ đó đã xảy ra từ lâu trong cơn toàn Ðịnh của ông.
Nhận biết được Tự Tánh chỉ là thấy biết nó lần đầu,
như thể sự sụp đổ xảy ra ngay vào lúc ông nghe tiếng củi
đổ xuống. Sự hiện hữu thanh tịnh đã hiện bày tiếp theo
sự sụp đổ , và mang dáng vẻ phổ biến; cùng lúc, nó lại
là biến cố xảy ra bên trong con người ông. Vào lúc như thế,
người ta nghe tiếng đống củi đổ xuống như tiếng cả
vũ trụ này sụp đổ. Nhà sư nghe núi đồi , thung lũng, rừng
cây, và mọi vật rơi đổ vào trong vùng nội tâm với tiếng
thét gào dữ dộị Nhiều kinh nghiệm như thế được các
thiền sinh kể lại, và có rất nhiều thí dụ trong sách chuyện
về Thiền. Ðây là những câu chuyện về Kiến Tánh. Kiến
Tánh là một sự biến xảy ra trong Cận hành Ðịnh, khi ý
thức tiếp chạm với thế giới bên ngoàị
Thấy Hoa Ðào
Nở :
Một nhà sư (tên
Chí Cần) khám phá ra Tự Tánh khi ông thấy hoa đào nở. Không
lạ gì khi có nhiều người có ấn tượng sâu đậm vì cảnh
hoa đào nở. Nhưng nói chung, điều này xảy ra trong vùng hoạt
động thông thường của ý thức , và đó là do ảnh hưởng
của thói quen lâu dài nhìn ngắm sự vật như là công cụ
mà không thấy được vẻ đẹp tinh tuyền của chính sự vật.
Trong toàn Ðịnh, trái lại, cái thói quen này của ý thức
rơi đổ, và người ta đăm đăm nhìn thế giới bên ngoài,
không nháy mắt. Lúc đó mọi vật được nhận thấy là đang
phát ra ánh sáng rực rỡ.
Kinh nghiệm này
không xảy ra tình cờ cho nhà sư đang có nan đề. Từ lâu
ông đã trải qua nhiều lần toàn Ðịnh, và đã làm cho thói
quen của ý thức rơi rụng để hiển lộ cái hiện hữu tinh
tuyền. Nhưng người ta ít khi có ý thức về chính kinh nghiệm
chủ quan của mình khi đang trong trạng thái Ðịnh. Tuy nhiên,
bởi vì kinh nghiệm này có tính chất phổ quát, nên nó phóng
chiếu lên những sự vật của ngoại giới, và không tránh
được chuyện một ngày kia nhà sư có dược ý thức về chuyện
Kiến Tánh. Nhà sư thấy sự hiện hữu thanh khiết được
phóng rọi lên những cánh hoa đàọ
Tiếng viên Sỏi
Chạm Vào Thân Tre :
Một nhà sư (tên
Hương Nghiêm ?) đang quét ngôi mộ Tổ, nhận ra được Tự
Tánh khi nghe tiếng viên sỏi bị chỗi quét văng chạm vào
thân trẹ Kinh nghiệm Kiến Tánh thường liên hệ với hoạt
động thấy, nghe, sờ chạm, và các cảm giác khác. Trong tình
trạng thuần khiết, giác quan nhận biết trực tiếp được
sự hiện hữu của ta và của người khác. Ðây là sự nhận
thức tinh tuyền (tức "hiện lượng" theo Duy Thức học). Nhưng
tình trạng thuần tịnh của nó thường bị nhiễm ô trong
đời sống hàng ngày, và bị làm dơ xấu bởi tham dục và
kiến chấp vị ngã, do đó không có được sự nhận thức
tinh tuyền. Mục tiêu rất đơn giản : nếu cách hoạt động
quen thuộc của ý thức rơi rụng đi thì mọi thứ sẽ tốt
đẹp. Trở lại câu chuyện, khi nhà sư đang quét, thình lình
có tiếng viên sỏi chạm vào thân tre tạo ra một âm thanh
r ràng, rung động. Viên sỏi trở thành sống động, thân tre
và âm thanh cũng sống động. Hình dáng, màu sắc, mọi thứ
ở mọi nơi, đều tràn đầy sự hiện hữụ Và ông nghe chính
tiếng gọi của hiện hữụ Ngoại giới vẫn có thực đó,
chung quanh chúng tạ Nhưng sự hiện hữu này thường bị che
phủ bởi chính con mắt của tạ Cách làm việc quen thuộc
của ý thức làm chúng ta nhìn sự vật một cách máy móc,
và nghĩ là chúng đã chết. Chỉ khi nào cái nhìn máy móc này
bị bỏ rơi, thì sự hiện hữu sẽ phô bày ra, không chút
che đậỵ Nhà sư trên đã tiếp xúc trực tiếp với sự hiện
hữụ Âm thanh phát ra từ thân tre cũng là tiếng kêu gọi
bên trong của thiền sư, và cùng lúc đó tiếng gọi này lan
ra khắp thế giớị
Tại Sao Bồ Ðề
Ðạt Ma Không Râu ?
Có một công án
hỏi :" Tại sao Bồ Ðề Ðạt Ma không có râu ?". Bồ Ðề
Ðạt Ma tiêu biểu cho Phật Pháp chân thực .Thường hình vẽ
của ông có râụ Nhưng công án này nói Ðạt Ma không râụCái
ý thật sự là muốn nói Pháp chân thật không những không
có râu, mà còn không mắt, không mũi, không miệng, không mặt,
không tay chân, không thân thể. Trong sách Hekigan Roku, trường
hợp 88 viết :" Mù, điếc, câm, nó được ngăn cách tuyệt
đốí khỏi hoạt động của ý thức ". Sự ngăn cách tuyệt
đốí chẳng gì khác hơn là toàn Ðịnh. Nhưng công án này
không phải chỉ nói về toàn Ðịnh , mà cũng nói về những
việc làm tích cực trong đời sống. Khi bị mù, điếc và
câm thì làm sao bạn có thể hoạt động trong đời sống thực
tế ? Trong cuộc tranh giành danh lợi, có thể nào bạn là kẻ
điền rồ : leo lên vực thẳm mà không dùng tay, nhảy ra khỏi
đầu sào cao trăm trượng ?
Nếu bạn buông
tay không bám vào vực, bạn sẽ bị rơi xuống và mất mạng,
nhưng trong những việc làm về tâm bạn nên làm vậỵ Bạn
phải ném bỏ đi những gì ý thức đã tích lũy từ thời
thơ ấu, nghĩa là cái bản ngã vọng chấp của bạn. Trong
toàn Ðịnh, dễ dàng để buông bỏ, nhưng trong đời sống
thực tiễn , buông bỏ cái ngã là điêù khó khăn. Bạn tự
bảo đừng ghét người khác, dập tắt sự tức giận, không
để bị cám dỗ, diệt trừ lòng ham muốn có được danh tiếng
, quyền lực, vinh quang hảo, vân vân, những bạn không thể
theo đúng điều luật của bạn. Bạn cũng không thể bỏ đi
râu, đừng nói là bỏ được mắt, mũi, miệng, và chính cái
mặt. Nhưng người thật sự giác ngộ không có mặt mũi khi
nói chuyện, thưong lượng, và thảo luận những vấn đề
nghiêm túc của đời sống. Họ không có gì để giữ lại,
giữa những hoạt động bận rộn của ý thức. Giữa ngọn
lửa cháy bừng của sự sống, họ giữ được tâm trí thật
thanh tịnh, và chiếu sáng như đoá hoa sen trong lò lửạ
Nguyễn Hòa
From:"Hoa Nguyen"
<thanhhuy@email.msn.com> Save Address - Block Sender
Reply-To: hoasen-1@egroups.com
To: <hoasen-1@egroups.com>,
<vn-buddhism@egroups.com> Save Address
Subject: [hoasen-1]
Vào Ðịnh: Theo Zen (6)
Date:Mon, 22 Jan
2001 22:51:17 -0800
(Theo thiền sư
Katsuki Sekida)
Thời
Gian Tâm Lý và Toàn Ðịnh
Trong toàn Ðịnh
không có thời gian. " Không thời gian" có nghĩalà chỉ có hiện
tạị Ðiều này không phải chỉ đúng khi trong Ðịnh đạt
tới nhờ tập Thiền, nhưng cũng đúng khi ta can dự vào những
công việc nghiêm trọng. Thí dụ, khi dự một kỳ thi quan trọng,
bạn nhận thấy thời gian qua mau quá. Một giờ mà như chỉ
có năm phút. Thật ra, bạn bị công việc thu hút vào một
tình trạng giống như Ðịnh, và thời gian tâm lý của bạn
thành ngắn lạị Bạn đặt hết sự chú ý vào công việc,
không còn chỗ cho hành động phản tỉnh của ý thức. Tâm
trí hoàn toàn bị thu hút, bạn không có ý thức về bạn,
vềý tưởng, hay cách hành xử. Bạn không có thời gian. Hay,
nói cách khác, chỉ có thời gian của hiện tại, và trong thời
gian hiện tại đó nhiều chuyện đến rồi đi, nhiều sự
việc xảy ra rồi kết thúc.
Thời gian hoàn
toàn biến mất trong Ðịnh, và không gian cũng biến mất. Nhân
quả cũng mất. Chỉ còn lại một chuỗi sự việc xảy rạ
Cái tình trạng không có thời gian, không gian, nhân quả này
được nhận biết đơn giản, không cần bàn cãi, là kinh nghiệm
tiếp liền theo trong toàn Ðịnh.
Trong toàn Ðịnh,
thời gian, không gian và nhân quả rơi rụng đi, và do đó cách
suy tư quen thuộc của ý thức bị sụp đổ. Vậy điều gì
xảy ra tiếp theo ? Có một nhận thức đến bất chợt về
sự không có đối lập giữa nhị nguyên, khi chúng ta thực
nghiệm về tính nhất thể của mọi vật. Từng lúc tiếp
theo nhau, chỉ có hiện tại đến rồi đi trong thời gian Ðịnh,
làm thành một dòng liên tục của hiện tạị Chỉ trong hiện
tại mới có thể nói là chúng ta hiện hữụ Do bản chất
của Ðịnh, chúng ta không nhận biết được điều này, nhưng
sau đó chúng ta nhận biết lại , khi xuất Ðịnh. Do kinh nghiệm
này, chúng ta biết rằng đời sống trong hiện tại là tuyệt
đối độc lập và là sự hiện hữu chân thật của chúng
tạ
Mặt khác, khi
nhìn lại vào bên trong , chúng ta nhận thấy mỗi ý niệm xảy
ra đều ảnh hưởng đến tất cả ý niệm tiếp theo saụ
Ngay cả một ý niệm ngắn nhất , kéo dài trong một phần
nhỏ nhất của một giây, dù có được nhận biết hay không,
cũng không thể đi qua mất mà không để lại hiệu quả của
nó lên ý niệm tiếp theọ Chúng ta có thể nói đây là sự
biểu hiện của Nghiệp. Mỗi hành động để lại ảnh hưởng
trên hành động kế tiếp. Giây phút hiện tại này thừa hưởng
tất cả sự biến xảy ra trong quá khứ, không loại trừ bất
cứ điều gì, đã truyền lại cho chúng ta từ những chu kỳ
nhiều vô số của hiện hữụ Trong ý nghĩa đó, hiện tại
này tùy thuộc hoàn toàn vào quá khứ. Nó lại vọng cầu ở
tương lai, và sự mong vọng này gây ra sự lệ thuộc vào tương
lai nữạ
Không Có Ngã Nhưng
Có Nhân Quả
"Không có con người,
nhưng có nhân quả" là một thiền ngữ có ý nói tất cả
hiện tượng là kết quả của chuỗi liên tục về nhân quả
, và không có một thực thể gọi là Ngã. Lúc này tiếp theo
lúc khác, sự hiện hữu này tự kế tục và luôn luôn thay
đổị
Nguyễn Hòa
x
|