|
|
c
From:
"Son Havan" <havanson@hotmail.com>
To:
hoasen-1@egroups.com
Date:
Mon, 08 Jan 2001 06:22:38 -0000
Subject:
[hoasen-1] Tu Phuoc hay Tu Hue
Kính thưa các
đạo hữu:
Tôi thường hay
đến chùa và thỉnh thoảng có nghe vài người bạn đạo nói
rằng: "Nếu kiếp này chỉ tu phước mà không tu cầu giải
thoát, thì sự tu phước của kiếp này sẽ là tai họa cho
kiếp thứ bạ" Như vậy ý này là thế nào? Và kiếp này có
nên tu phước không hay là để tránh kiếp thứ ba khỏi bị
tai họa thì nên tu giải thoát? Và tu giải thoát là tu cái
gì? Kính mong quý vị chỉ giùm cho chúng tôi r để hiểu.
Ða tạ
Hà Văn Sơn
From:
"Lotus Productions"
BAI
MOI: Phuoc Nghiep Cho Hanh Trinh Tien Tu ,Vien Nhan http://www.lotuspro.net/01-2001/phuocnghiep.htm
Phước
Nghiệp Cho Hành Trình Tiến Tu
Khi
bước chân vào ngưỡng cửa học Phật, chúng ta thường nhắm
đến tu huệ hơn là tu phước, đa phần đều cho rằng đó
là con đường hướng tới sự giải thoát, phước vì vậy
được xem là thứ yếu. Hôm nay chúng tôi xin đưa ra một vài
quan điểm về việc gieo trồng nhân phước và phước quan
trọng như thế nào cho người Phật tử.
Chúng ta được
dạy phải diệt Tham Sân Si thì mới phát sanh công đức . Chúng
ta phải thường xuyên sống trong Chánh Niệm, phải luôn canh
chừng quán xét mọi tư tưởng để phát hiện những thói
hư tật xấu, để nhằm điều phục tâm. Việc làm này thực
không phải là dễ khi mà chúng ta đến c i này với một cái
tâm chất chứa tam độc từ vô lượng kiếp. Muốn xuyên thủng
màn chắn này đi vào chơn tâm không phải đơn thuần giải
quyết bằng một vài khoá tu thiền hay như người theo Tịnh
độ, cứ trì danh niệm Phật để vọng niệm không phát khởi.
để được nhất tâm bất loạn. Rất nhiều, rất nhiều người
không chú ý đến lời Phật dạy trong Kinh A-Di-Ðà : "Xá Lợi
Phất ơi! Không thể dùng một chút nhân duyên của căn lành
phước đức mà được sanh sang nước Cưcỉ Lạc kia . . ."Thật
r ràng, thiếu phước thì không thể về cảnh giới đó được
. Chính vì không chú tâm đến việc làm phước đã khiến
chúng ta phải có mặt ở c i ta bà này và dòng luân hồi sẽ
theo chúng ta bất tận.
Chúng ta nên tận
dụng thân người này để thực hiện viêc gieo trồng nhân
phước. Tuy nhiên, cũng đừng bị những phê phán của một
số người cho rằng, những việc phước chúng ta làm là phước
thế gian, phước hữu lậu. Nếu chúng ta không bắt đầu từ
những cái nhân phước tầm thường này thì nhân Bồ đề
không được tăng trưởng, vọng niệm chưa bị khử trừ thì
tham sân si vẫn còn đó thì muôn kiếp cũng không gieo được
nhân giải thoát.
"Chúng ta sám hối
thường đọc rằng ta không cần phước báo nhơn thiên, Thanh
văn, Duyên giác, Bồ tát quyền thừa trở xuống. Chúng tôi
nghĩ, chúng ta cần phước báo nhơn thiên, chỉ hàng lậu tận
La hán trở lên mới không cần; họ không cần vì đã có thừa,
không phải có rồi không cần. Không cần Thanh văn, Duyên giác,
Bồ tát quyền thừa trở xuống với điều kiện phải nhập
được chơn thừa mới không cần quyền thừa. Thử nghĩ quả
vị Bích Chi Phật không dễ gì đạt được mà nói không cần.
Thật vậy, hàng Duyên giác đã thấu r lý nhân duyên, hiểu
biết của họ bằng với Ðức Phật, chỉ kém Phật ở phước
báo vô lậu, vì chưa hành Bồ tát đạo, chưa cứu nhân độ
thế. Hoặc hàng La hán đã đoạn trừ hoặc nghiệp, hoàn toàn
tốt, nhưng người chưa nghe theo vì phước đức chưa có. Hàng
quyền thừa Bồ tát tự bản
thân không thể
làm được, phải nương theo Phật mới tạo được công đức.
Nói chung, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát quyền thừa đều có
trí tuệ, nhưng thua kém Phật ở phước đức. Chúng ta tự
xét xem mình đang ở vị trí nào trong hàng tam thừa: Thanh văn,
Duyên giác, Bồ Tát quyền thừa và đã đến Phật thừa hay
chưa. Nếu không, thì phải lùi trở xuống phước báo nhơn
thiên, tức phước báo hữu lậu để tự kiểm xem mình có
đủ hay không."
(Trích đoạn
TRỤ PHÁP & LỰC GIA BỊ CỦA PHỔ HIỀN, HT Thích Trí Quảng)
Vì nghiệp mà
chúng ta có mặt ở c i này -ngoại trừ vì hạnh nguyện độ
sinh của những bậc Bồ tát- và cách chuyển nghiệp hay nhất
là phải làm phước. Nhưng để tạo được công đức, chúng
ta không nên dính mắc vào danh lợi trong việc làm phước và
điều quan trọng là phải biết hồi hướng cho muôn loài chúng
sinh trong khắp pháp giới. Làm phước mà không hồi hướng
thì chúng ta vẫn còn vướng vào tâm vị kỷ, công đức không
được phát sinh, làm chậm đi tiến trình giải thoát .
Phước quyết
định cho tiến trình giải thoát , chúng ta có thiền , có niệm
Phật cho tâm được định tỉnh trong cận tử nghiệp cũng
do phước, phước giúp chúng ta đẩy lùi những nghiệp xấu
ác của nhiều kiếp trổ ra. Vả lại cho đến sát na sau cùng
, Ðức Phật cũng không bao giờ bắt chúng ta phải trải qua
một cuộc thi nào để đo lường huệ mạng của mình. Cổ
nhân thường nói: "Ðức năng thắng số" , "Có đức mặc sức
mà ăn". . . hay những người thoát hiểm trong một tai nạn
thường nói nhờ phước mà thoát chết, chứ không ai nói nhờ
huệ mà thoát chết bao giờ.
"Ði buôn cần
vốn, Ði tu cần Phước" , đó là chân lý không chối cải.
Khi thiếu phước thì đời chúng ta gắn liền với chướng
nạn, không chống đỡ được. Vì không được hướng dẫn
đúng đắn nên đa số Phật tử hiểu sai về phước đức
của việc bố thí, khi đã hiểu sai thì ví như việc hạt
giống (nhân phước) được gieo trên sỏi đá sẽ không cho
hoa trái tốt đẹp nào. Trên bước đường tu có những vị
Thầy không đi trọn cũng vì thiếu phước, đành rằng trong
Ðạo Phật có những giới luật để kềm chế người xuất
gia. Tuy nhiên, có giữ giới được hay không cũng phải tùy
vào phước, phước tác lực cho chúng ta thấy sự sai trái
để không vấp phạm.
Trong lục độ
Ba La Mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền
định, Trí Huệ) thì Bố thí là hạnh đầu tiên trong 6 hạnh
của Bồ tát và nó cũng là nền tảng cho cả sáu Ba La Mật.
Nhìn vào đó chúng ta sẽ thấy được việc gieo trồng nhân
phước là quan trọng dường nào, một người với tâm hành
thiện thì tự nhiên sẽ bớt đi những vọng niệm, tham sân
si từ từ sẽ vơi đi, những gì chúng ta làm hay nghĩ cũng
vì sự lợi lạc cho người . Một người sống với tâm bi
thì luôn biết đau trên niềm thống khổ của kẻ khác và
ngược lại, có được niềm hỷ lạc khi thấy những thành
tựu thiện lành mang đến cho người. Nếu sống như vậy thì
những hạt giống thiện pháp trong chúng ta ngày càng vươn
mạnh, chúng ta sẽ có được sự gia hộ của long thần hộ
pháp, của chư Phật, chư Bồ tát. Sự gia hộ này là những
làn sóng (che chở, bảo vệ . . .) lúc nào cũng được lan tỏa
ra khắp pháp giới và chỉ có những ai có đủ phước báo
mới nhận được những làn sóng này. Như vậy, một người
với nhiều thiện pháp thì người đó đã có một đài bắt
sóng cực mạnh, họ sẽ bắt được những làn sóng gia hộ
này một cách tự nhiên. Phước như mộtụ vòng đai che chở
chúng ta thoát được những hiểm nạn, có những việc chúng
ta tưởng chừng như buông xuôi hàng phục, vậy mà có thể
vượt thoát dễ dàng. Phước hiểu theo nghĩa rốt ráo, nếu
bất cứ việc thiện lành nào làm được mà chúng ta không
dính mắc vào danh lợi và hồi hướng những việc làm này
thì quả báo mang đến rất là lớn, chúng ta tự nhiên sống
trong suối nguồn an lạc, không điều gì có thể làm chúng
ta mất
bình tỉnh hay
tham sân khởi lên. Nếu có được những thiện tri thức cùng
chung trên con đường cầu đạo giải thoát thì cũng là một
trợ duyên rất lớn, tâm từ của những người này lan tỏa
ra cũng có thể làm nhẹ đi những ác pháp đang tiềm tàng
trong ta. Ðó là những xúc tác giúp chúng ta xuyên thủng màn
tối dầy đặc , tiến gần đến chơn tâm đã bị chôn vùi
bởi làn sóng vô minh từ vạn kiếp xa xăm.
Phóng sinh
Phóng sinh là một
hạnh lành nhằm tăng trưởng tâm từ. Khi nói đến phóng sinh
thì chúng ta thường nghĩ tới những con chim bị nhốt trong
lồng được quý Phật tử mua đem về chùa, trước hết nhờ
quý Thầy cầu an, cầu siêu cho người thân trong gia đình và
sau cùng, chú nguyện cho những chúng sinh này trước khi được
thả ra.
Phóng sinh là một
việc làm rất tốt nhưng chúng ta cần phải xét lại việc
phóng sinh chim. Chim bị bắt nhốt vào lồng vì có những người
muốn phát tâm phóng sinh, điều này có nghĩa, nếu không có
người mua chim thì chim không bị giăng lứới và nhốt vào
lồng nhân những ngày đại lễ của Phật giáo. Qua sự kiện
này chúng ta nhận thấy, vì muốn phóng sinh nhằm tạo phước
mà người phóng sinh vô tình vướng vào nghiệp sát. Tại sao?
Vì có những con chim chết dọc đường do ngộp nắng trong
những chiếc lồng chật hẹp từ quê lên thành. Thêm vào đó
, vì mất nhiều thời gian để cầu an, cầu siêu nên chim phải
chịu thân phận tù đày thêm một thời gian nữa. Cuối cùng
chim cũng được sổ lồng, nhưng một số yếu sức bay không
được, rớt xuống chết gục ngay tại chổ phóng sinh. Trước
việc làm không đúng Chánh pháp này , chúng ta cần chấm dứt
việc làm tưởng chừng gieo trồng nhân phước mà thực ra
đã vô tình gây ra nghiệp tội. Tại sao những loài chim này
đang sống tự do, bổng nhiên bị lưới bắt vào lồng rồi
được thả ra với mỹ từ "phóng sinh". Việc phóng sinh sẽ
thành tựu viên mãn hơn nếu những con vật được phóng sinh
không vì chúng ta (người phóng sinh) mà bị bắt. Thí dụ,
khi đang ngồi ăn tại một nhà hàng hay đi ngang một tư gia
nào đó, chúng ta chợt thấy một con chim đang bị nhốt lẻ
loi trong lồng, chúng ta đề nghị trả cho người chủ một
số tiền để phóng sinh con chim này.
Một cách phóng
sinh thiết thực khác mà chúng ta nên hướng tới là phóng
sinh cá hoặc rùa, cua, tôm, sò, ốc vv chúng ta có thể ra chợ
cá lựa những con cá còn sống - cá có bụng trứng càng tốt
- mua đem ra sông ao để thả. Việc làm này rất có ý nghĩa
của việc cứu tử vì r ràng những con cá này sắp bị chặt
đầu.
Nếu chúng ta đang
ở hải ngoại thì nhờ người thân ở VN làm việc phóng sinh
này và nên căn dặn họ, hãy nên vì tâm từ ban trải khi đi
mua những sinh mạng này, do đó cũng không nên kỳ kèo trả
giá quá, tuyệt đối không nên khó chịu gắt gỏng với người
bán. . . . Tiến trình của việc gieo nhân phước này phải
rất cẩn thận từ chút, vì phước đức có được hay không
cũng do cách hành xử của chúng ta. Cố gắng niệm Phật trên
đường từ nhà đến chợ, niệm liên tục để có sự gia
hộ vì những sinh mạng chúng ta sắp chọn cũng là mẹ cha
của mình trong vạn kiếp xa xăm. Sau khi mua xong, đem thả gấp
tới một ao sông nào đó tạm an toàn dù chỉ là một khoảng
đời ngắn ngũi, trước khi thả hãy chú nguyện cho cá, đại
khái như sau:
Nam Mô A Di Ðà
Phật
Hởi những chúng
sinh yêu kính,
Hôm nay chúng tôi
có được nhân duyên phóng sinh các bạn, chúng tôi biết vì
nghiệp sát mà các bạn phải làm thân cá. Chúng tôi mong rằng,
với sự tự do này các bạn sẽ tìm thấy nguồn phúc lạc
có được trong khoảng đời ngắn ngũi. Cầu xin chư Phật
gia hộ cho các bạn sẽ thoát được nghiệp cá, được làm
thân người để được thân cận Tam Bảo , nương theo Chánh
Pháp cho tiến trình thoát vòng sinh tử luân hồi . Nếu có
được chút phước đức nào trong việc làm này, chúng tôi
xin hồi hướng đến muôn loài chúng sinh trong khắp pháp giới
và cầu nguyện cho mọi loài sớm thoát khỏi khổ đau, tai
ương, tật bệnh. - Nam Mô A Di Ðà Phật
Một người nếu
phát tâm phóng sinh đúng cách sẽ là thiện duyên có được
trong hiện kiếp để chuyển nghiệp mình, nhờ việc làm này
mà chúng ta làm vơi đi nghiệp sát đã vướng phải trong vô
lượng kiếp . Theo giáo lý nhân quả khi giúp một chúng sinh
được sống thì cũng có nghĩa quả báo mang tới là thọ mạng
của chúng ta được kéo dài, được sống với một thân mạng
lành mạnh, không tật bệnh. Chúng ta chỉ có thể hành thiện
khi còn được thân người , nhờ đó mới gieo trồng nhân
phước làm vơi đi nghiệp tội của chúng ta. Một người có
làm phước được hay không thì cũng tùy vào thiện pháp có
được của họ , chúng ta đã từng kinh nghiệm khi phát tâm
làm 1 việc thiện nào, ban đầu chúng ta hăng say thế nào thì
sau đó chúng ta chùn bước thế đó. Tâm nghi ngờ phát khởi
lên để chúng ta buông bỏ, tâm nghi này có được là do tác
lực của ác pháp. Trong tâm chúng ta viện ra nhiều lý lẽ
để bào chữa cho việc không giúp người và thường rất
hài lòng với những luận cứ đưa ra, thậm chí còn mừng
rỡ "may quá, mình không bị gạt!". Nếu huân tập việc làm
phước trở thành một phản xạ tự nhiên thì tâm từ chúng
ta đã vượt trên một bình diện cao, chúng ta không còn sự
nghi ngờ , không còn tính toán , những gì chúng ta làm cũng
với tấm lòng phụng hiến cho tha nhân. Làm được như vậy
khi sống, thì khi giáp mặt với cận tử nghiệp , chúng ta
sẽ có được tâm định tỉnh, chúng ta sẽ nhớ lại những
thiện sự mà chúng ta đã từng làm, niệm thiện lành sẽ
phát lên trong chập tư tưởng cuối cùng và đó là điều
quan yếu cho tiến trình giải thoát.
Nhân đây chúng
tôi xin kể lại một kinh nghiệm mới xảy ra cho đạo hữu
NC, một Việt kiều ở Pháp . Tháng 11-2000 , trong thời gian
ở VN cô đã tham gia nhiều công tác từ thiện, nhất là mua
thật nhiều cá để phát tâm cho hạnh phóng sinh. Sau khi lên
núi tham quan một ngôi chùa ở Vũng Tàu trở về thì cô lâm
trọng bệnh , vì vốn có sẵn bệnh tim nên cô đã cận kề
với cái chết, cô đã phải dùng 1 dược chất cực mạnh
để đi thẳng vào tim. Tuy nhiên thuốc đã không giúp được
gì cho cô trong lúc này, hơi thở cô trở nên ngắn lại, cô
ói mửa liên miên , đầu óc choáng váng , mở mắt ra không
thấy gì chung quanh, thì chỉ toàn thấy một cụm đen cuốn
tròn như đưa vào 1 đường hầm đen tối, cô thật ngột ngạt
, không dám mở mắt ra . . . Sau đó cô không còn biết gì,
người nhà cô khẩn cấp đưa vào bệnh viện và theo như người
nhà cô kể lại, lúc bấy giờ dù rằng rất yếu nhưng tại
sao cô lại có những bước đi thật vững vàng, nhanh hơn những
người đang dìu cô đi. cô đã được kịp thời đưa vào
bệnh viện. Sau này cô kể lại là bình nhật cô hay luôn niệm
Phật nhưng lúc đó cô đã không niệm được , nhưng chuyện
cô đi phóng sinh lại hiện ra trước mắt cô, hình ảnh đau
thương của những con ếch sắp bị chặt đầu với hai tay
chắp lạy như một lời van xin, cô nhớ lại chuyện những
ngày đến chợ cá thật sớm để đón mua những sinh vật
sắp bị hành quyết này. Tâm từ cô đã khởi lên trong cận
tử nghiệp, thiện pháp đã bộc phát thật mạnh trong cô và
như chúng tôi đề cập về công năng của một người thường
hay làm phước ở đoạn trên , cô đã nhận được luồng
sóng gia hộ để vượt qua sự chết . Ðó là sự vi diệu
của giáùo lý nhân quả, phước quyết định cho mọi sự,
chúng ta nên tận dùng thân người này để sống một đời
vị tha, đó là con đường phải trải qua cho vơi đi bao nghiệp
tội mà chúng ta đã phạm.
Ðừng phí phạm
thời gian, nhân thân nan đắc, chúng ta chưa chắc được làm
người trong kiếp tới, có khi phải trải qua vài ba trăm kiếp
làm thân súc sanh để trả cho nghiệp tội sát sanh mà chúng
ta đã từng vấp phạm. Tại sao không dùng thân người có
được trong hiện kiếp để phát tâm phóng sinh, khuyến khích
mọi người nên ăn chay, khuyên người nên từ bỏ những thú
vui như câu cá hay đi săn . . .v . .v . . Có khi nhờ những hạnh
thiện lành này mà chúng ta rút ngắn được quả báo của
nghiệp sát phải trả, đời đời thân cận Tam Bảo, luôn
gặp chánh pháp , một đời thăng hoa đang chờ đón trước
mặt . Mong thay!
Pháp thí
Hạnh pháp thí
gồm có truyền giảng chánh pháp cho người nghe hay trợ duyên
cho việc chuyển lăn bánh xe pháp, làm cho Phật pháp ngày càng
lan rộng. Sự trợ duyên này gồm có : ấn tống Kinh sách,
phát hành băng , tài trợ cho quý học Tăng, Ni hay yểm trợ
cho những khoá tu học. Gieo nhân duyên nghe pháp cho người là
công đức cao nhất trong các hàng bố thí, nhờ nhân duyên
pháp thí này mà quả báo mang lại cho đời sau là sớm gặp
được những bậc thức giả dẫn dắt trên con đường cầu
tìm học đạo. Giúp cho một người có được thiện duyên
nghe pháp là giúp họ một cơ hội tiến gần đến Tam Bảo,
xa dần những hệ lụy của bóng đêm nghiệp chướng , mở
đường cho chuyến vượt thoát dòng sinh tử luân hồi.
Một điểm cần
nêu ra ở đây để không gây ra ngộ nhận, chúng tôi không
bao giờ phản bác việc tu huệ. Phước huệ song tu vẫn là
điều tốt nhưng đừng bao giờ xem nhẹ việc làm phước ,
vì phước là nền tảng cho trí huệ, là tiến trình cho con
đường vượt thoát dòng sinh tử.
Kinh Kim Cang có
dạy: " trí tuệ cứu cánh có thể được thành tựu chỉ do
trải qua quá trình thành tựu bố thí", điều này minh chứng
điều kiện cho trí huệ bừng phát đã được nhấn mạnh
trong lục độ Ba La Mật .Bố thí là hạnh đầu tiên trong
6 hạnh của Bồ tát và nó cũng là nền tảng cho cả sáu Ba
La Mật. Chúng ta bắt buộc phải trải qua tiến trình này,
phước (bố thí) dọn đường cho huệ thành tựu, phước như
là điều kiện , như là nhiên liệu cho cổ xe trí huệ chuyển
động.
Nhờ bố thí đời
này qua đời khác, Bồ Tát gặt được nhiều phước đức,
do đó Bồ Tát tin nơi Tam Bảo, nhờ tin nới Tam Bảo, Bồ Tát
phát tâm học chánh pháp, nhờ học chánh pháp, Bồ Tát phá
trừ tà kiến và vô minh, nhờ phá trừ vô minh mà trí huệ
tăng trưởng. Tất cả mười phương chư Phật dều bắt đầu
con đường giác ngộ bằng một hạnh đầu tiên là bố thí.
Cũng vậy, một ngàn vị Phật quá khứ của Hiền
Kiếp (kiếp của
chúng ta đang sống), mỗi vị trong lúc phát Bồ đề tâm (tức
tâm cầu thành Phật) lần đầu tiên, đều là đang bố thí
cúng dường cho một đức Phật nào đó: có vị thì cúng dường
một hoa sen , có vị cúng dường một cái áo, có vị cúng
dường một cái tăm xỉa răng, v..v..và trong lúc cúng dường
như vậy, các ngài đều phát Bồ đề tâm . Do đó Bố thí
là nền tảng của Phật đạo (Trích B? THÍ BA LA MẬT, Thích
Trí Siêu)
Nếu ý thức được
điều này, chúng ta sẽ không còn chạy từ Thầy này đến
Thầy khác, từ pháp môn này đến pháp môn khác. Nghiệp lực
đã khiến chúng ta có mặt ở c i này, muốn thoát ra vòng cương
toaũ của nghiệp thì phải cố gắng gieo trồng nhân phước
ngay trong đời này.
Chúng ta đến
thế gian này một thân một mình thì khi ra đi cũng thế, không
có một tha lực nào được thành tựu nếu không có sự cố
gắng của tự lực. Không ai có thể gia hộ hay làm phép lạ
cho chúng ta nếu chúng ta không bắt đầu vun trồng phước
nghiệp hầu làm vơi đi nghiệp tội cho sự vượt thoát vĩ
đại: thoát vòng trầm luân trôi lăn trong biển khổ sinh tử
luân hồi. Chúng ta phải tự làm công việc này, sự gia hộ
chỉ có thể thành tựu nếu chúng ta có một đài "bắt sóngỖ
cực mạnh , và phải trải qua vô lượng kiếp với sự huân
tu thuần thành mới chặt đứt dòng nghiệp lực chằng chịt
này. Mỗi người phải tự thắp đuốc mà đi, ngay chính Ðức
Phật cũng không độ cho chúng ta được nếu chúng ta không
chịu tu. Chúng ta như người lực sĩ phải chạy bằng chính
sức của mình, Ðức Phật không chạy thay cho chúng ta, Ngài
là người đứng ngoài cổ vũ cho chúng ta thêm sức, cho chúng
ta đi đúng đường và có chạy được hay không cũng tùy nơi
chúng ta.
Nhờ phước mà
chúng ta được nhiều người trợ duyên sau này nếu chọn
con đường xuất gia. Phước giúp tâm Bồ đề tinh tấn, phước
giúp tâm từ ban trải cho tha nhân. Hảy dốc tâm gieo trồng
nhân phước cho có được hành trang mang theo khi lìa bỏ cái
thân tứ đại này. Chúng ta làm chủ lấy vận mạng mình ,
không ai độ cho chúng ta bằng chính những hạnh lành chúng
ta ban trải khi còn sống. Ðiều quan yếu là phải biết hành
thiện khi còn sống, đừng đợi sau khi chết , thân nhân mới
bỏ tiền ra, mời thật nhiều Thầy, lập đàn trai tăng cầu
siêu , hồi hướng công đức cho người khuất, việc làm này
hơi muộn màng cho thời mạt pháp của chúng ta.
". . . Và chỉ
có hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát là bậc mô phạm, giới
đức trang nghiêm thanh tịnh, trí tuệ siêu tuyệt, mới có
khả năng cầu nguyện cứu độ vong linh và thay Phật cứu
khổ ban vui cho người hiện hữu trên cuộc đời, là phước
điền cho người cung kính cúng dường , gieo trồng phước
báo. Thật vậy, xưa kia, Ðức Phật là bậc toàn giác, toàn
trí cùng với hàng Thánh chúng hợp lực cầu nguyện, quán
thấy bà Thanh Ðề bị đoạ vào loài ngạ quỷ và các Ngài
dùng thần lực chuyển hoá nghiệp thức của bà thác sanh về
c i thiên cung . Ngày nay, nếu chúng ta chưa được đạo quả
nào, chưa thấy được lý duyên sanh, chưa biết vong hồn ở
cảnh giới nào và sẽ thác sanh về đâu, tất nhiên không
thể nào cứu thoát họ được . . ." ( Trích đoạn Tu Hành
Ðúng Như Pháp Là Tối Thượng Cúng Dường - HT Thích Trí Quảng)
Ngay thời Ðức
Phật đã vô cùng khó khăn như thế thì cũng đủ cho chúng
ta thấy, việc cầu nguyện và làm phước hồi hướng cho người
chết là việc rất khó đạt thành, trong Kinh Ðịa Tạng cũng
nói việc hồi hướng nếu có được , thì trong 7 phần công
đức, thuộc về người sống hết 6 phần, người chết chỉ
còn 1 phần .Thêm một vấn đề nêu ra ở đây, nếu quả thực
việc làm phước có thể hồi hướng dễ dàng cho người chết
thì chỉ có những người giàu mới làm được việc này thôi.
Như vậy, những người nghèo sống một đời hướng thượng,
hướng thiện khi chết con cháu quá nghèo không tiền làm phước
hay thiết lập đàn tràng cầu siêu thì những người này đi
vào đọa xứ hết hay sao?
Trong tất thảy12
đại nguyện của Quán-thế-Âm Bồ-tát, chỉ cần tinh mắt
một chút, chúng ta thấy rằng lời của Thế-tôn thuyết về
12 đạihạnh Quán-Âm đó, cũng chính là nhắn-nhủ trong chỗ
thâm mật, rằng chúng ta nên tự trang nghiêm chính Quán-Âm
của tự thân mà hành
Bồ-tát đạo
trong pháp "Hành thí vô tướng" như đức Quán Tự-tại đã
làm, để tự thành tựu công đức của mỗi người như Ngài
không khác. Cho nên, cũng trong một bài kinh Phật thuyết đó,
mà người bình thường thì cầu tha-lực Quán-Âm để được
"phước đức", còn người căn-trí thâm hiểu ý nghĩa sâu
xa lời Phật dạy thì tự thể hiện Quán-Âm-hạnh của tự
thân mà hành Bồ-tát đạo, để tự trang nghiêm và thành tựu
"công đức".
Vậy, bước đầu
học Phật là phải gieo trồng nhân phước qua hạnh bố thí.
Ðây là nền tảng, là điểm tận cùng đi lên cho việc xây
dựng toà nhà trí tuệ. Chúng ta đã phải trôi lăn trong sinh
tử luân hồi vì không bắt đầu bằng chổ bắt đầu, chúng
ta thường muốn đạt ngay toà nhà trí tuệ mà quên đi chuyện
phải dựng móng trước khi xây nhà.
Ðức Phật dạy:
" Ðừng nên chấp nhận điều gì do người khác nói lại,
những tin đồn, hay truyền dạy bởi tập quán. Chớ vội tin
điều gì vì nó được tụng đọc ở kinh sách , hay bởi luận
lý và suy diễn như vậy; cũng đừng tin vào điều mà mình
đã sẵn có định kiến, hay do vị thầy mình kính trọng nói
ra. Chỉ khi nào con tự biết rằng những lời dạy này là
thiện, chúng được chấp nhận bởi các bậc thiện tri thức;
và khi thực hành những điều ấy không dẫn đến thiệt hại
hay khổ đau, thì các con nên làm theo."(Kinh Bộ Tăng Chi, A.
I. 188)
Tóm lại, trong
hạnh bố thí, dù là thí tài, thí thân, thí pháp, hay phóng
sanh, ăn chay vvẦnếu hành giả thật hành được pháp "hành
thí vô tướng", tức tam luân không (người bố thí, người
thọ thí và vật thọ thí), thì phước đức càng to lớn,
không thể suy lường, vì đó là "diệu hạnh vôtrụ của Bồ-tát"
vậy .
Xem Tiếp: [1][2][3]
x
|