|
|
c
|
Có
Ai "Ăn Trộm Pháp" Không?
|
Thưa chú Tâm Diệu:
Cháu có một thắc
mắc mà chưa ai giải đáp cho cháu một cách thỏa đáng, ngoại
trừ hù dọa địa ngục với cháu. Nay cháu đọc trang Hoa Sen
thấy chú nói "Ðạo Phật là đạo Giác Ngộ" nên cháu
hỏi chú, hy vọng chú - với cái nhìn khác - sẽ giúp cháu
hiểu được đạo Phật một cách chính xác hơn:
Ðạo Phật khác
đạo khác cái gì? Nếu chỉ lễ bái cầu xin Phật phù hộ
thì đạo nào cũng thờ Chúa hoặc Thần, Thánh, cũng van lơn
xin xỏ, cũng lạy lục xuýt xoa, đâu có phải là sản phẩm
đặc biệt của đạo Phật, và như thế thì cũng không nên
tự cao về đạo mình mà ngông nghênh quá, chẳng hạn như
cháu thấy bà nội cháu đã 80 tuổi rồi mà khi nói chuyện
với ông sư trẻ chỉ bằng tuổi anh cháu lại cứ tự xưng
bằng con, còn ông ta thì cũng thản nhiên nhận sự cung kính
ấy, không một chút khiêm tốn nào, cháu thắc mắc không biết
khi chính bà nội ông ấy nói chuyện với ông ấy thì họ
xưng hô ra sao. Cháu đọc sách thấy các bậc hiền triết khi
xưa đối xử với người hơn tuổi rất cẩn thận tôn trọng.
Vì chú nói đạo
Phật là đạo Giác Ngộ nên cháu xin chú cho cháu biết khía
cạnh giác ngộ của Ðạo:
Giác ngộ cái gì?
Làm sao để được
giác ngộ?
Mang cái thói quen
xuýt xoa, sợ sệt - mà cháu thấy nó hèn hèn thế nào ấy
- thì theo chú, có còn đủ tinh thần để mà đi trên con đường
Giác Ngộ không?
Những đạo không
tự nhận là đạo Giác Ngộ cũng không đến nỗi phân chia
giai cấp Tu Sĩ và giai cấp thường dân cách xa nhau như thế,
có đúng không chú?
Nhưng khi có ai đặt
vấn đề này ra thì họ lại bảo là "...phá ngã chấp"...hay
"nói thế là ngã mạn..." vân vân và vân vân. Thế thì
"ngã mạn" và "ngã chấp" là độc quyền của tu sĩ à? Theo
như ngoài đời, giáo dục là nêu gương phải không chú?
Cháu xin cảm ơn
chú đã lập ra trang web này để cháu có cơ hội hỏi chú
những thắc mắc mà nếu cháu đứng trước mặt chú mà hỏi
thì có lẽ cháu cũng sẽ bị chú mắng như tát nước vào
mặt là :"con em gia đình theo đạo Phật mà không biết an phận,
thắc mắc như thế là ngã mạn, vân, vân.. vì cháu cũng đã
bị mắng nhiều lần rồi, nên cháu cũng chỉ dám tự coi mình
là con ghẻ của đạo Phật thôi, không là con ngoan đâu. Nhưng
biết đâu chú lại chẳng giải đáp cho cháu được hiểu
r cái cốt tủy của đạo Phật, khiến cho cháu đi vào được
đạo Giác Ngộ chú nhỉ? ( A, mà này chú ơi, có bà Ni Sư ở
quận Cam, miền Nam California nói rằng nếu là Cư Sĩ thôi,
không phải Tu sĩ, mà giảng Phật Pháp tức là kẻ "ăn trộm
Pháp" đấy). Thế Pháp là gia tài riêng của Tu sĩ được
Phật chia cho đấy à? Vậy chú có phải là Tu sĩ không ?
Cháu xin cảm tạ
chú và xin chú, nếu như chú chỉ là Cư Sĩ thôi, không phải
Tu Sĩ, thì cũng xin chú hy sinh vì cái lũ ngu dốt như cháu mà
ăn trộm cho cháu một tí Pháp chú nhé. Phật ngày xưa còn
hy sinh cả thân mạng để cọp mẹ có sữa mà nuôi cọp con
cơ mà.
Kính bút,
Cháu Anh Thư
Cháu Anh Thư mến:
Chú là một Phật
tử cũng đang tìm hiểu và học Phật như cháu nên sự hiểu
biết về Phật pháp còn nhiều thiếu xót. Nhưng dù sao đã
được đọc những câu hỏi thật lòng của cháu, nên xin được
vắn tắt góp ý cho cháu trong sự hiểu biết rất ư là giới
hạn của chú.
Trước hết đạo
Phật không chủ trương có một đấng tối cao như là Thần
Linh, Thượng Ðế v.v... bắt buộc chúng ta phải sợ sệt,
thờ lạy để mong được hưởng ơn phước từ những đấng
ấy ban cho; nếu làm ngược lại, không tôn kính các đấng
đó, sẽ bị trừng phạt hay bị giáng cho nhiều tai họa. Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói Ngài chỉ là một vị đạo
sư tức là một người Thầy chỉ đường cho chúng ta đi.
Tinh thần đạo Phật rất cởi mở, phóng khoáng cháu ạ! Ðức
Phật đã từng nói "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là
Phật sẽ thành", hoặc,"Tin
ta, theo ta, mà không chịu tìm hiểu ta, tức là phỉ báng ta!".
Thế thì cháu
có thể hiểu đạo Phật khác với những tôn giáo khác như
thế nào rồi. Khi chúng ta đi chùa, lạy Phật, thờ Phật,
cúng Phật chúng ta cũng nên biết tại sao phải làm như thế
cháu ạ. Theo chú thì khi quì lạy Phật là để người Phật
tử tỏ lòng tôn kính đức Phật đã vì lòng từ bi ban cho
nhân loại giáo pháp, hướng dẫn con người đi trên con đường
tiến đến giác ngộ, an vui. Và mỗi khi lạy Phật giúp tâm
ta thanh tịnh, tập diệt trừ bớt đi ngã mạn, nhớ đến
những lời Phật dạy mà thực hành. Nếu ta lạy Phật để
cầu xin một điều gì có lợi cho ta thì đó là ích kỹ và
tham lam rồi cháu ạ! Ta sẽ dễ hiểu lầm đạo Phật là đạo
mê tín dị đoan nếu ta không chịu để tâm tìm hiểu, mà
chỉ nhìn đạo Phật qua khía cạnh lễ lạy, cầu xin đủ
cả các thứ.
Khi vào chùa chắp
tay, cúi đầu xá nhau giữa người Phật Tử bạn đạo với
nhau đó là để tỏ lòng tôn trọng nhau, tôn trọng sự bình
đẳng của nhau (vì ai cũng có thể thành Phật nếu chịu tu
theo lời Phật dạy). Ðó là một cữ chỉ đẹp cháu ạ. Cũng
như người Phật Tử chắp tay lạy người Tu Sĩ (quí Thầy
hay quí Cô) cũng là một cử chỉ tôn trọng cần thiết. Quí
Thầy, quí Cô là những người đại diện cho đức Phật mang
Phật pháp để phổ biến cho Phật tử. Và ngược lại khi
cháu thấy quí Thầy xá lại cháu tức là các Thầy tỏ lòng
tôn kính Phật tánh trong cháu đó; và cái xá mà quí Thày dành
cho cháu là sự khuyến khích cháu tinh tấn thêm trên con đường
trau dồi, tìm hiểu Phật pháp vậy. Cái xá đó cũng là tượng
trưng cho sự bình đẳng về Phật tánh giữa quí Thầy và
cháu vậy. Cái xá này, do đó, cũng là một sự đáp lễ cần
thiết và rất đẹp để quí Thầy hay quí Cô nhắc nhở chúng
ta đức tính khiêm cung, không riêng gì đối với người lớn
tuổi và ngay cả những em, cháu nhỏ tuổi hơn mình.
Một câu hỏi
quan trọng là đạo Phật là đạo giác ngộ, và giác ngộ
cái gì ? Câu này có lẽ cháu nên ráng đọc thêm những sách
Phật học căn bản, và dần dần tiến đến những sách cao
hơn để hiểu. Tuy nhiên chú xin được trả lời vắn tắt,
thật bình thường và thực tế những điều mà chú đang hiểu
cháu nhé:
Ðức Phật chỉ
cho chúng ta thấy cuộc đời là bể khổ, rồi tại sao chúng
ta bị đau khổ, Ngài lại kế đó vạch ra con đường để
chúng ta theo đó mà thoát khổ, theo đó mà đạt tới giải
thoát, an vui. Vì vô minh (không sáng suốt, u mê) nên chúng ta
bị đau khổ. Lòng tham lam, tánh nóng giận, và sự si mê mù
quáng không thấy được sự thật làm con người ta bị đau
khổ. Và khi chúng ta theo lời Phật dạy mỗi ngày cố gắng
bớt dần những điều xấu này, cho đến lúc nào đó bỏ
hẳn hết được thì tâm của ta sẽ được tự do, giải thoát.
Giác ngộ là luôn luôn tỉnh thức, nhớ và khéo biết thực
hành, áp dụng những lời Phật dạy trong cuộc sống hàng
ngày cháu ạ! Ðiều này nói thì dễ nhưng khi thực hiện thì
rất khó, cần nhiều cố gắng, và luôn bền bỉ; vì ngoài
bản tánh thiện, con người của chúng ta ai cũng có sẵn một
hầm tội lỗi và tật xấu bên trong.
Cháu Anh Thư mến:
Chú không thấy
có sự chia rẽ, phân chia nào trong giai cấp Tu Sĩ và Cư Sĩ
theo lời Phật đã dạy. Danh từ Phật Tử theo chú hiểu được
bao gồm cho Phật Tử tại gia và Phật Tử xuất gia. Tất cả
hai giới đều là con của Phật. Chú đọc trong kinh có đề
cập đến Tu Sĩ và Cư Sĩ như hai đôi cánh cần thiết của
một con chim, con chim có bay được là nhờ có hai đôi cánh.
Sự phân chia, nếu có, thì do chúng ta vì không hiểu cho thấu
đáo mà tạo nên mà thôi. Vậy thì giáo pháp nhà Phật
không hề chỉ độc quyền cho Tu Sĩ như câu truyện cháu kể.
Giáo pháp nhà Phật dành cho mọi người. Có người
hiểu cạn, có người hiểu sâu, hiểu nhiều, hay hiểu ít,
tất cả đều do cá nhân từng người có chịu tinh tấn học
hỏi, trau dồi hay không, cháu ạ! Và điều quan trọng hơn
hết là có chịu cố gắng thực hành theo những gì mình biết
hay không? Vì đạo Phật là đạo thực hành chứ không chỉ
để hiểu biết suông cháu ạ!
Ðạo Phật rất
phóng khoáng và cởi mở. Cháu có quyền thắc mắc, hỏi han
những gì cháu không hiểu. Cháu nên tự mình suy gẩm điều
đó có đúng chân lý, hợp sự thực không rồi mới tin theo.
Niềm tin trong đạo Phật không phải là niềm tin mù quáng,
nhắm mắt tin theo. Ðó là ý nghĩa của Văn (nghe), Tư
(suy nghĩ, thắc mắc về điều
mình đã nghe), nếu thấy đúng chân lý, hợp sự thật thì
tiếp đến là Tu (thực hành, ứng dụng).
Hi vọng nếu không
trả lời hết, thì cũng giải đáp phần nào những thắc mắc
của cháu. Chúc cháu luôn vững niềm tin vào giáo pháp cao đẹp
của đức Phật. Và luôn tiện tôi xin kính ghi nhận và đa
tạ những ý kiến của quí vị tôn túc cao minh hoan hỉ chỉ
dạy dùm những lầm lẫn, thiếu xót trong phần trả lời cho
cháu Anh Thư.
Trí
Ðạt
Xin
góp phần trả lời cho những câu hỏi của Anh Thư, phần Thảo
Luận Phật Pháp,
Ia.
Ðạo Phật khác đạo khác cái gì?
Ðạo
Phật khác đạo khác rất nhiều thứ, đặc biệt là phần
thực hành Bát Chánh Ðạo: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh
Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm,
Chánh Ðịnh. (Anh Thư vui lòng tự nghiên cứu sâu vào đề
tài này vì phần này rất dài, không nên viết hết ra nơi
đây.)
Ib.
Ðạo Phật có dạy đệ tử xin xỏ nơi các đấng thần linh
như các đạo khác không?
Trước
khi Ðức Phật nhập Niết-bàn, Ngài đã để lại lời khuyên
quí báu cho chúng ta, đúng vào chổ thắc mắc của Anh Thư.
Tôi xin trích ra một đoạn trong kinh Ðại Bát Niết Bàn để
trả lời khoảng này:
Ðức
Phật dạy: " . . . Này Ananda, hãy lấy chính con làm hải đảo
cho con, chính con làm nơi nương tựa cho con, không nên ỷ lại
nơi ai khác để làm chổ nương tựa. Hãy bám sát Giáo Pháp
như một chổ nương tựa. Bất luận ai, này Ananda, dầu trong
hiện tại hay sau khi Như Lai đã viên tịch, lấy chính mình
làm hải đảo cho mình, không nương tựa nơi nào ở ngoại
cảnh, chính những người ấy trong nhóm môn đệ của Như
Lai, này Ananda, sẽ đạt đến mức cao tuyệt đỉnh. Nhưng
những người ấy phải tận lực gia công để tiến hóa".
Ic.
Tại sao vị sư thản nhiên nhận sự khiêm tốn quá mức từ
một bậc tuổi cao?
Vấn
đề này tùy vào hoàn cảnh, Anh Thư ạ . Tôi không biết tác
phong đạo đức thường nhật của vị sư mà Anh Thư gặp
như thế nào, nhưng lắm khi một vị sư cũng không muốn Phật
tử để mình lên bục thờ. Tuy nhiên, ngoài nhiều lý do khác,
người Phật tử cung kính vị sư cũng là giúp cho vị sư nhớ
lấy vị trí của mình kẻo dễ duôi sa ngã đồng thời lo
tu hành cho xứng đáng. Có thái độ cung kính với vị sư giúp
người Phật tử tự nhắc mình khiêm tốn mà dễ tiến bước
trên đường đạo. Những Phật tử còn trẻ thì nên cẩn
thận trong sự giao tiếp xưng hô với vị sư để giữ khoảng
cách cần thiết giữa đời và đạo. Những điều này có
lợi cho cả đôi bên. Mặt khác, đây cũng là do truyền thống
và ngôn ngữ. Những nơi dùng Anh ngữ thì họ chỉ xưng hô
với một vị sư bằng "Reverend và I" hoặc "you và I"
chớ
không có "thầy và con" như tiếng Việt mình. Nhưng nếu vị
sư đã hưởng được đặc ân truyền thống Việt này, thì
khi Phật tử xưng "con", mình cũng nên gọi Phật tử bằng
anh, chị, cô, chú hay bác cho đẹp.
II.
Ðạo Phật là đạo giác ngộ. Vậy giác ngộ cái gì?
Giác
ngộ là thấy r sự thật để thoát khỏi sự vô minh u tối.
Khi chưa giác ngộ thì chúng ta như người mù quờ quạng trong
rừng sâu, tìm chẳng thấy lối ra, nên khổ. Giác ngộ giống
như người đã sáng mắt thoát ra khỏi khu rừng, hay ít nhất
cũng sáng được một phần, thấy r con đường ra khỏi khu
rừng ấy.
Giác
ngộ cái gì? Giác ngộ được bốn sự thật (Tứ Diệu Ðế):
(1)
thấy r sự thật của khổ (khổ thân, khổ tâm, khổ vì sự
thay đổi, khổ vì bất toại nguyện, khổ vì gánh nặng thân
tâm này v.v...),
(2)
thấy r nguyên nhân sanh khổ (vô minh và tham ái, cùng các nhân
duyên gây nên ô nhiễm dẫn đến khổ đau)
(3)
kinh nghiệm, đạt được sự hết khổ (diệt trừ được
tận gốc r của ô nhim tham sân si, chứng ngộ đạo tuệ, quả
tuệ và Niết-bàn)
(4)
thực hành viên mãn phương pháp dẫn đến sự giác ngộ (thực
hành viên mãn Bát Chánh Ðạo)
III.
Làm sao để được giác ngộ?
Dĩ
nhiên là không nhờ "van lơn xin xỏ, lạy lục xuýt xoa" rồi.
Muốn được giác ngộ (và giải thoát, hết khổ), thì chúng
ta phải tự mình thực hành Bát Chánh Ðạo, phải luyện tâm
cho có chánh niệm vững chắc, phải giữ giới, hành thiền
(nhất là thiền quán tứ niệm xứ) để định và tuệ phát
sanh. Khi những năng lực tâm linh nhờ phương pháp này mà phát
triển đầy đủ rồi thì đạo tuệ, quả tuệ và Niết-bàn
sẽ hiển lộ r ràng (thời điểm giác ngộ, giải thoát). Thời
nay chúng ta phải bỏ công thực hành rất nhiều mới có thể
thấy được lộ trình giải thoát trong tâm. Có nghĩa phải
hành thiền liên tục không gián đoạn trong các tư thế đi,
đứng, nằm, ngồi và những lúc ăn, uống, tắm, nghĩ v.v...
suốt ngày đêm, ngoại trừ 6 tiếng ngủ đêm, trong một thời
gian dài nhiều tháng, có khi nhiều năm, thì sẽ tự hiểu thế
nào là giác ngộ, và giác ngộ cái gì. Bây giờ rất nhiều
người khắp năm châu, từ phương Ðông lẫn phương Tây, đang
thực hành phương pháp này. Anh Thư có muốn thử không?
IV.
Thói xuýt xoa sợ sệt có vẻ hèn hèn thế nào ấy...
Người
Phật tử phải là chiến sĩ của Bi Trí Dũng, trực tiếp chiến
đấu với ô nhiễm trong tâm mình để thoát khỏi mọi sự
sợ hãi. "Xuýt xoa sợ sệt" không những hèn, nó còn là ô
nhiễm cần phải được diệt trừ. Nhưng chúng ta không nên
chê cười các bậc tuổi cao khi họ có tánh này. Ngược lại,
chúng ta cần hướng dẫn họ đi trên chánh đạo để họ
được tiến bộ nhiều hơn.
V.
Phân chia giai cấp tu sĩ và thường dân ...?
Sự
phân chia theo chổ Anh Thư nói, nó có mặt vì thiếu tâm từ.
Ðức Phật dạy người tu phải có tâm từ mới xứng đáng
nhận của tín thí cúng dường. Tâm từ là mối dây thân ái
kết chặt tình thân hữu của mọi người với nhau. Khi có
tâm từ thì không những sự phân chia giai cấp không còn mà
sự phân biệt tôn giáo, địa vị, chủng tộc, tuổi tác,
màu da v.v... cũng vắng bóng. Giả sử gia đình chúng ta đã
tan nát thì anh em chúng ta có nên phân chia nữa hay không ?!!
SNT,
Virginia
e-mail:
ngsa@usa.net
Có
Ai "Ăn Trộm Pháp" Không?
Tôi
là một Phật tử đứng ngoài cổng chùa. Tại sao không vào
chùa mà lại đứng ngoài? Nếu người hỏi mà là người giầu
có thì sẽ không hiểu nỗi khổ tâm của tôi đâu. Cũng như
ông vua quen sống sung sướng, khi nghe thấy nói rằng dân nghèo
đói lắm, bèn hỏi "- Sao dân ngu thế, đói thì sao không nấu
cháo thịt mà ăn?". Nếu quí vị tiền rừng bạc biển mà
nghe tôi nói rằng vì nghèo nên không dám đến chùa thì quí
vị sẽ rất ngây thơ, trả lời: "- Sao "chấp" thế. Cửa chùa
từ bi, đâu có phân biệt giầu nghèo!"
Những người
nghèo họ có cái bén nhậy, cái mặc cảm và cái "tủi thân"
của họ. Chính tai tôi đã nghe lời dè bỉu của một bà kia
sau khi nhận tiền cúng dường của một Phật tử khác, bà
nói nhỏ:
-Ui da! Cúng được
năm đồng bạc! Ai cũng thế này thì có mà dẹp chùa!
Bản thân tôi,
khi cầm tờ "Liệt kê tên và số tiền góp" chuyển ngang qua,
tôi cũng rất sượng sùng mà moi từ túi ra số tiền khiêm
tốn, dù sự đóng góp này cũng đã là một cố gắng. Tôi
cũng rất thông cảm với nhà chùa, cần tiền trả bills, nhưng
tôi cũng lại thắc mắc rằng tại sao phải làm chùa "càng
ngày càng to", trong khi Phật tử thì ít, chùa thì nhiều, Phật
tử chùa này mà sang chùa khác lễ lạy, thọ bát quan trai,
thì bị thầy nói mát mẻ: Sao không đi "chùa nhà" mà đi chùa
"người ta"?
Nhưng trong cái
rủi, luôn luôn có cái may tiềm ẩn. Tôi tin sâu nhân quả,
nên tin rằng tôi có duyên lành với đạo Phật. Nhờ không
có phương tiện tốt để đi chùa, nên tôi lại có được
sự khách quan, không bị tinh thần bè phái phe nhóm "chùa mình",
"chùa người", chi phối, không bị ràng buộc vào hàng ngũ
đệ tử riêng của thầy này thầy nọ, không bị tật xấu
tôn sùng thần tượng che mờ mắt, nên tôi lại được tự
do, thanh thản bơi lội trong rừng kinh sách, hưởng nhiều mùi
vị thơm ngon qua dòng sữa chánh pháp trực tiếp từ kinh điển
của nhà Phật. Khi đọc sách, tôi không để ý đến tên và
hào quang của tác giả, không để ý đến vị trí tu sĩ hay
cư sĩ của họ, vì tôi đã thấm nhuần lời dạy của Ðức
Bổn Sư Từ Phụ:
... "Y pháp bất
y nhân" ...
... "Bất cứ
giáo lý nào ngươi có thể quả quyết rằng chúng đưa tới
diệt đam mê chứ không đưa tới đam mê, tới siêu thoát chứ
không ràng buộc, tới giảm trừ của cải thế tục chứ không
tới tích lũy của cải, tới thanh đạm chứ không tới thèm
muốn, tới an lạc chứ không tới phiền não, tới minh mẫn
chứ không tới u mê, tới hân hoan với thiện pháp chứ không
tới sung sướng với ác pháp, thì với những giáo lý đó,
ngươi có thể quả quyết rằng: "Ðó chính là Giới, đó chính
là Luật, đó chính là Huấn thị của Ðức Thế Tôn"...
Dùng lời dạy
kể trên chiếu qua kinh sách, tôi tránh được sự hoa mắt
vì hào quang của thần tượng. Trong số những bậc thầy hàm
thụ của tôi, mà tôi được học qua sách và băng giảng của
chư vị, có cả tu sĩ và cư sĩ. Một trong những cư sĩ mà
tôi rất mang ơn là cụ Ðoàn Trung Còn. Cụ soạn bộ Phật
Học Từ Ðiển trên 2000 trang, có thích nghĩa bằng cả 4 thứ
chữ, chữ Phạn, chữ Nho, chữ Pháp và chữ Việt, cuốn này
là một trong những hải đăng của tôi trên con đường mò
mẫm trong biển Phật học.
Trong cuốn Tăng
Ðồ Nhà Phật, in năm 1942, cụ viết những lời tâm huyết
khi giải thích các bài Kệ hàng ngày của tăng ni như sau:
... "Ðọc qua
những Kệ này, dẫu không đứng về phương diện tôn giáo,
mà đứng về phương diện khảo cứu, cũng thấy rằng Sư
đạo Phật thật là một hạng người thanh cao, từ hòa, ái
mẫn, bao giờ trong sự lợi ích của mình cũng đoái tưởng
đến mọi người và vạn vật, hằng xét nghĩ và cầu nguyện
cho tất cả chúng sinh. Nói cho phải, nhà Sư đạo Phật vì
đồng loại, vì chúng sinh mà sống còn, mà tấn hóa chứ không
phải vì mình. Thật là một cuộc đời đầy sự từ bi, bác
ái, hy vọng và khiêm tốn...."...
Ðây là lời chân
thành của một cư sĩ ca ngợi đời sống cao thượng của
chư vị tu sĩ. Tiếc thay dẫu vậy, theo lời bà Tu Sĩ kia, thì
cụ cũng chỉ đứng trong hàng ngũ "ăn trộm Pháp" mà thôi.
Nhìn bằng con
mắt của bà Sư này thì hàng ngũ "ăn trộm Pháp" đông lắm.
Tôi chỉ xin liệt kê vài trường hợp điển hình mà thôi.
Ở Ấn Ðộ, ngoài hai cư sĩ danh tiếng Duy Ma Cật và Thắng
Man Phu Nhân ra (vì có thể bị bác bỏ rằng hai vị này không
có trong lịch sử Ấn Ðộ) thì vua A Dục đứng ở đầu sổ,
bên Trung Quốc có Lương V Ðế và con là Thái Tử Lương Chiêu
Minh, bên Nhật có Thánh Ðức Thái Tử, Tây Phương có Ðại
Tá Olcott tận tụy cả đời tranh đấu cho Phật Giáo, viết
sách để phổ biến Phật pháp và chính ông là người sáng
chế ra lá cờ Phật Giáo, ngoài ra còn có Bác sĩ D.T. Suzuki
từ Nhật qua giảng kinh, thuyết pháp, viết sách, đem hàng
vạn người trở lại Ðạo Phật, bên Việt Nam có Vua Trần
Thái Tôn, tác giả nhiều bộ sách dạy về đường lối tu
trì, thời hiện đại có các cụ Lê Ðình Thám, Ðoàn Trung
Còn, Mai Thọ Truyền vân ...vân...
Ðạo Phật là
con đường đi từ Từ Bi, Trí Tuệ, tiến tới giác ngộ, giải
thoát hoàn toàn khỏi vòng luân hồi sinh tử bị chi phối bởi
Nghiệp. Trưởng Tử Như Lai được đức Phật giao phó nhiệm
vụ cầm đuốc soi đường cho chúng sinh, nên dành nhiều thì
giờ nghiên cứu kinh điển, tu hành Lục Ðộ Ba La Mật, thì
mới đủ khả năng giảng dạy chánh pháp. Sống trong ánh hào
quang của Ðức Thế Tôn, chư vị nên mở rộng tâm ra để
mà tiến bước trên con đường tự giác, giác tha, thường
nên tự xét xem có xứng đáng với lời ca ngợi của cụ Ðoàn
Trung Còn hay không, thường nên tự nhắc nhở để tránh phạm
vào lỗi "lạm nhận sự cung kính của Cư sĩ" do không làm
tròn nhiệm vụ bậc thầy. Thầy đây là thầy dẫn đường
cho chúng sinh ra khỏi sinh tử luân hồi, chứ không phải là
thầy cúng, chỉ cần giỏi khua chuông g m ê a là đủ! Nếu
có tâm từ bi, thương chúng sinh như ruột thịt, hãy nghĩ đến
họ đang lần mò trong đêm tối của vô minh, phải nên tận
tụy tìm mọi phương tiện thiện xảo, dạy cho họ biết tu
hành để ra khỏi nhà lửa. Không phải tu hành chỉ là đến
chùa cúng tiền, làm Phật sự không phải chỉ là cầu siêu
cầu an! Nếu thấy có người đem giáo pháp của đức Phật
truyền bá cho chúng sinh thì nên đến nghe coi họ nói đúng
hay sai, họ nói đúng thì nên tùy hỷ, mừng rằng có thêmn
người hiểu được đạo Pháp, họ nói sai thì tìm cách chỉ
dẫn cho họ đi vào chính đạo, khuyên họ không nên làm hại
chúng sinh, dạy sai, khiến chúng sinh lạc đường trở lại
bản thể, bởi vì ngay chính người thuyết pháp cư sĩ đó
thì cũng là một chúng sinh, Trưởng Tử Như Lai cũng có nhiệm
vụ giúp đỡ nếu họ lạc đường. Phật tử cư sĩ là con
của Phật. Sư là thầy. Trưởng Tử Như Lai là anh lớn của
cư sĩ. Là thầy, là anh lớn của cư sĩ, nên cư sĩ Phật tử
phải cung kính cúng dường. Anh lớn phải đem ánh sáng của
đạo Giác ngộ rọi vào vọng tâm vô minh của các em, đưa
các em lên bờ giác ngộ. Cho nên Tăng Ni mới được tôn là
một trong Tam Bảo, hàng ngũ tôn quý. Rất nhiều vị trong hàng
ngũ tôn quí đó đã làm tròn nhiệm vụ Ðức Phật giao phó,
tinh tấn tu hành để Tự Giác, tận tụy dạy dỗ chúng sinh
để Giác Tha, quyết đi đến Giác Hạnh viên mãn.
Ðạo Phật có
nghĩa là đạo Giác Ngộ. Giác ngộ rằng từ một niệm vô
minh bất giác mà duyên theo hành nghiệp, cuốn trôi vào vòng
sinh tử luân hồi, do chấp rằng có cái thân này và thế giới
vật chất trước mặt là thực thể, bám chặt vào tư tưởng
đó, nảy ra tham sân si rồi tạo nghiệp, trả quả liên tục
trong mê hồn trận, nếu không nhờ có ánh sáng của đạo
Giác Ngộ chiếu vào, thì sẽ không có ngày chấm dứt. Dù
ánh sáng giác ngộ chiếu vào nhưng chúng ta phải vâng theo
lời Ðức Bổn Sư mà tu tập, xả bỏ những vướng mắc,
của cải, từ vật chất đến tinh thần, đi đến tâm hoàn
toàn thanh tịnh, mới tới được bờ Trí Huệ giải thoát.
Cho nên bước đầu của đường tu là bước Bố Thí, để
xả bỏ mọi tham luyến, rồi đến tránh không làm điều ác
là Trì Giới, không nổi tham sân si giành giật với người
khác là Nhẫn Nhục, siêng năng tu tập là Tinh Tấn, thanh tịnh
hóa tâm bằng các pháp môn Tọa Thiền, Niệm Phật, Trì Chú,
Tụng Kinh, tâm sẽ lắng xuống, gạn lọc ô nhim, trở nên
an tịnh là Thiền Ðịnh, đây là cảnh giới Trí Huệ, giải
thoát.
Làm tất cả những
điều kể trên mà không tự hào là có ta đang tu, đang chứng,
thì đó là Lục Ðộ Ba Lạ Mật.
Tại sao cửa đầu
tiên phải là Bố Thí? Lý do là chính vì lòng tham lam thu góp,
nắm giữ của cải, tình cảm... vân.. vân.. của riêng mình
mà chúng ta đã tạo nên nghiệp chướng liên miên từ vô lượng
kiếp. Nay muốn chấm dứt dòng luân hồi bị chi phối vì nghiệp
báo ấy thì phải lập tức xả bỏ mọi vướng mắc kể trên.
Cho nên, thời Ðức Phật còn tại thế, chư tăng ni chưa có
chùa riêng, ban ngày tọa thiền và đêm ngủ đều tại gốc
cây, nhưng Ngài không cho chư đệ tử ngủ ba đêm liền dưới
cùng một gốc cây, vì sợ chư vị nảy sinh ra ý tưởng sở
hữu, thu vén sao cho tiện nghi, đẹp đẽ làm nơi ở của TA.
Ðức Phật là bậc Ðại Giác. Ngài biết rằng nếu đã thiết
lập nên cái "của TA" thì từ đó sẽ nảy sinh ra muôn ngàn
chướng ngại cho con đường tu hành.
Ðã là Tu Sĩ Phật
giáo thì tâm từ bi phải tỏa rộng, được Phật tử cung
kính thì phải học tập, tu hành cho có khả năng để bố
thí Pháp, vâng theo lời Ðức Phật dạy mà soi đường cho
chúng sinh, kẻo mà vướng vào cái gọi là "hư tiêu tín thí".
Nếu như vì lý do nào đó mà không giảng pháp, lại có các
cư sĩ đứng ra chỉ dẫn cho nhau, nên xem nếu họ có đủ
khả năng thì tùy hỉ khen ngợi, giúp họ phương tiện để
hoằng truyền đạo Giác Ngộ cho lan rộng khắp thế giới,
để mọi người đều hân hoan bơi lội trong biển Phật Pháp,
thoát được địa ngục vô minh tham sân si, không nên tự coi
mình như là con thừa tựỉ được hưởng gia tài, đem kinh
điển đi làm "nhãn hiệu trình tòa" để giành độc quyền,
rồi dọa dẫm Phật tử rằng họ nghe pháp của cư sĩ giảng
là bất hợp pháp, sẽ bị tội đồng l a, dọa dẫm đủ loại
địa ngục!
Cũng chỉ vì cái
quan niệm mê tín dị đoan, lưu truyền từ thời phong kiến,
phân chia ra mọi loại giai cấp, khiến cho một số người
lợi dụng tình thế tự phong thần cho chính mình, tạo nên
một bức màn huyền bí, làm cho biết bao nhiêu người chỉ
vì không dám thắc mắc đối với Tăng Ni, sợ đọa địa
ngục, mà "cái gọi là Sư Cô T.H.", một "sư cô" vốn gốc
là đệ tử của mấy vị Ðại Sư, mới có được cái "dù"
quyền lực thần bí mà lôi tuốt hàng ngàn đầu óc mê muội
vì sợ sệt vào thẳng "Ðịa Ngục Vô Minh".
Pháp thường hằng
và mênh mông khắp nơi. Tâm được giải thoát khỏi Tam Ðộc
là hội nhập được chánh pháp, rồi đem lòng từ bi san sẻ
với tha nhân, cùng nhau tu hành tự giác giác tha cho đến giác
hạnh viên mãn thì sẽ hòa vào với Pháp là bản thể chân
tâm. Không nên hẹp hòi đem Pháp bỏ vào lọ, trình tòa để
làm của riêng, tự cho mình là dòng chính thống được độc
quyền khai thác, không mở rộng tâm ra, tối ngày bo bo giữ
của, sợ người này người kia "ăn trộm Pháp", thì sẽ chỉ
là người coi kho đếm tiền, không có cơ hội được thấm
nhuần mùi vị giải thoát.
Nguồn hào quang
rực rỡ của Ðại Giải Thoát mà lại bị những người tự
nhận là có độc quyền muốn thuyết pháp cho ai, muốn thu,
phát lúc nào, hoặc cho ai tùy ý mình, muốn đem nhốt Pháp
vào lọ biến thành của gia bảo, cha truyền con nối cho riêng
tầng lớp mình, thật là Ðại Khôi Hài !!!
L.H. (11-27-99)
x
|