THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
PHÁP MÔN QUAN ÂM CỦA BÀ THANH HẢI
Trên một diễn đàn Phật giáo, một độc giả đã nghe lời giảng của Bà Thanh Hải tại Đài Bắc 5-3-1988 với tựa đề Tham Sân Si Cao Đẳng và post lên để các độc giả khác vừa đọc vừa nghe.  Nguyên văn bài post có link phần âm thanh như sau:
 

....Các đệ tử của Phật giáo rất thành tâm, mỗi ngày họ lạy Phật, dù là Phật gỗ. Có nghĩa là họ rất thành tâm, họ khát vọng mưốn cầu đạo đến mức đó. Người ta bảo chúng ta lạy Phật gỗ cũng nghe theo, có nghĩa là tâm của chúng ta rất đơn thuần, có phải vậy không? Nhân thiên cũng rất cảm động! Không biết Phật có cảm động hay không! Nhưng tôi rất cảm động. Cảm động nhất là lạy cả đời người mà không thể thành Phật. Phật không đến nói gì hết mà vẫn tiếp tụ lạy....

.....Bởi thế chúng ta lạy Phật phải hiểu rõ là có một ngày chúng ta sẽ gặp Phật, chúng ta phải có sự chuẩn bị trong lòng, không phải mỗi ngày cứ lạy mà không có sự trông mong nào hết. Nếu không có ước vọng có một ngày sẽ găp Phật; thấy Phật, thì không nên lạy nữa! Nếu mỗi ngày lạy Phật; Bồ Tát cầu xin giúp đỡ, không tin rằng có Phật; Bồ Tát ở thế giới này chuẩn bị giúp đỡ chúng ta, thì có nghĩa là chúng ta không tin ở lòng thành của mình, như vậy đừng lạy nữa, - ưổng phí thì giờ...

....Nếu có một vị Phật xưống thế giới này bảo quý vị, - Ngài tức là Phật mà quý vị mong chờ, quý vị sẽ nói sao? Có tin được không? Không dễ tin phải không? Vậy chúng ta quả thật không có hy vọng à? Thật rắc rối à? Vì khi Ngài xưống, Ngài sẽ như chúng ta, nếu Ngài không giống như chúng ta thì chúng ta sẽ nghi ngờ. Ngài giống con người chúng ta mà con` chia ra người ngoại quốc, người trong nước, hưống chi là nếu Ngài khác người? ...

...Có người cho rằng Bà La Môn mượn giáo lý Phật giáo làm thành của họ, tôi cho rằng Phật giáo mượn giáo lý của Bà La Môn biến thành của chúng ta, Vì Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi chưa thành Phật, Ngài học Bà La Môn. Thời đó chưa có kinh điển Phật, sau này Ngài ra truyền pháp mới nói phải không?....

.....Phật Thích Ca Mâu Ni nói, - Phật rất khó gặp được, tìm được Phật là phước báu của trăm ngàn ức kiếp, không có nghĩa là trăm ngàn ức kiếp có một vị Phật ra đời, mà là trăm ngàn ức kiếp chúng ta mới gặp được một lần. Mặc dù trước đó có Minh Sư, nhưng vì thời gian của chúng ta chưa đến, phước báu chưa đủ cũng không thể nhận biết Ngài. Nó là như vậy...

Nếu Anh Chị mưốn nghe thử trọn bài giảng này thì vào link dưới
http://datvietlive.com/forums/showthread.php?t=120894
Ocean_of_love
 

Độc giả CCQM đã trả lời như sau:
http://datvietlive.com/forums/showthread.php?t=119853&page=2
 

Bà Thanh Hải thân danh là cựu ni cô của đạo Phật mà không biết đến điều sơ đẳng nhất của đạo Phật, là khi đức Thích Ca Mâu Ni nói đến Phật, đến Như Lai, là nói về Phật Tá nh, Chân Tâm, True Mind, True Nature, Bản Thể , vân vân, của chúng sinh, “tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh”. Ngài dạy các pháp môn tu hành “Không làm điều xấu ác, Siêng làm điều lành thiện, Thanh tịnh hóa tâm ý...” để chúng sinh chuyển tâm ý xấu thành tâm ý tốt, vun bồi thiện nghiệp, khiến cho có thể tiến tới giai đoạn đầy đủ thuận duyên để có thể tu hành rốt ráo, hóa giải Tham Sân Si, giác ngộ giải thoát, thành Phật, như con đường đức Phật đã đi qua.

Bà ta nói:

...Có người cho rằng Bà La Môn mượn giáo lý Phật giáo làm thành của họ, tôi cho rằng Phật giáo mượn giáo lý của Bà La Môn biến thành của chúng ta, Vì Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi chưa thành Phật, Ngài học Bà La Môn. Thời đó chưa có kinh điển Phật, sau này Ngài ra truyền pháp mới nói phải không?....”

Nói như trên chứng tỏ bà ta chẳng biết thế nào là Bà La Môn, thế nào là Phật giáo. Nhưng câu nói thì kêu lên rổn rảng, nghe như là sâu sắc lắm, đủ để lòe bịp mấy người không hiểu đạo Phật mà mê tín, thích nghe mấy lời “có chữ mà không có nghĩa”.

Bà ta cũng chẳng hiểu rằng pháp môn lạy Phật là một cách tu để thanh tịnh hóa tâm. Kết quả cuối cùng sẽ như lời của bản nhạc Niệm Phật là “Niệm Phật quên niệm Phật, Lúc “Ta” về với “Ta”.Ta” đây là Phật Tánh, là “kiến Tánh thành Phật”, không phải là ông Phật nào đâu.

Đã từng là ni cô mà không biết đến câu :” Nam mô pháp giới Tạng Thân A Di Đà Phật” sao?

- Thế nào là “pháp giới Tạng Thân?”, biết không?

- Thì chính là “ Phật Tánh” đó. 

Bộ suốt đời làm ni cô bà ta chưa từng được nghe giảng “A Di Đà Phật tức Vô Lượng Quang Thọ Phật” sao?

“Vô Lượng” là không giới hạn, “Quang Thọ” là không gian và thời gian, Phật là “Giác” đó, có nghĩa là giác ngộ Bản Thể sáng suốt mênh mông không bị không gian và thời gian giới hạn đó !!!

Đừng để chuyện “ăn chay” của bà ta làm mờ mắt, tưởng bà ta là người chân chính tu hành theo đạo Phật, mà nghe theo những lời nhăng cuội của bà ta. Hitler cũng ăn chay vậy !!! 
 

Còn
Hình hai vị Bồ Tát đứng hai bên hình A Di Đà Phật là Bồ Tát Quán Thế Âm biểu tượng lòng từ bi và Bồ Tát Đại Thế Chí biểu tượng hành trì pháp môn Niệm Phật để thành tựu Trí Tuệ Ba La Mật (Prajnâparamita). 

Bạn click vào link này sẽ thấy: http://www.adidaphat.net Hình bên tay mặt, tay cầm bình tịnh thủy, là hình Bồ Tát Quán Thế Âm. Hình bên trái là hình Bồ Tát Đại Thế Chí. 

Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói về pháp môn tu của Bồ Tát Đại Thế Chí như sau:

... "...Ngài Đại-thế-chí Pháp-vương-tử cùng với năm mươi hai vị Bồ-tát đồng-tu một pháp-môn, liền từ chổ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: 

- "Tôi nhớ hằng-sa kiếp trước, có đức Phật ra đời, tên là Vô-lượng-quang; lúc ấy mười hai đức Như-lai kế nhau thành Phật trong một kiếp đức Phật sau hết, hiệu là Siêu-nhật-nguyệt-quang, dạy cho tôi phép Niệm-Phật-tam-muội. 

Ví-như có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên, thì hai người ấy, dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy cũng là không thấy; nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ mãi, khắc sâu vào tâm-niệm, thì đồng như hình với bóng, cho đến từ đời nầy sang đời khác, không bao-giờ cách-xa nhau. 

Thập-phương Như-lai thương-tưởng chúng-sinh như mẹ nhớ con, nếu con trốn-tránh, thì tuy nhớ, nào có ích gì; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con không cách-xa nhau. Nếu tâm chúng-sinh nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về sau, nhất-định thấy Phật; cách Phật không xa thì không cần phương-tiện, tâm tự được khai-ngộ như người ướp-hương thì thân-thể có mùi thơm, ấy gọi là hương-quang-trang-nghiêm. 

Bản-nhân của tôi là dùng tâm niệm Phật mà vào pháp vô-sinh-nhẫn, nay ở cõi nầy tiếp-dẫn những người niệm Phật về cõi Tịnh-độ. 

Phật hỏi về viên-thông, tôi thu-nhiếp tất-cả sáu căn, không có lựa-chọn, tịnh-niệm kế-tiếp, được vào Tam-ma-đề, đó là thứ nhất." Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám dịch
http://www.thuvienhoasen.org/kinhthulangnghiem-tamminh-05.htm

Bồ Tát Quán Thế Âm là biểu tượng của lòng từ bi, lắng nghe tiếng than của thế giới để cứu độ, cũng chính là lòng từ bi vốn có sẵn trong mỗi chúng ta, nhưng đã bị vùi sâu. Có khi Bồ Tát Quán Thế Âm được vẽ theo hình dáng người nam, trong quan niệm về Phật Tánh không phân biệt nam hoặc nữ. 

"Nhĩ Căn Viên Thông" là tên của pháp môn tu của Bồ Tát Quán Thế Âm được giới thiệu trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, bị bà Thanh Hải mập mờ biến chế thành Pháp Môn Quán Âm, khiến cho một số người không đọc kinh Phật, cứ tưởng bà ấy đang truyền bá đạo Phật theo pháp môn tu hành của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Sau đây là pháp tu Nhĩ Căn Viên Thông, được giới thiệu trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, do hòa thượng Thích Thiện Hoa dịch và chú giải:

... "...Khi đó đức Quán Thế Âm Bồ Tát đứng dậy lạy Phật, cung kính thưa rằng : 

-Bạch Thế Tôn, con nhớ từ hằng hà sa số kiếp về trước, có vị Phật ra đời, tên là Quán Âm. Con đối trước Phật Quán Âm phát tâm Bồ Đề, Ngài dạy con từ nơi nghe rồi nhớ và tu mà được vào chánh định. 
(Văn, tư, tu là điều cần yếu của người tu hành). 

Khi mới “nghe tiếng” không chạy theo thanh trần, xoay cái nghe trở vào chân tánh (nhập lưu vong sở). Vì chỗ vào (chân tánh) đã yên lặng, nên động và tịnh hai món trần cảnh không sanh. 

Chú Giải. 
Đại ý đoạn này nói : Khi cái nghe đối với tiếng, không khởi vọng niệm phân biệt theo tiếng, do xoay cái nghe trở lại tự tánh, nên tâm yên, cảnh tịch. Đây mới giai đoạn thứ nhất. 

Như thế lần lần tăng tấn đến cái nghe (năng) và cảnh bị nghe (sở) cũng hết. 
(Đoạn trên thinh trần yên tịnh, xong còn cái nghe. Đoạn này nói “cái nghe” và “trần bị nghe” đều hết) 

Cũng không an trụ ở chỗ hết nghe. Cái biết hết và cái bị biết cũng không còn. 
(Đoạn trên nói “cái nghe với cái bị nghe hết”, nhưng còn chấp ở nơi “cái hết”. Đoạn này nói cũng không chấp ở nơi chỗ hết. Xong sợ e còn “cái biết hết”, nên nói tiếp : cái biết và cái bị biết cũng không). 

"Cái biết” và “cái bị biết” cả hai đều không, đến chỗ cùng tột viên mãn. Xong hãy còn cái “không”, phải tiến lên một tầng nữa là cái “không” với cái “bị không” cả hai đều diệt hết. Khi các cái sanh và diệt đã diệt hết, thì cái chân tâm tịch diệt hiện tiền. 

Chú Giải. 
Cách tu hành của ngài Quán Âm Bồ Tát là : 

1.-Bắt đầu từ khi cái nghe đối với thanh trần không khởi phân biệt theo thanh trần, nên thanh trần tự vắng lặng; xong còn cái nghe. 

2.-Đến giai đoạn thứ hai là cái nghe (năng, sở) cũng hết, xong còn cái hết. 

3.-Đến tầng thứ ba không chấp ở nơi hết, xong còn cái biết hết. 

4.-Đến tầng thứ tư là cái biết đó cũng không, xong còn cái không. 

5.-Nên đến tầng thứ năm là cái không đó cũng không còn. Lúc bấy giờ các cái vọng niệm phân biệt chấp trước đều hết, thì chân tâm thanh tịnh tự hiện bầy; cũng như các cặn đục đã hết, thì tánh nước trong tự hiện. Mười phương các đức Phật hay các vị Đại Bồ Tát tu hành, chỉ có một con đường duy nhất là trừ hết vọng thì chân hiện bầy, như lau gương sạch bụi, thì ánh sáng tự hiện, thế gọi là thành Phật, hay là chứng Đại Niết Bàn. 
http://www.thuvienhoasen.org/daicuongkinhlangnghiem-12.htm
 

Trích Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục

Cư sĩ Lý Viên Tịnh kết tập
Ấn Quang Ðại Sư giám định 
Chuyển ngữ: Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa

Pháp môn Niệm Phật nguyên lai ra sao? 

Do một niệm tâm tánh của chúng ta giống như hư không thường hằng, bất biến. 
Tuy thường chẳng biến, nhưng lại niệm niệm tùy duyên. 
Nếu chẳng duyên theo Phật giới sẽ duyên theo cửu giới. 
Chẳng duyên theo tam thừa sẽ duyên theo lục đạo. 
Chẳng duyên theo nhân thiên, ắt sẽ duyên theo tam đồ. 
Do duyên theo nhiễm - tịnh sai khác thành ra quả báo sướng - khổ khác xa. 

Dù bản thể trọn chẳng biến đổi, nhưng Tướng và Dụng dĩ nhiên khác biệt một trời, một vực! 

Ví như hư không, mặt trời chiếu thì sáng, mây đùn thì tối. Tuy bản thể của hư không chẳng vì mặt trời hay mây mà tăng, giảm, nhưng tướng trạng hiện rõ hay ngăn che cố nhiên chẳng thể nói là cá mè một lứa. Do nghĩa này, Như Lai dạy mọi chúng sanh duyên niệm nơi Phật. 

Vì thế mới nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật thì hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa”. 

Lại nói: “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh. Vì thế, lúc tâm các ngươi tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh”. 

Hễ duyên theo Phật giới thì tâm này làm Phật, tâm này là Phật.

Nếu duyên theo các giới chúng sanh thì tâm này làm chúng sanh, tâm này là chúng sanh. 

Ðã hiểu vậy rồi mà vẫn chẳng niệm Phật, thật là chuyện chưa từng có! 

Một pháp Niệm Phật lấy vạn đức hồng danh của Như Lai làm duyên, mà vạn đức hồng danh ấy chính là Vô Thượng Giác Ðạo do đức Như Lai đã chứng khi Ngài đắc quả.

Do lấy Quả Ðịa Giác (sự giác ngộ khi đã chứng quả) làm Nhân Ðịa Tâm (cái tâm dùng để tu nhân), cho nên Nhân trùm biển Quả, Quả thấu tột nguồn Nhân. Như người nhiễm hương, thân có mùi thơm; như tò vò nuôi nhện, lâu ngày hóa tò vò con. Thành Phật ngay trong đời này, chuyển phàm thành thánh; công năng, lực dụng của pháp này vượt xa hết thảy các pháp môn khác trong cả một đời giáo hóa của Ðức Phật. 

Bởi lẽ, các pháp môn khác đều cậy vào Tự Lực, phải đoạn "Hoặc" chứng "Chân" mới hòng liễu sanh thoát tử. 

Pháp môn Niệm Phật: Tự Lực và Phật Lực cả hai cùng đủ. Bởi thế, người đã đoạn Hoặc Nghiệp sẽ mau chứng Pháp Thân. Người đầy dẫy Hoặc Nghiệp thì đới nghiệp vãng sanh. 

Pháp này cực kỳ bình thường, dù là kẻ ngu phu, ngu phụ cũng được hưởng lợi ích; nhưng lại cực kỳ huyền diệu, dẫu là Ðẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thoát khỏi phạm vi của pháp này. 

Vì thế, không một ai là chẳng tu được. Hạ thủ dễ, thành công cao. Dùng sức ít, hiệu quả nhanh chóng. Thật là pháp môn đặc biệt trong cả một đời giáo hóa của Như Lai. Vì thế, chẳng thể dùng những giáo lý thông thường để bình luận, phán đoán được! 

Mạt Pháp chúng sanh phước mỏng, huệ cạn, chướng dày, nghiệp sâu, chẳng tu pháp này, toan cậy Tự Lực để đoạn "Hoặc" chứng "Chân" hòng liễu sanh tử thật là vạn nan, vạn nan! 
http://www.thuvienhoasen.org/anquangdaisugiangonluc-01.htm

________________________________________

Bà Thanh Hải:
“...Các đệ tử của Phật giáo rất thành tâm, mỗi ngày họ lạy Phật, dù là Phật gỗ. Có nghĩa là họ rất thành tâm, họ khát vọng mưốn cầu đạo đến mức đó. Người ta bảo chúng ta lạy Phật gỗ cũng nghe theo, có nghĩa là tâm của chúng ta rất đơn thuần, có phải vậy không?

CCQM:
- Bà có lạy bàn thờ tổ tiên nhà bà không? Hình ảnh tổ tiên bà trên bàn thờ đó là bằng giấy hay là bộ xương thật ?

Bà Thanh Hải:
- Nhân thiên cũng rất cảm động! Không biết Phật có cảm động hay không! Nhưng tôi rất cảm động. Cảm động nhất là lạy cả đời người mà không thể thành Phật. Phật không đến nói gì hết mà vẫn tiếp tục lạy....

CCQM:
- Thời gian ăn cơm chùa dài bao lâu mà không biết gì về mục tiêu của pháp môn Lạy Phật vậy? Thế khi bà lạy tổ tiên, bà có vì lý do muốn trở thành tổ tiên mà lạy họ không? Lạy Phật là để mài dần thói kiêu ngạo, hóa giải tật xấu Chấp Ngã. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, có câu chuyện về lời Lục Tổ Huệ Năng dạy tăng Pháp Đạt, như sau:

...”... Tăng Pháp Ðạt, người Hồng Châu, 7 tuổi xuất gia, thường tụng Kinh Pháp Hoa, đến lễ Tổ Sư mà đầu chẳng chấm đất. Sư quở rằng: 
- Ðảnh lễ mà chẳng chấm đất bằng như chẳng lễ, trong tâm ngươi tất có chất chứa một điều gì, ngày thường tu hạnh gì?
Ðáp:
- Niệm Kinh Pháp Hoa đã hết ba ngàn bộ.
Sư nói: 
- Dẫu cho ngươi tụng đến mười ngàn bộ, nếu ngộ được ý Kinh mà chẳng tự cho là thù thắng, mới đồng một hạnh với ta. Nay ngươi tự phụ cho đấy là sự nghiệp mà chẳng biết lỗi, hãy nghe kệ đây: 

Lễ bổn chiết mạn tràng, 
Ðầu hề bất chí địa? 
Hữu ngã tội tức sanh, 
Vong công phước vô tỷ. 

Dịch nghiã: 

Lễ vốn trừ ngã mạn, 
Ðầu sao chẳng chấm đất? 
Có ngã tội liền sanh, 
Quên công, phước vô tận. 

http://www.thuvienhoasen.org/khphapbaodan-07.htm

Bà Thanh Hải:
.....Bởi thế chúng ta lạy Phật phải hiểu rõ là có một ngày chúng ta sẽ gặp Phật, chúng ta phải có sự chuẩn bị trong lòng, không phải mỗi ngày cứ lạy mà không có sự trông mong nào hết. Nếu không có ước vọng có một ngày sẽ găp Phật; thấy Phật, thì không nên lạy nữa!

CCQM:
- Do thiếu hiểu biết về đạo Phật, bà tưởng người ta lạy Phật là để mong gặp một ông Phật bằng xương bằng thịt, nên bà cứ mập mờ mí mí những câu chuyện hoang đường về Phật thời này, bóng gió như bà chính là Phật. Bà không hiểu rằng Phật A Di Đà, Tây Phương Cực Lạc, vân vân, ..., đều là hiển thị Bản Thể Phật Tánh của chính mình. Từ ngữ “gặp Phật” trong nhà Phật tức là “Kiến Tánh”, là “trở về nhà”. Phật chính là “Tâm này là Phật, Tâm này làm Phật”. Nếu lại cầu mong gặp một ông Phật bằng xương bằng thịt ở bên ngoài, thì nhà Phật gọi là “tìm Phật ngoài Tâm”, bị liệt vào hàng ngũ “ngoại đạo” (“ngoại đạo” ở đây có nghĩa là tu hành mà tìm sự giác ngộ ở ngoài Tâm mình).
 

Bà Thanh Hải:
- Nếu mỗi ngày lạy Phật; Bồ Tát cầu xin giúp đỡ, không tin rằng có Phật; Bồ Tát ở thế giới này chuẩn bị giúp đỡ chúng ta, thì có nghĩa là chúng ta không tin ở lòng thành của mình, như vậy đừng lạy nữa, - ưổng phí thì giờ...

CCQM:
- Pháp môn Niệm Phật đã có từ nhiều thế kỷ, rất nhiều người đã nhờ pháp môn này mà sống an lạc “niệm Phật thì không niệm phiền não”, chưa nói đến những trường hợp chết được vãng sanh vào cảnh giới an lành. Điều đó chẳng có gì là khó tin. 

Lục đạo luân hồi là nơi thần thức tùy nghiệp tái sinh. Nếu lúc sống nhờ tu hành mà tâm thanh tịnh, “nghiệp sạch tình không” thì “Kiến Tánh thành Phật”, nếu “niệm Phật thành khối” thì tâm nguyện vãng sinh Cực Lạc sẽ được thành tựu, vì Cực Lạc cũng chính là Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật, “nhất thiết duy Tâm tạo”, mà thôi.

Nay bà bảo người ta “... như vậy đừng lạy nữa, - uổng phí thì giờ..” là bà rất tàn nhẫn, đã tước bỏ niềm an lạc và hy vọng trong sự tu hành của người ta .

Bà Thanh Hải:
....Nếu có một vị Phật xưống thế giới này bảo quý vị, - Ngài tức là Phật mà quý vị mong chờ, quý vị sẽ nói sao? Có tin được không? Không dễ tin phải không? Vậy chúng ta quả thật không có hy vọng à? Thật rắc rối à? Vì khi Ngài xưống, Ngài sẽ như chúng ta, nếu Ngài không giống như chúng ta thì chúng ta sẽ nghi ngờ. Ngài giống con người chúng ta mà con` chia ra người ngoại quốc, người trong nước, hưống chi là nếu Ngài khác người? ...

CCQM:
- Mập mờ đánh lận con đen, lừa bịp! 

Bà Thanh Hải:
..Có người cho rằng Bà La Môn mượn giáo lý Phật giáo làm thành của họ, tôi cho rằng Phật giáo mượn giáo lý của Bà La Môn biến thành của chúng ta, Vì Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi chưa thành Phật, Ngài học Bà La Môn. Thời đó chưa có kinh điển Phật, sau này Ngài ra truyền pháp mới nói phải không?.... 

CCQM:
- Không thể tưởng tượng nổi đây là lời của một cựu ni cô đã từng ngồi dưới mái chùa học giáo lý nhà Phật. Phật giáo và Bà La Môn khác nhau hoàn toàn về cốt tủy. 

Nhà Phật thì “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều bình đẳng”. Chúng sinh đây là cả bốn loài thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Vốn bình đẳng, cho nên Phật dạy: ” Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ đời quá khứ và sẽ là chư Phật trong tương lai”, và “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.

"Thành Phật” đây có nghĩa là trở lại Bản thể Chân Tâm sáng suốt như kinh Viên Giác nói ”Tất cả chúng sinh bổn lai là Phật”, tạm ví như vốn là vàng nhưng có tạp chất (quặng vàng), nay tu hành đạt tới trạng thái thanh tịnh tức là tinh luyện lại để trở thành vàng ròng.

Về Bà La Môn, Phật Học Từ Điển do cư sĩ Đoàn Trung Còn soạn, định nghĩa như sau:

Bà La Môn chủng- Brahmana

Một chủng phái trong hai chủng phái bực nhứt ở Ấn Ðộ, có độc quyền về Tôn giáo, giao thiệp với Thượng đế và Thần linh, cho đến nhà vua cũng phải kiêng nể và lễ bái. Cũng viết: Bà La Môn tánh.

Bên Ấn Ðộ, có bốn chủng phái, ai sanh vào chủng phái: giai cấp nào thì phải sống theo chủng phái ấy:

- Bà La Môn, hạng thày tu.
- Sát Đế Lỵ, hạng vua và công hầu khanh tướng.
- Phệ Xá, hạng thương mãi.
- Thủ Đà La, hạng làm ruộng và thợ thuyền. 

Ngoài bốn chủng phái chánh thức ấy, còn một chủng phái nữa, Chiên Đà La là hạng người làm các nghề hèn hạ: ở đợ, chèo ghe, giết thú vật.

Hồi Phật đi giáo độ, ngài rộng lòng thâu các giai cấp vào hàng đệ tử của ngài.

Trong giai cấp Bà La Môn, có nhiều vị đệ tử thọ giới xuất gia làm Tỳ Kheo: Xá lỵ Phất, Mục Kiền Liên, Ðại Ca Diếp, Ca Chiên Diên... và đều đắc quả Thánh. 

Niết Bàn kinh, quyển 23: người trong giai cấp Bà La Môn cử ăn thịt bò.

Bà La Môn giáo là một nền đạo to tát ở Ấn Độ, có từ trước khi đức Thích Ca sáng lập Phật giáo.

Từ trước tới nay, đạo Bà La Môn rất thạnh ở Ấn Ðộ, chi phối tất cả phần Tôn giáo và phần chánh trị trong nước. 

Theo thể lệ của đạo Bà La Môn, dân chúng ở Ấn Ðộ chia ra làm bốn hạng:
- trên hết là hạng Bà La Môn nhà sự, 
- kế hạng Sát đế lỵ nhà vua, nhà tướng, 
- hạng thứ ba Phệ xá làm thương mãi, 
- dưới nữa hạng thứ tư Tuất đà la làm ruộng và thợ thuyền. 

Theo đó thì nhà vua còn phải tùng theo hạng Bà La Môn. Hạng Bà La Môn nầy có đặc quyền về Tôn giáo, được trực tiếp với thần quỷ và đấng chúa tể trong Ðạo là đức Phạm thiên. Ðược coi là hạng tinh sạch hơn hết.

Ðạo Bà La Môn có trì tụng bốn bộ kinh Phệ đà: Védas: Rig Véda, Yajur véda, Sama véda, Atharva véda, kêu chung theo Tàu là Tứ Minh.

Ðức Thích Ca giáng sanh và tu Giác ngộ, ngài đem lòng từ bi mà giải thoát cho sắc dân, các hạng phái ở Ấn Ðộ. Ngài chỉ trọng cái Nghiệp quả của mỗi người, chớ Ngài không phân biệt giai cấp. Cho nên Ngài có cho những người trong hạng Tuất đà la, cho đến những kẻ nô lệ, bần khổ nhập đạo và trì giới Tịnh hạnh. Rồi hạng người ấy cũng tu đắc quả và thành Thánh được vậy.
http://www.vietshare.com/tusach/tudienph.asp
(Phật Học Từ Điển, soạn giả Đoàn Trung Còn, Tập Nhất, trang 193 – 194).

Bà Thanh Hải:
.....Phật Thích Ca Mâu Ni nói, - Phật rất khó gặp được, tìm được Phật là phước báu của trăm ngàn ức kiếp, không có nghĩa là trăm ngàn ức kiếp có một vị Phật ra đời, mà là trăm ngàn ức kiếp chúng ta mới gặp được một lần. Mặc dù trước đó có Minh Sư, nhưng vì thời gian của chúng ta chưa đến, phước báu chưa đủ cũng không thể nhận biết Ngài. Nó là như vậy...

CCQM:
Phật đây là “Phật tánh” của chúng sinh đó. Chúng sinh đi lạc trong biển sinh tử luân hồi, nay tìm về lại chính mình rất khó. Đã thế, lại còn gặp ma chướng trên đường tu, dẫn dụ sai lầm, thì biết bao giờ mới tới được cảnh giới như bản nhạc Niệm Phật mô tả:

"... Niệm Phật quên niệm Phật
Lúc TA về với TA...."

Đó là lúc “Niệm tới Vô Niệm”, và TA đây là CHÂN TÂM PHẬT TÁNH, là CHÍNH MÌNH đó.

CCQM
 

Originally Posted by Ocean_of_love 
....Lạy Chúa Giê-Su Kitô hoặc lạy Phật Thích Ca Mâu Ni là lạy những vị thánh nhân trong quá khứ. Đó là điều chúng ta nên làm, nên tôn kính tiền nhân của chúng ta. Thí dụ ông nội chúng ta qua đời, chúng ta để tấm hình trên bàn, cúng lạy để tỏ lòng tôn kính một bậc trưởng lão trong quá khứ.

Chúng ta bái lạy Phật, lạy Chúa Giê-Su Kitô đều là nghĩa đó, đó là điều chúng ta nên làm. Nhưng có nhiều Phật sống sao không lạy? Chỉ lạy Phật quá khứ mà thôi? Phật quá khứ nên lạy, thì càng phải lạy Phật hiện tại mới đúng! Như chúng ta đã lạy ông bà nội trong quá khứ, vì họ đã qua đời rồi, nhưng hiện giờ chúng ta cũng nên tôn kính cha mẹ, nếu có chuyện gì, cũng nên hỏi cha mẹ hiện tại.

Cũng ý nghĩa đó, chúng ta có thể lạy phật quá khứ, nhưng chúng ta cũng nên tìm Phật, Minh Sư hiện tại để xin chỉ giáo!....

....Một tượng gỗ cần phải có Pháp sư khai quan điểm nhãn rồi mới có thể thành Phật. để cho người ta lạy, nếu không phải là Phật thì làm sao tạo ra Phật? Một người y sĩ mới có thể đào tạo ra một y sĩ khác....

Cầu xin Bồ Tát, Chư Phật gia trì cho Các Anh, Chị 

Ocean
ps..Các Anh Chị có thể nghe trọn bài giảng qua link dưói
http://datvietlive.com/forums/showthread.php?t=120894
 

Bạn Ocean à,

Những chuyện như "khai quan điểm nhãn" là chuyện của đa thần giáo, không phải là chuyện của nhà Phật.

Phật là Giác, là bậc đã giác ngộ, đã không còn thuộc bình diện tương đối, là Như Lai, không từ đâu đến, không đi về đâu, vốn đã sẵn sàng khắp không gian và không còn bị hạn chế bởi thời gian. Không ai có thể "khai quan điểm nhãn" tượng gỗ để thành Phật được.

Bạn post lên lời bà Thanh Hải: 

"....Một tượng gỗ cần phải có Pháp sư khai quan điểm nhãn rồi mới có thể thành Phật. để cho người ta lạy, nếu không phải là Phật thì làm sao tạo ra Phật? Một người y sĩ mới có thể đào tạo ra một y sĩ khác...."

... những lời này chỉ chứng tỏ bà ta không biết gì về đạo Phật. Phật tức CHÂN TÂM, làm sao lại có chuyện Pháp sư "khai quan điểm nhãn" tượng gỗ, rồi tượng gỗ trở thành Phật !!!

Phật dạy chúng ta tu hành để giác ngộ, Kiến Tánh thành Phật. Phật cũng không thể tạo ra Phật, mà do chúng ta "tự tu, tự hành, tự thành Phật đạo".

Phật đại từ đại bi, nếu có thể "tạo ra Phật" được thì Phật đã không để cho chúng ta phải mất công tu hành cho mệt, Phật đã tạo ra cho chúng ta thành Phật rồi. 

Lâu lâu lại có người tự xưng là "Phật sống". Do không tham khảo kinh Phật nên người ta mới mù quáng mà tin xằng bậy, mong bạn suy nghĩ kỹ đi.

Đời người ngắn ngủi, đừng để bị mê hoặc vì những lời nói vô căn cứ. Thời gian trôi qua không còn gì đáng tiếc cho bằng.

Chân thành,
CCQM

 


 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap