|
|
c
|
Tìm
hiểu Thiền Ðịnh Nam Tông
|
From:
Hoa H Nguyen <hoang_uyen@junọcom>
Date:
Thu Jan 25, 2001 8:05pm
Subject:
Tìm hiểu Thiền Ðịnh Nam Tông
Chào quý đạo
hữu,
Tôi thử tìm hiểu
về Thiền Ðịnh Nam Tông, đặc biệt là trạng thái Ðịnh,
qua một số tài liệu và kinh điển. Chắc chắn những điều
viết ra sẽ rất thiếu sót, nhất là khi bài viết bị hạn
chế về nguồn tư liệu, về thời gianviết,hình thức viết,
và ngay người viết chỉ đang ở bước tìm hiểụ Cũng có
khả năng còn có sự sai lạc nữạ Cho nên nếu được sự
góp ý để bổ túc hay sửa lại chỗ không đúng từ những
đạo hữu hiểu biết sâu sắc vấn đề, về mặt lý thuyết
hay thực hành, thì sẽ đem lại ích lợi nhiều hơn cho ai muốn
tìm hiểu, cầu học , và nhất là cho riêng người viết mà
ý muốn trước tiên chỉ là để sắp xếp lại những thu
thập có khi do tình cờ, không hệ thống, từ nhiều nguồn
khác nhaụ
So với Bắc tông
, thì Phật giáo Nam Tông gần với Phật giáo Nguyên Thuỷ hơn,
nên pháp Thiền Ðịnh Nam tông được thấy cũng có chỗ gần
với Thiền Ðịnh thời Phật tại thế hơn. Theo kinh điển,
đức Thế Tôn thoạt tiên học và thành tựu Tứ Thiền với
đạo sư Alara, và sau đó học và thành tựu Tứ (Vô Sắc)
Ðịnh với đạo sư Uddakạ Nhưng Thiền định Phật giáo về
sau càng phát triển thêm rất nhiều, nhất là về pháp Quán,
trở thành khác với lối Thiền Ðịnh của ngoại đạo, tuy
là Tứ Thiền Bát Ðịnh vẫn còn được giữ gìn, nhất là
ở Nam tông. Ngày nay, kinh Niệm Xứ vẫn còn được Nam tông
dùng dạy một lối Thiền (Bốn Niệm xứ) hoàn toàn không
giống với cách hành Thiền của Bà La Môn giáo .
Thiền Nam tông
phân biệt r hai hình thức hành Thiền, và ngày nay như thuộc
về hai "phái Thiền" khác nhau : Thiền Chỉ (Samatha) và Thiền
Quán hay Minh Sát (Vipassana). Thiền Chỉ tập giữ tâm ở trạng
thái tĩnh, bằng cách chú tâm vào một điểm trong đề mục
Thiền, cũng bao gồm cả quán tưởng về các hình dạng nhất
định, nhiều màu sắc khác nhau, với mục đích là để đốí
trị với các tâm lý dao động, trạo cử, hay những vọng
niệm, để làm cho thân tâm được an tịnh, và sau cùng đi
vào Ðịnh. Ðây là Cận hành Ðịnh và An Chỉ Ðịnh. Khi đạt
dược hai loại định này, thì tâm thức hành giả sẽ có
được an lạc, vắng lặng, đoạn trừ được phiền nãọ
Phương tiện tu tập có thể là nhiếp tâm trên một đốí
tượng (hay đề mục) gọi là Kasana, và có thể lần lượt
đi vào các tầng thiền thuộc Tứ Thiền Bát định. Nhưng
có người ở phái Thiền khác chỉ trích pháp môn này, cho
là khi tâm ra khỏi an chỉ định thì an lạc cũng mất, và
Ðịnh này không sinh ra trí tuệ (Phật giáo).
Thiền Minh Sát
dùng Chú Niệm (Sati) theo d i và phân tích một đốí tượng
thuộc về sinh hoạt của thân,tâm hay pháp (như thân hành,
cảm thọ, thức, đề mục tâm...) để có được chánh niệm,
nhận thức được Tam tướng (vô thường, khổ đau, vô ngã)
của mọi hiện tương, phát triển tuệ giác, để sau cùng
đi đến Trí tuệ PG.
Theo TT Thích Chơn
Thiện trong quyển "Tìm vào thực tại " thì: " Nếu hành giả
lấy Thiền Chỉ làm phương tiện tu tập thì sẽ vào Ðịnh
nhanh hơn. Tiếp theo nhiếp niệm trên một đối tượng gọi
là Kasina từng bước đi vào thanh tịnh tâm, sẽ lần lượt
vào Sơ Thiền cho đến Vô Sở Hữu xứ định (không nên vào
Phi TưởngPhi Phi Tưởng xứ). Hành giả Thiền Chỉ có thể
dừng ở Tứ Sắc Ðịnh để hành Thiền Quán Ba pháp Ấn (Tam
tướng) , hay Năm thủ uẩn (Ngũ Uẩn) để vào các thánh quả.
Hoặc từ Vô Sở Hữu xứ Ðịnh mà hành Bốn Vô lượng Tâm
để vào Diệt Thọ Tưởng Ðịnh. Tại đó, Chánh Trí giải
thoát xuất hiện.
Ở Nam Tông, giữa
Thiền Chỉ và Thiền Quán (Minh Sát) thật ra chỉ có điểm
khác biệt căn bản là :
_ Nếu hành giả
hành Thiền Quán ngay từ đầu không chờ vào Cận Ðịnh hay
Toàn Ðịnh, thì gọi là hành Thiền Quán.
_ Nếu chỉ hành
Thiền Quán sau khi đạt đã tới Tứ sắc Ðịnh, hay Vô sở
hữu xứ Ðịnh thì gọi là hành Thiền Chỉ. Nếu hành Thiền
Quán như là phương tiện tu tập thì hành giả sẽ khá chậm
vào Ðịnh, có khi rất chậm "
Vì loạt bài này
có dụng ý bàn nhiều về Ðịnh, nên có lẽ tôi sẽ nói về
Thiền Chỉ nhiều hơn, và sẽ bắt đầu từ cách tu tập Kasina
, để tiến tới các loại Ðịnh ghi theo kinh điển truyền
thống.Tuy nhiên, trước hết cũng cần làm r ràng một vài
từ ngữ với ý nghĩa theo Thiền Ðịnh Nam Tông. Cận hành
Ðịnh, hay Cận Ðịnh, là giai đoạn tâm trở nên tập trung
và vắng lặng trong một khoảng thời gian, và sau đó sự tập
trung sẽ biến mất. Ngoài ra, còn khi còn phân biệt thêm Nhập
Ðịnh cũng giống như Cận Ðịnh, nhưng sự tập trung tâm
kéo dài hơn. An Chỉ Ðịnh thường rất vi tế, vững chắc
và không thay đổi, sự tập trung tâm duy trì được lâu dàị
Trong giai đoạn Nhập định , đôi khi xuất hiên phía trước
hành giả một hình ảnh gọi là Nimitta, mà đôi khi tôi sẽ
dịch là Tợ Tướng, và có người dịch là Ấn chứng. Ðó
là những hình ảnh về sự thấy hay nghe của hành giả khi
quán tưởng, như hình ảnh, ánh sáng đề mục, hay âm thanh,
có khi là những cảm nhận bất thường giống như ma quáị
(còn tiếp)
Nguyễn Hòa
From: "Hoa Nguyen"
<thanhhuy@email.msn.com>
Date: Sat Jan 27,
2001 0:05am
Subject: Tìm hiểu
Thiền Ðịnh Nam tông
Các
Trạng Thái Ðịnh :
Thiền Sư U Silananda
có viết về nhiều loại tâm Ðịnh khác nhau . Ở thiền Chỉ
, có tâm Nhập định Jhana, và trước đó thì có tâm Cận
định. Gọi là Cận định vì tâm này sinh khởi rất gần
với tâm Nhập định Jhana, và chưa có tâm Cận định thì
không thể có tâm Nhập định Hành giả thiền Quán Vipassana
lại phát triển loại Ðịnh không phải Nhập định mà cũng
chẳng phải Cận định, nhưng gần giống như Cận định,
đó là Chập định -- Kanika samadhi (hay Sát-na định, Ðịnh
từng "chập"). Tâm Cận định có thể an trụ trên đối tượng,
đề mục trong một thời gian khá lâu, giây phút này đến
giây phút khác mà không bị dứt đoạn. Chập định cũng vậy,
cũng có khả năng giữ những chướng ngại ngoài tâm, cũng
có khả năng an trụ trên đối tượng hết giây phút này đến
giây phút khác, không dứt đoạn. Chập định không khác gì
Cận định, nhưng ta không gọi nó là Cận định vì nó không
sinh khởi kế trước tâm Nhập định. (Nghĩa là sau Chập Ðịnh
không có tình trạng Nhập Ðịnh). Chỗ khác nữa là Cận định
an trụ trên "một" đối tượng duy nhất trong khi đó Chập
định an trụ trên "những" đối tượng khác nhau trong những
lúc khác nhau, nhưng cả hai đều có khả năng an trụ vững
yên trên đối tượng như nhaụ
Thiền sư Mahasi
Sayadaw (trích từ quyển "Những vị Thiền sư Ðương thời")
mô tả vài nét về tình trạng Chập Ðịnh hay chuẩn bị để
vào tình trạng này, khi hành giả thấy ánh sáng, đôi khi quá
rực rỡ, và có được tâm hỷ, lạc, xả, hạnh phúc..., nhưng
khuyên hành giả đừng để bị vướng mắc :" Tuệ giác thể
nhập vào trong những đề mục bằng sự dễ chịụ Tâm trở
nên vững chắc và ngay thẳng, và hành giả mong muốn thoát
ly tất cả bất thiện pháp. Nhờ niềm tin mạnh mẽ, cho nên
tâm vô cùng sáng suốt. Ðôi khi lúc đó không còn đề mục
nào để chú niệm cả, thời gian rất lâu, tâm vẫn còn an
trụ. Ðối với hành giả, lúc đó tâm xả phát sanh liên quan
với tuệ giác. Sự an lạc vượt lên trên tất cả những
kinh nghiệm cũ của hành giả. Nơi đó sanh lên sự chấp thủ
vào thiên nhiên huyền ảo kia đến nỗi hành giả dính mắc
vào tuệ giác đó, tuệ giác đó thì liên quan với ánh sáng,
chánh niệm và hỉ lạc. Hành giả trải qua tất cả những
điều này như là hỉ lạc của thiền định. Hành giả không
nên suy niệm đến những điều xảy ra như thế. Như mỗi
lần phát sanh, nên chú niệm chúng như vầy: ánh sáng, niềm
tin, hỉ lạc, tâm xả, hạnh phúc. Lúc nào có ánh sáng, hành
giả nên chú niệm ánh sáng cho đến khi nào nó biến mất.
Tương tự trong
những trường hợp khác, những hành động chú niệm cũng
phải làm như vậỵ Lúc đầu khi ánh sáng xuất hiện, hành
giả thất niệm và thích nhìn thấy ánh sáng. Thậm chí hành
giả còn hoan hỉ chú niệm đến ánh sáng nữa là khác, ánh
sáng sẽ hòa nhập với những cảm giác hỉ lạc và hạnh
phúc, và có lẽ nó còn vương vướng đâu đó. Tuy nhiên về
sau hành giả quen với hiện tượng này và sẽtiếp tục chú
niệm chúng nhiều hơn cho đến khi nào chúng biến mất. Ðôi
khi ánh sáng quá rực rỡ đến nỗi hành giả thấy ánh sáng,
suy nghĩ khó mà làm nó tiêu tan trong phạm vi chú niệm ánh
sáng luôn khị Như thế hành giả không nên chú niệm ánh sáng
nữa và xoay qua chú niệm liên tục bất kỳ đề mục nào
mà phát sanh trong thân của hành giả. Hành giả không nên suy
nghĩ là ánh sáng còn ở đó chăng. Nếu có như vậy, có lẽ
hành giả thấy ánh sáng. Nếu như suy nghĩ này phát sanh, hành
giả nên phân tán ánh sáng bằng sự chú tâm liên tục đến
mỗi sự suy nghĩ đó. Trong nhiều trường hợp, thậm chí không
có sở thích như thế đối với bất kỳ đề mục nào nói
riêng, thì những đề mục mờ nhạt xuất hiện lần lượt
cái nọ sang cái kia giống như toa xe lửạ Thế thì hành giả
phải phản ứng lại bằng thị giác đơn thuần là thấy,
thấy, và mỗi đề mục đó sẽ biến mất. Khi nào tuệ giác
của thiền sinh trở nên yếu kém, thì những đề mục trở
nên r hơn. Vậy thì mỗi đề mục phải chú niệm cho đến
khi nào hàng loạt đề mục biến mất hoàn toàn.
Hành giả nên
nhận biết thực tế rằng ấp ủ một sở thích cho hiện
tượng như là ánh sáng và sẽ bị dính mắc vào chúng, đó
là một thái độ sai lầm. Sự trả lời đúng đó là tuân
theo con đường của tuệ minh sát, là để chú niệm những
đề mục này chuyên chú cho đến khi nào chúng diệt. Khi nào
hành giả liên tục áp dụng chánh niệm cho thân và tâm, thì
tuệ giác của hành giả sẽ phát triển mạnh mẽ. "
Trong Thiền Chỉ,
theo thiền sư U Ba Khin (cũng trong " Những vị Thiền sư đương
thời ") những dấu hiệu trong "giai đoạn ánh sáng" như trên
rất đáng khuyến khích và nên tiếp tục ( vì là gần với
Cận Ðịnh ):" Luôn luôn có những giai đoạn cho sự tiến
bộ của phương pháp Thiền này khi nó đi đúng hướng, bằng
sự xuất hiện của những biểu tượng (tợ tướng) mà người
ta thấy được từ hình dáng của của vài vật "màu trắng"
ngược lại với bất cứ điều gì có "màu đen". Lúc ban đầu
người ta thấy chúng ở hình dáng của những đám mây, hoặc
bông gòn, và đôi lúc những hình dạng màu trắng như là khói,
mạng nhện, những bông hoa, đĩa, nhưng khi tập trung sâu sắc
hơn, chúng xuất hiện như những tia sáng, hoặc những điểm
sáng, như một ngôi sao bé xíu, hoặc mặt trăng, mặt trờị
Nếu những giai đoạn này xuất hiện trong Thiền (lẽ dĩ nhiên
mắt nhắm lại), sự việc đương nhiên xem như là đúng đó
là hành giả đã tập trung được. Sau đó, điều cơ bản
là để cho hành giả cố gắng tu tập sau một lúc nghỉ ngơi
để tập trung trở lại với "giai đoạn ánh sáng" càng nhanh
càng tốt."
Tuy nhiên, theo
pháp Thiền mà thiền sư U Ba khin dạy thì : " Khi thiền sinh
đạt đến mức độ Ðịnh nào đó (thường là Ðịnh Samadhi)....khoá
tu tập này được chuyển qua Thiền Quán ".
(Còn tiếp)
Nguyễn Hòa
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Sat Jan 27, 2001 10:30pm
Subject:
Tìm hiểu Thiền Ðịnh Nam tông3
KASINA
Thiền Ðịnh Nam
tông có bốn mười đề mục, hay đốí tượng, quán chiếụ
Ở đây , tôi trình bày về 10 đề mục quán chiếu thuộc
về Kasina, liên hệ đến các vật có tướng trạng như : đất,
nước, gió, lửa, vật màu xanh (lam), vàng,đỏ, trắng, ánh
sáng, và không gian. Tám đề mục đầu tiên thuộc về Sắc
Ðịnh, và hai đề mục sau đưa tới Vô sắc định.
Phương pháp quán
chiếu Kasina có ghi chép trong kinh điển Phật giáo, lại dường
như là pháp Thiền Ðịnh riêng của Phật giáo, và cho tới
nay chưa tìm thấy cách tập Thiền tương tự ở ngoại đạo
Bà La môn. Kasina có nghĩa là toàn thể, trọn vẹn, ở đây
chỉ vật hình tròn, làm bằng đất chẳng hạn, để làm phương
tiện nhìn ngắm, quán tưởng , và cũng là cái hình ảnh trong
tâm trí (Uggaha-nimitta, tâm ảnh) có được sau khi nhìn lâu
vào vật làm đề mục quán tưởng. Sau cùng Kasina cũng chỉ
cái Nimitta phát sinh ra từ đó. Nimitta lại cũng có nhiều nghĩa,
ở đây hiểu là cái dấu chỉ của tâm được soi sáng sau
khi tập quán chiếu thành công. Dấu chỉ này báo trước sắp
vào Cận Ðịnh, tiếng Pali gọi là "Patibhaga-nimitta", và tôi
dịch là "tợ tướng" (hay tợ ảnh) là hình ảnh tinh tế,
nguyên thuần hơn cái tâm ảnh nói ở trên, khởi lên trong
tấm gương tâm"như mặt trăng hiện ra khỏi đám mây", là
biểu tượng cho toàn thể tính chất của vật quán tưởng.
KASINA Ðất
Hành giả muốn
vào Ðịnh bằng cách tập Kasina Ðất thì trước hết dùng
đất sét, màu đỏ nhạt hay có màu ráng trời lúc rạng đông,
nắn thành cái dĩa tròn, mặt thật nhẵn mịn nhưda trống,
đường kính chừng bốn inch, rồi để trước mặt mà nhìn
ngắm, quán tưởng. Giữ mức nhìn đều, mắt không cần mở
lâu quá. Cái dĩa phải được nhìn thấy, nhưng không cần
thấy r quá, bằng không Nimitta sẽ không khởi lên. Không chú
tâm quá, cũng không phóng tâm, nhưng giống như một người
nhìn ảnh mình hiện ra trong gương, không để ý đến hình
dạng, màu sắc của gương. Nhìn vào cái dĩa đất mà không
để ý đến màu sắc hay các tính chất khác của nó, chỉ
giữ trong tâm ý niệm hay khái niệm về Ðất là chất tạo
thành cái dĩạ Không chỉ nghĩ về đất làm ra cái dĩa, mà
nghĩ thêm chính mình cũng là đất, nhớ tới thân thể được
tạo bằng Ðịa đạị Hành giả cứ nghĩ tưởng về cái
dĩa cho đến khi có được Tợ Tướng, đôi khi với mắt mở
ra, đôi khi với mắt nhắm lại, dù việc thực tập này phải
diễn ra trong bao nhiêu lần. Khi mắt nhắm mà hình ảnh của
cái dĩa vẫn hiện ra trong tâm r ràng như lúc mở mắt, thì
dấu chỉ này gọi là Uggaha-nimitta, hay tâm ảnh, đã được
phát triển đầy đủ. Khi đã có được điều đó, hành giả
không cần tiếp tục ngồi ngắm cái dĩa nữa, mà có thể
bỏ đi chỗ khác và ráng giữ được cái ảnh dĩa trong tâm.
Nếu thấy tâm ảnh bị mất hay hiện lên không r thì trở
lại nhìn ngắm dĩa như trước để có được dấu chỉ tươi
mớị Sau cùng sẽ hiện lên Patibhaga-nimitta (Tợ Tướng) tinh
tuyền gấp trăm, hay ngàn lần hình ảnh trước, như đã nói
ở trên, tợ tướng hiện ra như từ bên trong một tấm gương
sạch, hay như vừng trăng ra khỏi đám mâỵ Lúc đó tâm đã
hoàn toàn tập trung và hành giả đi vào Upacara-samadhi (trước
cận định). Tuy nhiên, trong cách quán tưởng Kasina, Upacara-samadhi
trên còn yếụ Phải còn đi vào cận định với tợ tướng
duy trì trong một lúc, và rồi tiếp theo vào Ðịnh.
Kasina Nước
Dùng chén nước
để quán tưởng , hoặc ai đã có kinh nghiệm trước rồi
thì nhìn ngắm nước thiên nhiền ở ao, hồ, sông, hay biển,
cho đến khi Tợ tướng khởi lên. Những loại Kasina khác không
trình bày ở đâỵ (Còn tiếp)
Nguyễn Hòa
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Sun Jan 28, 2001 9:54pm
Subject:
Tìm hiểu Thiền Ðịnh Nam tông 4
KASINA (tiếp theo)
Xin trình bày
thêm về Kasina, với vài bổ túc.
Kasina Ðất ( Pathavi-kasina)
: khi nhìn ngắm đề mục bằng đất, hành giả niệm " Ðất,
đất" (hay Pathavi), và cứ lặp lại như
thế. Tợ tướng
có hình tấm gương trong sáng hay mặt trăng.
Kasina Nước (
Apo-kasina) : Người mới tập nhìn ngắm nước trong chậu hay
chén, và nước phải tinh khiết như nước mưạ Giữ ý thức
về Thủy đại, và niệm trong tâm " Nước, nước" (hay apo).
Nếu tập đúng, lần lượt sẽ có hai Nimitta xuất hiện :
tâm ảnh (phản ảnh mặt nước đang nhìn) và tợ tướng có
hình cái quạt ngọc hay cái gương nằm trên bầu trờị
Kasina Lửa ( Tejo-kasina)
:
Nếu hành giả
đã có kinh nghiệm thì Nimitta sẽ xuất hiện khi nhìn ngọn
lửa của đèn, lò bếp, hay lửa cháy rừng. Người mới tập
thì nhìn lửa từ củi cháy qua một tấm vải có khoét lỗ
tròn rộng chừng bốn inch. Cũng niệm "Lửa, lửa" (hay tejo,
tejo), nhưng không để ý tới màu sắc hay sức nóng của lửạTợ
tướng sẽ xuất hiện như mảnh chăn đỏ, cái quạt hay cây
trụ màu vàng kim nằm trên bầu trờị
Kasina màu Xanh
Lam ( Nila-kasina)
Nila có nghĩa "blue-green".
Hành giả đã có kinh nghiệm có thể nhìn cánh hoa hay luống
hoa màu xanh, hoặc một miếng vải, viên ngọc màu xanh. Người
mới tập dùng hoa màu xanh đặt trong rổ hay mâm tròn để
tạo thành một vật tròn, dày đăc màu xanh. Có thể dùng mảnh
kim khí hay lá xanh (blue), hoặc một cái dĩa sơn xanh có đường
kính chừng bốn inch. Khi nhìn ngắm cũng niệm "Xanh, xanh" (hay
Nilam, nilam). Tợ tướng sẽ hiện ra như cái quạt làm bằng
ngọc xanh.
Kasina Ánh Sáng
( Aloka-kasina)
Hành giả nhìn
vệt ánh sáng lọt qua kẽ nứt ở tường vách, ổ khoá, hay
từ cửa sổ mở. Người đã có kinh nghiệm về kasina có thể
nhìn vệt tròn trên tường hay trên mặt đất của ánh nắng
hay ánh trăng lọt qua một lỗ trên vách hay mái nhà. Hay nhìn
mảnh sáng tròn in trên đất khi ánh sáng lọt qua vòm lá. Có
thể dùng ánh sáng của cây đèn đặt trong chậu đất có
khoét lỗ tròn ở đáy hướng về tường để tạo ra một
dĩa tròn sáng trên tường. Cũng niệm "ánh sáng, ánh sáng"
(hay aloko, aloko). Tợ tướng sẽ hiện ra như một khốí ánh
sáng rực rỡ.
Kinh Anguttara Nikaya
nói về việc tu tập theo mười Kasina : "Chỉ những ai có được
những phẩm hạnh tốt của tín tâm, sự khôn ngoan và quyết
tâm tinh tiến mới thực tập thành công pháp quán tưởng nàỵ
Thiền Ðịnh đến từ phương tiện Kasina sẽ dẫn dắt vào
con đường của trí tuệ, để hành giả có thể hoàn thành
sự viên mãn và hiểu biết toàn vẹn, từ đó sẽ đạt tới
sự an lạc của Niết Bàn"
(Còn tiếp) Nguyễn
Hòa
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Tue Jan 30, 2001 5:37am
Subject:
Tìm hiểu Thiền Ðịnh Nam tông 5
Xin nhắc lại
các tầng Thiền Ðịnh .
I Tứ Thiền (Jhana)
hay Tứ Sắc Ðịnh
Có năm yếu tố
tâm lý gây trở ngại cho việc vào Ðịnh gọi là năm triền
cái : trạo cử, hôn trầm, dục, sân và nghị Khi năm thiền
chi , Tầm , Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, Xả, loại trừ được
năm triền cái trên thìvào được Ðịnh Sơ Thiền. Kinh bộ
định nghĩa :
1/ Sơ Thiền :
khi lìa bỏ dục và ác pháp hành giả trú trong Sơ Thiền, gồm
có cac'h thiền chi Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc. Trong trạng thái này
"hành giả chan hòa, thấm nhập tràn đầy khắp thân thể một
niềm vui lớn ".". Kinh Bắc tông viết: "Ly sanh hỷ lạc" (đây
là ly dục để từ bỏ dục giới vào sắc giới).
2/ Nhị Thiền
: Khi hành giả tiếp tục lìa bỏ hai tâm sở Tầm và Tứ thì
có được tình trạng yên lặng bên trong và được nhất tâm
để có định, và đi vào Nhị Thiền. Lúc này chỉ còn ba
thiền chi là Hỷ, Lạc và Nhất Tâm, và cảm thọ nổi bật
là Hỷ, cho một trạng thái tâmvui mừng, và cảm thọ lạc,
hạnh phúc tràn khắp thân thể.. Kinh Bắc tông viết " Ðịnh
sanh hỷ. lạc".
3/ Tam Thiền: Thiền
chi Hỷ chấm dứt, chỉ còn lại lạc và nhất tâm. Toàn thân
chan hòa một trạng thái khinh an lạc, niềm vui sâu hơn ở
Nhị Thiền. Kinh Bắc tông viết " Ly hỷ diệu lạc".
4/ Tứ Thiền :
Hành giả lìa bỏ trạng thái Lạc (và cả khổ thọ), còn
lại hai thiền chi là Xả và Nhất Tâm. Hành giả thấy thân
tâm thanh tịnh, không còn vướng mắc với cảm thọ, không
có lạc cũng không khổ thọ, vàở trong trạng thái tâm lý
tỉnh giác.
Trong Tứ Sắc
Thiền, năm thiền chỉ giảm dần khi hành giả đi qua "tầng"
thiền cao hơn, thiền chi Nhất Tâm càng lúc càng mạnh hơn
khi đạt tới Tứ Thiền.Trong các Vô sắc Ðịnh sau đây, phải
rời bỏ hoàn toàn tâm thức ở mỗi tầng thiền để đạt
tới tầng thiền kế tiếp.
IỊ Ðịnh (Samadhi)
hay Vô Sắc Ðịnh
1/ Không Vô Biên
Xứ : Từ Tứ Thiền, hành giả đã rời bỏ cảm thọ, không
nhận thức, suy tư , liền khởi tưởng "không gian là vô biên",
cho đến khi nhuần nhuyễn thì chứng đượcÐịnh Không vô
biên xứ.
2/ Thức Vô Biên
Xứ: Từ bỏ không gian vô hạn, hành giả khởi tưởng "Thức
là vô biên", khi nhuần nhuyễn chứng được định Thức Vô
Biên
3/ Vô Sở Hữu
Xứ Ðịnh : Từ bỏ định trên, hành giả khởi tưởng " không
có vật gì cả" để chứng định Vô sở hữu xứ.
4/ Phi Tưởng Phi
Phi Tưởng : Nếu tới đây, hành giả tác ý " không có tưởng
cũng không phải không có tưởng" thì sau một thời gian sẽ
chứng được địn h Phi tưởng Phi phi tưởng.
Theo TT Thích Chơn
Thiện thì hành giả không cần vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng,
vì ở đó tâm tưởng rất nhỏ nhiệm rất khó hành thiền
quán để đoạn tận Tham , và Vô Minh lâu hoặc. Pháp sư Ấn
Thuận (Ðài Loan) cũng chủ trương bỏ Phi tưởng Phi Phi Tưởng,
và cho "Ðịnh tâm đã ở mức quá tế vi, không thể dựa vào
nó mà tu phát chân Tuệ nữa".
5/ Diệt Thọ Tưởng
Ðịnh: Khi chứng nhập Ðịnh này thì hơi thở dứt và thọ
tưởng cũng dứt. Tất cả lậu hoặc bị tiêu trừ, chánh
trí phát khởi, chứng đắc Niết bàn.
Nguyễn Hòa
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Wed Jan 31, 2001 6:32am
Subject:
Tìm Hiểu Thiền Ðịnh Nam Tông 6
Quán
Niệm Hơi Thở - Anapanasati
Một bản kinh
Anapanasati Sutta được dịch ra chữ Hán rất sớm do An Thế
Cao , thời Hậu Hán (Tam quốc), và đặt tên là An Ban Thủ
Ý kinh. Khương Tăng Hội, nhà sư Việt Nam từ Giao Châu qua
Ðông Ngô của Tôn Quyền thời sau đó có viết lời tựa cho
quyển kinh dịch . Bản kinh dịch này ngày nay không còn nữa,
chỉ còn lại những lời chú giải in trong Ðại Tạng và nội
dung đó được gọi là kinh Ðại An Ban Thủ Ý. Trong nội dung
nhưng lời chú giải có mười sáu pháp quán niệm Hơi thở
gần giống với kinh bản tiếng Palị
Khác với những
đề mục quán tưởng khác, Anapanasati bao gồm cả hai phương
pháp Chỉ Ðịnh (Samadhi) và Quán hay Minh sát Vipassana), và được
dùng trong hai trường hợp. Trước hết, pháp quán niệm hơi
thở này được dùng chung với các pháp tu tập Thiền Ðịnh
khác như là phương thức cần thiết để có sự an tịnh cho
cả thân và tâm. Kế đó, đây là đề mục quán tưởng duy
nhất thích hợp cho những ai có nhiều vọng tưởng, vọng
tình, khó kiềm chế, khắc phục. Và điều đáng kể nhất
là pháp môn Quán Niệm Hơi Thở khi chỉ tập riêng cũng có
thể đưa đến Ðịnh và đạt được tuệ giác.
Quán Niệm Hơi
Thở có mười sáu giai đoạn, chia ra làm bốn phần, mỗi phần
có bốn cách tập. Mục đích chung là xây dựng ý thức giác
tỉnh , bước khởi đầu thiết yếu đểđạt tới tuệ giác,
và bốn giai đoạn quán niệm là bốn lãnh vực giác tỉnh
về thân thể, cảm thọ, tâm thức, và đốí tượng của
tâm thức.
" Thở vào, biết
là thở vào, thở ra, biết là thở ra". "Thở vào dài hay ngắn
, thì biết là thở vào dài hay ngắn ; thở ra dài hay ngắn
thì biết thở ra dài hay ngắn.".
Cách tập khởi
đầu này liên hệ đến ý thức giác tỉnh về việc thở,
giúp hơi thở và tâm trí lắng đọng, tĩnh lặng. Hơi thở
càng lúc càng nhỏ, nhẹ, ngắn đi trong khi tâm trí cũng yên
lắng hơn. Hành giả đặt chú tâm ở đầu mũi, và nhận biết
hơi thở vào hay hơi thở ra, ngắn hay dàị Lần lần hơi thở
trở nên rất êm nhẹ, có nhịp điệu đều dặn. Khi tâm trở
nên yên lặng, thanh tịnh, hơi thở càng nhỏ nhiệm đi, và
khi hành giả vào Tứ Sắc thiền thì hơi thở như mất hẳn.Sau
đây là những chú giải trích trong luận Visuddhimaggạ
Cách Ðếm Hơi
Thở
Ðếm hơi thở
giúp người mới tập đạt được nhất tâm. Lúc bắt đầu
tập khi hơi thở vào hay ra, đếm từ một đến năm, rồi
sau đếm từ một đến mườị Cũng có cách đếm "một, một
" trong một hơi thở ra hay vào (để vọng tưởng khó len vào).
Hoặc đếm thật nhanh từ một đến mười trong một lần
thở ra hay thở vào, kể từ lúc hơi thở chạm tới mũị
Hướng chú ý là lỗ mũi hay môi trên, nơi hơi thở chạm tới
khi ra hay vàọ
Tợ Tướng Hiện
Ra dưới Nhiều Dạng
Hành giả quán
tưởng bốn cách quán chiếu trên trong một thời gian thì Tợ
tướng (Patibhaga-nimitta) xuất hiện , và tiếp theo là các yếu
tố của trạng thái Tứ Sắc Ðịnh. Thân tâm trở nên an tịnh.
Vào lúc đó, thân thể cảm thấy nhẹ nh m như muốn bay lên.
Từ lúc hơi thở lắng yên , tâm khởi lên và ghi nhận hơi
thở nhỏ nhiệm như là đối tượng quán tưởng. Hơi thở
trở thành hết sức mong manh đến nỗi hành giả như không
nhận thấy, và tưởng là mình ngừng thở.. Tợ tướng của
hơi thở xuất hiện vào lúc hơi thở nhỏ, nhẹ nhất. Anapanasati
là đề mục quán tưởng tế vi và khó khăn đối với ai không
có trí nhớ tốt và có trực giác nghèo nàn. Do đó nó đòi
hỏi phải có ý thức giác tỉnh đầy đủ và sự nhận biết
nhanh.
Hành Thiền như
thế một thời gian thì tâm ảnh ( Uggala-nimitta) hiện rạ Hình
dạng nó thay đổi tùy theo ngườị Với một số người nó
có vẻ mềm như mảnh bông gòn, hay làn gió nhẹ mát. Với
những người khác nó giống như ngôi sao, viên hồng ngọc
hay ngọc trai tròn. Với người kia nó có vẻ cứng như cây
gậy mũi nhọn. Có người cảm thấy nó như sợi dây dài,
tràng hoa, hay cụm khóị Hay nó giống như mạng nhện, đám
mây, hoa sen trắng, bánh xe hay mặt trời, vầng trăng. Theo thủ
bản của Yogavacara, thì tâm ảnh này giống như nước có bọt,
hay bọt sóng, hoặc giống làn sương khói bay trên lượn sóng
lên xuống, hay giống mây trắng trên trờị Còn tợ tướng
thì giống như cây quạt ngọc, hay tấm gương thủy tinh treo
trên trời, hay là mặt trăng hiện khỏi đám mây, hoặc đàn
cò trắng bay ngang qua đám mây đen. Tợ tướng r và tinh tuyền
gấp trăm lần tâm ảnh.
Ba Vật thể Khác
Nhau
Trong pháp quán
niệm này có ba vật thể khác biệt, nhưng không tách rời
nhau của cùng một đốí tượng quán chiếu : hơi thở ra ,
hơi thở vào, và Nimitta của chúng. Ba đốí tượng này cần
nhận biết r ràng, phân biệt, thì mới dẫn tới Cân Ðịnh
hay Ðịnh. Khi Nimitta xuất hiện, hành giả phải tập trung
hết tâm ý vào nó, không đếm hơi thở nữa, cũng không theo
d i hơi thở, chỉ giữ tâm trí trên hình ảnh hiện rạ Khi
tăng năng lực quán chiếu, các triền cái sẽ bị tiêu trừ,
phiền não của tâm bị chế ngự, ý thức giác tỉnh thành
hình, và tâm thức tập trung lúc đó đang ở Cận Ðịnh. Khi
đó, hành giả không nên để ý đến hình dạng hay màu sắc
của hình ảnh (Nimitta), nhưng coi đó như là biểu tượng của
Phong Ðại trong hơi thở. Rồi từ đó, hành giả có thể đi
vào Tứ Thiền.
Nguyễn Hòa
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Thu Feb 1, 2001 6:50am
Subject:
Tìm hiểu Thiền Ðịnh Nam Tông 7
Thiền Minh Sát
Sau đây là vài
đoạn trích trong bài viết của ngài Mahasi Saydaw, về trạng
thái giống như Cận Ðịnh khi hành giả tiến xa trong việc
hành Thiền Minh Sát Tuệ" Sau khi thực chứng tam tướng, hành
giả không suy niệm lâu nữa, mà tiếp tục chú niệm đề
mục thân tâm mà đã liên tục giới thiệu chúng. Như vậy
ở thờiđiểm khi ngũ quyền - tín, tấn, niệm, định, tuệ
- được quân bình hoàn toàn, chú tâm gia tăng dường như nó
trở nên cao tột, và quá trình thân tâm được chú niệm cũng
sanh khởi nhiều hơn. Trong lúc thở vào, phồng ở bụng tự
nó xuất hiện liên tục nhanh chóng, và xẹp cũng trở nên
nhanh chóng hơn một cách tương ứng. Sự liên tục nhanh chóng
thì cũng r trong quá trình co và duỗị Những cử động nhẹ
nhàng hành giả cảm thấy truyền khắp châu thân.Trong nhiều
trường hợp, cảm giác kim châm và ngứa ngái xuất hiện liên
tục nhanh chóng. Nói chung, đây là những cảm giác khó chịu
mà phải cưu mang. Nếu hành giả cố chú niệm chúng bằng
lợi thì có lẽ không thể tiến bộ bằng những kinh nghiệm
thay đổi liên tục đó. Ở đây chú niệm phải tu tập bằng
nhiều hình thức, nhưng có chánh niệm. Trong giai đoạn này
hành giả không cần phải chú niệm đề mục tỉ mỉ sanh
khởi nhanh chóng, mà phải chú niệm chúng chung chung. Nếu hành
giả muốn đặt tên chúng thì tên tập hợp sẽ được đầy
đủ hơn. Tiến trình thân tâm nhiều lúc còn nhanh hơn cái
nháy mắt hoặc là tia chớp. Tuy nhiên, nếu đơn thuần tiếp
tục chú niệm những tiến trình này, thì hành giả có thể
nhận biết đầy đủ thân tâm khi chúng xảy rạ Chánh niệm
trở nên mạnh mẽ. Do quả đó, chánh niệm dường như thể
bám sát vào đề mục mà nó phát sinh. Ðề mục dường như
cũng rực sáng với tâm chánh niệm. Hành giả nhận thức thấu
đáo mỗi đề mục r ràng và tỉ mỉ hơn.
Lại nữa, kết
quả của tuệ quán, là một ánh sáng chói lọi sẽ xuất hiện
đến hành giả. Lúc đó hành giả cũng phát sanh hỷ lạc,
hiện tuong hỷ lạc là "da sởn gai ốc, nước mắt chảy xuống,
rung rinh chân tay". Hỷ lạc mang lại cho hành giả mt niềm vui
và một sự hồi hộp lạ kỳ. Hành giả cảm thấy dường
như đang đu đưạ Thậm chí còn hỏi lại mình không biết
có bị choáng váng hay không. Vậy thì, nơi đó tâm an tịnh
phát sinh và song song với tâm an tịnh thì lại xuất hiện
tâm khinh an... lúc đi, đứng, nằm, ngồi, hành giả hoàn toàn
cảm thấy dễ chịụ Cả hai thân tâm đều khinh an trong tư
thế nhẹ nhàng, dễ chịu có thể chú tâm vào bất kỳ đề
mục nào để lòng tham không còn gia tăng nữạ Hành giả đã
khai thông được sự cứng rắn, nóng nảy, hay đau nhức. Tuệ
giác thể nhập vào trong những đề mục bằng sự dễ chịụ
Tâm trở nên vững chắc và ngay thẳng, và hành giả mong muốn
thoát ly tất cả bất thiện pháp. Nhờ niềm tin mạnh mẽ,
cho nên tâm vô cùng sáng suốt. Ðôi khi lúc đó không còn đề
mục nào để chú niệm cả, thời gian rất lâu, tâm vẫn còn
an trụ, hành giả có thể khởi lên sự suy nghĩ như thế này:
"Thật vậy, đức Phật là một bậc hoàn toàn giác ng. Chính
xác hơn, tiến trình thân và tâm đều là vo thường, khổ
não, vô ngã". Trong khi chú niệm đề mục thiền, hành giả
thực chứng được tam tướng đó. Hành giả muốn khuyên những
người khác tu tập thiền quán, thì mình phải tự dứt bỏ
sự lười biếng và hôn trầm; tinh tấn của hãnh giả không
có xao lãng mà cũng không có căng thẳng quá. Ðối với hành
giả, lúc đó tâm xả phát sanh liên quan với tuệ giác. Sự
an lạc vượt lên trên tất cả những kinh nghiệm cũ của
hành giả. Ðo đó hành giả muốn chia sẻ những kinh nghiệm
và những cảm xúc của mình cho những người khác. Nơi đó
sanh lên sự chấp thủ vào thiên nhiên huyền ảo kia đến
nỗi hành giả dính mắc vào tuệ giác đó, tuệ giác đó thì
lien với ánh sáng, chánh niệm và hỉ lạc. Hành giả trải
qua tất cả những điều này như là hỉ lạc của thiền định."
Ðiều đáng ghi
nhận ở đây là các trạng thái hỷ, lạc, và phát ra ánh
sáng. Trong sách Visuddhi magga có ghi khi hành giả hành Thiền
Vipassana đạt được tuệ giác cao, thì cũng có được các
trạng thái như : phát ra ánh sáng, trí tuệ, hỉ, an tịnh,
lạc, kiên định, hưng phấn, ý thức giác tỉnh, tâm quân
bình (xả) , và dục (ham muốn tăng thêm trí tuệ). Về phát
ánh sáng, thì giống như hào quang, phát ra từ thân thể do
ánh sáng của tuệ giác có được bên trong. Hành giả cũng
đạt được ba trạng thái Ðịnh, trong đó có Không Tam Muội
(Sunnata-samadhi) khi tâm hiểu biết được tánh Không của Ngã.
Nguyễn Hòa
x
|