| Bà
Thanh Hải thân danh là cựu ni cô của đạo Phật mà không
biết đến điều sơ đẳng nhất của đạo Phật, là khi đức
Thích Ca Mâu Ni nói đến Phật, đến Như Lai, là nói về Phật
Tá nh, Chân Tâm, True Mind, True Nature, Bản Thể , vân vân,
của chúng sinh, “tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh”.
Ngài dạy các pháp môn tu hành “Không làm điều xấu ác,
Siêng làm điều lành thiện, Thanh tịnh hóa tâm ý...” để
chúng sinh chuyển tâm ý xấu thành tâm ý tốt, vun bồi thiện
nghiệp, khiến cho có thể tiến tới giai đoạn đầy đủ
thuận duyên để có thể tu hành rốt ráo, hóa giải Tham Sân
Si, giác ngộ giải thoát, thành Phật, như con đường đức
Phật đã đi qua.
Bà
ta nói:
“...Có
người cho rằng Bà La Môn mượn giáo lý Phật giáo làm thành
của họ, tôi cho rằng Phật giáo mượn giáo lý của Bà La
Môn biến thành của chúng ta, Vì Phật Thích Ca Mâu Ni trước
khi chưa thành Phật, Ngài học Bà La Môn. Thời đó chưa có
kinh điển Phật, sau này Ngài ra truyền pháp mới nói phải
không?....”
Nói
như trên chứng tỏ bà ta chẳng biết thế nào là Bà La
Môn, thế nào là Phật giáo. Nhưng câu nói thì kêu lên
rổn rảng, nghe như là sâu sắc lắm, đủ để lòe bịp mấy
người không hiểu đạo Phật mà mê tín, thích nghe mấy lời
“có chữ mà không có nghĩa”.
Bà
ta cũng chẳng hiểu rằng pháp môn lạy Phật là một cách
tu để thanh tịnh hóa tâm. Kết quả cuối cùng sẽ như lời
của bản nhạc Niệm Phật là “Niệm Phật quên niệm
Phật, Lúc “Ta” về với “Ta”. “Ta” đây
là Phật Tánh, là “kiến Tánh thành Phật”, không phải
là ông Phật nào đâu.
Đã
từng là ni cô mà không biết đến câu :” Nam mô pháp giới
Tạng Thân A Di Đà Phật” sao?
- Thế
nào là “pháp giới Tạng Thân?”, biết không?
- Thì
chính là “ Phật Tánh” đó.
Bộ
suốt đời làm ni cô bà ta chưa từng được nghe giảng “A
Di Đà Phật tức Vô Lượng Quang Thọ Phật” sao?
“Vô
Lượng” là không giới hạn, “Quang Thọ” là không gian
và thời gian, Phật là “Giác” đó, có nghĩa là giác ngộ
Bản Thể sáng suốt mênh mông không bị không gian và thời
gian giới hạn đó !!!
Đừng
để chuyện “ăn chay” của bà ta làm mờ mắt, tưởng bà
ta là người chân chính tu hành theo đạo Phật, mà nghe theo
những lời nhăng cuội của bà ta. Hitler cũng ăn chay vậy !!!
Còn
Hình
hai vị Bồ Tát đứng hai bên hình A Di Đà Phật là Bồ Tát
Quán Thế Âm biểu tượng lòng từ bi và Bồ Tát Đại Thế
Chí biểu tượng hành trì pháp môn Niệm Phật để
thành tựu Trí Tuệ Ba La Mật (Prajnâparamita).
Bạn
click vào link này sẽ thấy: http://www.adidaphat.net
Hình bên tay mặt, tay cầm bình tịnh thủy, là hình Bồ Tát
Quán Thế Âm. Hình bên trái là hình Bồ Tát Đại Thế Chí.
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm nói về pháp môn tu của Bồ Tát Đại
Thế Chí như sau:
...
"...Ngài Đại-thế-chí Pháp-vương-tử cùng với năm mươi
hai vị Bồ-tát đồng-tu một pháp-môn, liền từ chổ ngồi
đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng:
- "Tôi
nhớ hằng-sa kiếp trước, có đức Phật ra đời, tên là
Vô-lượng-quang; lúc ấy mười hai đức Như-lai kế nhau thành
Phật trong một kiếp đức Phật sau hết, hiệu là Siêu-nhật-nguyệt-quang,
dạy cho tôi phép Niệm-Phật-tam-muội.
Ví-như
có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên,
thì hai người ấy, dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy
cũng là không thấy; nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai
bên nhớ mãi, khắc sâu vào tâm-niệm, thì đồng như hình
với bóng, cho đến từ đời nầy sang đời khác, không bao-giờ
cách-xa nhau.
Thập-phương
Như-lai thương-tưởng chúng-sinh như mẹ nhớ con, nếu con trốn-tránh,
thì tuy nhớ, nào có ích gì; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ
con, thì đời đời mẹ con không cách-xa nhau. Nếu tâm chúng-sinh
nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về sau, nhất-định
thấy Phật; cách Phật không xa thì không cần phương-tiện,
tâm tự được khai-ngộ như người ướp-hương thì thân-thể
có mùi thơm, ấy gọi là hương-quang-trang-nghiêm.
Bản-nhân
của tôi là dùng tâm niệm Phật mà vào pháp vô-sinh-nhẫn,
nay ở cõi nầy tiếp-dẫn những người niệm Phật về cõi
Tịnh-độ.
Phật
hỏi về viên-thông, tôi thu-nhiếp tất-cả sáu căn, không
có lựa-chọn, tịnh-niệm kế-tiếp, được vào Tam-ma-đề,
đó là thứ nhất." Cư sĩ Tâm Minh
Lê Đình Thám dịch
http://www.thuvienhoasen.org/kinhthulangnghiem-tamminh-05.htm
Bồ
Tát Quán Thế Âm là biểu tượng của lòng từ bi, lắng nghe
tiếng than của thế giới để cứu độ, cũng chính là lòng
từ bi vốn có sẵn trong mỗi chúng ta, nhưng đã bị vùi sâu.
Có khi Bồ Tát Quán Thế Âm được vẽ theo hình dáng người
nam, trong quan niệm về Phật Tánh không phân biệt nam hoặc
nữ.
"Nhĩ
Căn Viên Thông" là tên của pháp môn tu của Bồ Tát Quán
Thế Âm được giới thiệu trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, bị
bà Thanh Hải mập mờ biến chế thành Pháp
Môn Quán Âm,
khiến cho một số người không đọc kinh Phật, cứ tưởng
bà ấy đang truyền bá đạo Phật theo pháp môn tu hành của
Bồ Tát Quán Thế Âm.
Sau
đây là pháp tu Nhĩ Căn Viên Thông, được giới thiệu
trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, do hòa thượng Thích Thiện
Hoa dịch và chú giải:
...
"...Khi đó đức Quán Thế Âm Bồ Tát đứng dậy lạy Phật,
cung kính thưa rằng :
-Bạch
Thế Tôn, con nhớ từ hằng hà sa số kiếp về trước, có
vị Phật ra đời, tên là Quán Âm. Con đối trước Phật Quán
Âm phát tâm Bồ Đề, Ngài dạy con từ nơi nghe rồi nhớ và
tu mà được vào chánh định.
(Văn,
tư, tu là điều cần yếu của người tu hành).
Khi
mới “nghe tiếng” không chạy theo thanh trần, xoay cái nghe
trở vào chân tánh (nhập lưu vong sở). Vì chỗ vào (chân tánh)
đã yên lặng, nên động và tịnh hai món trần cảnh không
sanh.
Chú
Giải.
Đại
ý đoạn này nói : Khi cái nghe đối với tiếng, không khởi
vọng niệm phân biệt theo tiếng, do xoay cái nghe trở lại
tự tánh, nên tâm yên, cảnh tịch. Đây mới giai đoạn thứ
nhất.
Như
thế lần lần tăng tấn đến cái nghe (năng) và cảnh bị
nghe (sở) cũng hết.
(Đoạn
trên thinh trần yên tịnh, xong còn cái nghe. Đoạn này nói
“cái nghe” và “trần bị nghe” đều hết)
Cũng
không an trụ ở chỗ hết nghe. Cái biết hết và cái bị biết
cũng không còn.
(Đoạn
trên nói “cái nghe với cái bị nghe hết”, nhưng còn chấp
ở nơi “cái hết”. Đoạn này nói cũng không chấp ở nơi
chỗ hết. Xong sợ e còn “cái biết hết”, nên nói tiếp
: cái biết và cái bị biết cũng không).
"Cái
biết” và “cái bị biết” cả hai đều không, đến chỗ
cùng tột viên mãn. Xong hãy còn cái “không”, phải tiến
lên một tầng nữa là cái “không” với cái “bị không”
cả hai đều diệt hết. Khi các cái sanh và diệt đã diệt
hết, thì cái chân tâm tịch diệt hiện tiền.
Chú
Giải.
Cách
tu hành của ngài Quán Âm Bồ Tát là :
1.-Bắt
đầu từ khi cái nghe đối với thanh trần không khởi phân
biệt theo thanh trần, nên thanh trần tự vắng lặng; xong còn
cái nghe.
2.-Đến
giai đoạn thứ hai là cái nghe (năng, sở) cũng hết, xong còn
cái hết.
3.-Đến
tầng thứ ba không chấp ở nơi hết, xong còn cái biết hết.
4.-Đến
tầng thứ tư là cái biết đó cũng không, xong còn cái không.
5.-Nên
đến tầng thứ năm là cái không đó cũng không còn. Lúc bấy
giờ các cái vọng niệm phân biệt chấp trước đều hết,
thì chân tâm thanh tịnh tự hiện bầy; cũng như các cặn đục
đã hết, thì tánh nước trong tự hiện. Mười phương các
đức Phật hay các vị Đại Bồ Tát tu hành, chỉ có một
con đường duy nhất là trừ hết vọng thì chân hiện bầy,
như lau gương sạch bụi, thì ánh sáng tự hiện, thế gọi
là thành Phật, hay là chứng Đại Niết Bàn.
http://www.thuvienhoasen.org/daicuongkinhlangnghiem-12.htm
Trích
Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục
Cư
sĩ Lý Viên Tịnh kết tập
Ấn
Quang Ðại Sư giám định
Chuyển
ngữ: Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa
Pháp
môn Niệm Phật nguyên lai ra sao?
Do
một niệm tâm tánh của chúng ta giống như hư không thường
hằng, bất biến.
Tuy
thường chẳng biến, nhưng lại niệm niệm tùy duyên.
Nếu
chẳng duyên theo Phật giới sẽ duyên theo cửu giới.
Chẳng
duyên theo tam thừa sẽ duyên theo lục đạo.
Chẳng
duyên theo nhân thiên, ắt sẽ duyên theo tam đồ.
Do
duyên theo nhiễm - tịnh sai khác thành ra quả báo sướng -
khổ khác xa.
Dù
bản thể trọn chẳng biến đổi, nhưng Tướng và Dụng dĩ
nhiên khác biệt một trời, một vực!
Ví
như hư không, mặt trời chiếu thì sáng, mây đùn thì tối.
Tuy bản thể của hư không chẳng vì mặt trời hay mây mà
tăng, giảm, nhưng tướng trạng hiện rõ hay ngăn che cố nhiên
chẳng thể nói là cá mè một lứa. Do nghĩa này, Như Lai dạy
mọi chúng sanh duyên niệm nơi Phật.
Vì
thế mới nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật
thì hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật
chẳng xa”.
Lại
nói: “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân vào trong tâm tưởng
của hết thảy chúng sanh. Vì thế, lúc tâm các ngươi tưởng
Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ
đẹp phụ. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh
Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh”.
Hễ
duyên theo Phật giới thì tâm này làm Phật, tâm này là Phật.
Nếu
duyên theo các giới chúng sanh thì tâm này làm chúng sanh, tâm
này là chúng sanh.
Ðã
hiểu vậy rồi mà vẫn chẳng niệm Phật, thật là chuyện
chưa từng có!
Một
pháp Niệm Phật lấy vạn đức hồng danh của Như Lai làm
duyên, mà vạn đức hồng danh ấy chính là Vô Thượng Giác
Ðạo do đức Như Lai đã chứng khi Ngài đắc quả.
Do
lấy Quả Ðịa Giác (sự giác ngộ khi đã chứng quả) làm
Nhân Ðịa Tâm (cái tâm dùng để tu nhân), cho nên Nhân trùm
biển Quả, Quả thấu tột nguồn Nhân. Như người nhiễm hương,
thân có mùi thơm; như tò vò nuôi nhện, lâu ngày hóa tò vò
con. Thành Phật ngay trong đời này, chuyển phàm thành thánh;
công năng, lực dụng của pháp này vượt xa hết thảy các
pháp môn khác trong cả một đời giáo hóa của Ðức Phật.
Bởi
lẽ, các pháp môn khác đều cậy vào Tự Lực, phải đoạn
"Hoặc" chứng "Chân" mới hòng liễu sanh thoát tử.
Pháp
môn Niệm Phật: Tự Lực và Phật Lực cả hai cùng đủ. Bởi
thế, người đã đoạn Hoặc Nghiệp sẽ mau chứng Pháp Thân.
Người đầy dẫy Hoặc Nghiệp thì đới nghiệp vãng sanh.
Pháp
này cực kỳ bình thường, dù là kẻ ngu phu, ngu phụ cũng
được hưởng lợi ích; nhưng lại cực kỳ huyền diệu, dẫu
là Ðẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thoát khỏi phạm vi của
pháp này.
Vì
thế, không một ai là chẳng tu được. Hạ thủ dễ, thành
công cao. Dùng sức ít, hiệu quả nhanh chóng. Thật là pháp
môn đặc biệt trong cả một đời giáo hóa của Như Lai. Vì
thế, chẳng thể dùng những giáo lý thông thường để bình
luận, phán đoán được!
Mạt
Pháp chúng sanh phước mỏng, huệ cạn, chướng dày, nghiệp
sâu, chẳng tu pháp này, toan cậy Tự Lực để đoạn "Hoặc"
chứng "Chân" hòng liễu sanh tử thật là vạn nan, vạn nan!
http://www.thuvienhoasen.org/anquangdaisugiangonluc-01.htm
________________________________________
Bà
Thanh Hải:
“...Các
đệ tử của Phật giáo rất thành tâm, mỗi ngày họ lạy
Phật, dù là Phật gỗ. Có nghĩa là họ rất thành tâm, họ
khát vọng mưốn cầu đạo đến mức đó. Người ta bảo
chúng ta lạy Phật gỗ cũng nghe theo, có nghĩa là tâm của
chúng ta rất đơn thuần, có phải vậy không?
CCQM:
-
Bà có lạy bàn thờ tổ tiên nhà bà không? Hình ảnh tổ tiên
bà trên bàn thờ đó là bằng giấy hay là bộ xương thật
?
Bà
Thanh Hải:
-
Nhân thiên cũng rất cảm động! Không biết Phật có cảm
động hay không! Nhưng tôi rất cảm động. Cảm động nhất
là lạy cả đời người mà không thể thành Phật. Phật không
đến nói gì hết mà vẫn tiếp tục lạy....
CCQM:
-
Thời gian ăn cơm chùa dài bao lâu mà không biết gì về mục
tiêu của pháp môn Lạy Phật vậy? Thế khi bà lạy tổ tiên,
bà có vì lý do muốn trở thành tổ tiên mà lạy họ không?
Lạy Phật là để mài dần thói kiêu ngạo, hóa giải tật
xấu Chấp Ngã. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, có câu chuyện về
lời Lục Tổ Huệ Năng dạy tăng Pháp Đạt, như sau:
...”...
Tăng Pháp Ðạt, người Hồng Châu, 7 tuổi xuất gia, thường
tụng Kinh Pháp Hoa, đến lễ Tổ Sư mà đầu chẳng chấm đất.
Sư quở rằng:
-
Ðảnh lễ mà chẳng chấm đất bằng như chẳng lễ, trong
tâm ngươi tất có chất chứa một điều gì, ngày thường
tu hạnh gì?
Ðáp:
-
Niệm Kinh Pháp Hoa đã hết ba ngàn bộ.
Sư
nói:
-
Dẫu cho ngươi tụng đến mười ngàn bộ, nếu ngộ được
ý Kinh mà chẳng tự cho là thù thắng, mới đồng một hạnh
với ta. Nay ngươi tự phụ cho đấy là sự nghiệp mà chẳng
biết lỗi, hãy nghe kệ đây:
Lễ
bổn chiết mạn tràng,
Ðầu
hề bất chí địa?
Hữu
ngã tội tức sanh,
Vong
công phước vô tỷ.
Dịch
nghiã:
Lễ
vốn trừ ngã mạn,
Ðầu
sao chẳng chấm đất?
Có
ngã tội liền sanh,
Quên
công, phước vô tận.
http://www.thuvienhoasen.org/khphapbaodan-07.htm
Bà
Thanh Hải:
.....Bởi
thế chúng ta lạy Phật phải hiểu rõ là có một ngày chúng
ta sẽ gặp Phật, chúng ta phải có sự chuẩn bị trong lòng,
không phải mỗi ngày cứ lạy mà không có sự trông mong nào
hết. Nếu không có ước vọng có một ngày sẽ găp Phật;
thấy Phật, thì không nên lạy nữa!
CCQM:
-
Do thiếu hiểu biết về đạo Phật, bà tưởng người ta lạy
Phật là để mong gặp một ông Phật bằng xương bằng thịt,
nên bà cứ mập mờ mí mí những câu chuyện hoang đường
về Phật thời này, bóng gió như bà chính là Phật. Bà không
hiểu rằng Phật A Di Đà, Tây Phương Cực Lạc, vân vân, ...,
đều là hiển thị Bản Thể Phật Tánh của chính mình. Từ
ngữ “gặp Phật” trong nhà Phật tức là “Kiến Tánh”,
là “trở về nhà”. Phật chính là “Tâm này là Phật, Tâm
này làm Phật”. Nếu lại cầu mong gặp một ông Phật bằng
xương bằng thịt ở bên ngoài, thì nhà Phật gọi là “tìm
Phật ngoài Tâm”, bị liệt vào hàng ngũ “ngoại đạo”
(“ngoại đạo” ở đây có nghĩa là tu hành mà tìm sự giác
ngộ ở ngoài Tâm mình).
Bà
Thanh Hải:
-
Nếu mỗi ngày lạy Phật; Bồ Tát cầu xin giúp đỡ, không
tin rằng có Phật; Bồ Tát ở thế giới này chuẩn bị giúp
đỡ chúng ta, thì có nghĩa là chúng ta không tin ở lòng thành
của mình, như vậy đừng lạy nữa, - ưổng phí thì giờ...
CCQM:
-
Pháp môn Niệm Phật đã có từ nhiều thế kỷ, rất nhiều
người đã nhờ pháp môn này mà sống an lạc “niệm Phật
thì không niệm phiền não”, chưa nói đến những trường
hợp chết được vãng sanh vào cảnh giới an lành. Điều đó
chẳng có gì là khó tin.
Lục
đạo luân hồi là nơi thần thức tùy nghiệp tái sinh. Nếu
lúc sống nhờ tu hành mà tâm thanh tịnh, “nghiệp sạch tình
không” thì “Kiến Tánh thành Phật”, nếu “niệm Phật
thành khối” thì tâm nguyện vãng sinh Cực Lạc sẽ được
thành tựu, vì Cực Lạc cũng chính là Pháp Giới Tạng Thân
A Di Đà Phật, “nhất thiết duy Tâm tạo”, mà thôi.
Nay
bà bảo người ta “... như vậy đừng lạy nữa, - uổng phí
thì giờ..” là bà rất tàn nhẫn, đã tước bỏ niềm an
lạc và hy vọng trong sự tu hành của người ta .
Bà
Thanh Hải:
....Nếu
có một vị Phật xưống thế giới này bảo quý vị, - Ngài
tức là Phật mà quý vị mong chờ, quý vị sẽ nói sao? Có
tin được không? Không dễ tin phải không? Vậy chúng ta quả
thật không có hy vọng à? Thật rắc rối à? Vì khi Ngài xưống,
Ngài sẽ như chúng ta, nếu Ngài không giống như chúng ta thì
chúng ta sẽ nghi ngờ. Ngài giống con người chúng ta mà con`
chia ra người ngoại quốc, người trong nước, hưống chi là
nếu Ngài khác người? ...
CCQM:
-
Mập mờ đánh lận con đen, lừa bịp!
Bà
Thanh Hải:
..Có
người cho rằng Bà La Môn mượn giáo lý Phật giáo làm thành
của họ, tôi cho rằng Phật giáo mượn giáo lý của Bà La
Môn biến thành của chúng ta, Vì Phật Thích Ca Mâu Ni trước
khi chưa thành Phật, Ngài học Bà La Môn. Thời đó chưa có
kinh điển Phật, sau này Ngài ra truyền pháp mới nói phải
không?....
CCQM:
-
Không thể tưởng tượng nổi đây là lời của một cựu
ni cô đã từng ngồi dưới mái chùa học giáo lý nhà Phật.
Phật giáo và Bà La Môn khác nhau hoàn toàn về cốt tủy.
Nhà
Phật thì “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều bình
đẳng”. Chúng sinh đây là cả bốn loài thai sanh, noãn sanh,
thấp sanh và hóa sanh. Vốn bình đẳng, cho nên Phật dạy:
” Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ đời quá khứ và sẽ
là chư Phật trong tương lai”, và “Ta là Phật đã thành,
chúng sinh là Phật sẽ thành”.
"Thành
Phật” đây có nghĩa là trở lại Bản thể Chân Tâm sáng
suốt như kinh Viên Giác nói ”Tất cả chúng sinh bổn lai là
Phật”, tạm ví như vốn là vàng nhưng có tạp chất (quặng
vàng), nay tu hành đạt tới trạng thái thanh tịnh tức là
tinh luyện lại để trở thành vàng ròng.
Về
Bà La Môn, Phật Học Từ Điển do cư sĩ Đoàn Trung Còn soạn,
định nghĩa như sau:
Bà
La Môn chủng- Brahmana
Một
chủng phái trong hai chủng phái bực nhứt ở Ấn Ðộ, có
độc quyền về Tôn giáo, giao thiệp với Thượng đế và
Thần linh, cho đến nhà vua cũng phải kiêng nể và lễ bái.
Cũng viết: Bà La Môn tánh.
Bên
Ấn Ðộ, có bốn chủng phái, ai sanh vào chủng phái: giai cấp
nào thì phải sống theo chủng phái ấy:
- Bà
La Môn, hạng thày tu.
-
Sát Đế Lỵ, hạng vua và công hầu khanh tướng.
-
Phệ Xá, hạng thương mãi.
-
Thủ Đà La, hạng làm ruộng và thợ thuyền.
Ngoài
bốn chủng phái chánh thức ấy, còn một chủng phái nữa,
Chiên Đà La là hạng người làm các nghề hèn hạ: ở đợ,
chèo ghe, giết thú vật.
Hồi
Phật đi giáo độ, ngài rộng lòng thâu các giai cấp vào hàng
đệ tử của ngài.
Trong
giai cấp Bà La Môn, có nhiều vị đệ tử thọ giới xuất
gia làm Tỳ Kheo: Xá lỵ Phất, Mục Kiền Liên, Ðại Ca Diếp,
Ca Chiên Diên... và đều đắc quả Thánh.
Niết
Bàn kinh, quyển 23: người trong giai cấp Bà La Môn cử ăn thịt
bò.
Bà
La Môn giáo là một nền đạo to tát ở Ấn Độ, có từ trước
khi đức Thích Ca sáng lập Phật giáo.
Từ
trước tới nay, đạo Bà La Môn rất thạnh ở Ấn Ðộ, chi
phối tất cả phần Tôn giáo và phần chánh trị trong nước.
Theo
thể lệ của đạo Bà La Môn, dân chúng ở Ấn Ðộ chia ra
làm bốn hạng:
-
trên hết là hạng Bà La Môn nhà sự,
-
kế hạng Sát đế lỵ nhà vua, nhà tướng,
-
hạng thứ ba Phệ xá làm thương mãi,
-
dưới nữa hạng thứ tư Tuất đà la làm ruộng và thợ thuyền.
Theo
đó thì nhà vua còn phải tùng theo hạng Bà La Môn. Hạng Bà
La Môn nầy có đặc quyền về Tôn giáo, được trực tiếp
với thần quỷ và đấng chúa tể trong Ðạo là đức Phạm
thiên. Ðược coi là hạng tinh sạch hơn hết.
Ðạo
Bà La Môn có trì tụng bốn bộ kinh Phệ đà: Védas: Rig Véda,
Yajur véda, Sama véda, Atharva véda, kêu chung theo Tàu là Tứ Minh.
Ðức
Thích Ca giáng sanh và tu Giác ngộ, ngài đem lòng từ bi mà
giải thoát cho sắc dân, các hạng phái ở Ấn Ðộ. Ngài chỉ
trọng cái Nghiệp quả của mỗi người, chớ Ngài không phân
biệt giai cấp. Cho nên Ngài có cho những người trong hạng
Tuất đà la, cho đến những kẻ nô lệ, bần khổ nhập đạo
và trì giới Tịnh hạnh. Rồi hạng người ấy cũng tu đắc
quả và thành Thánh được vậy.
http://www.vietshare.com/tusach/tudienph.asp
(Phật
Học Từ Điển, soạn giả Đoàn Trung Còn, Tập Nhất, trang
193 – 194).
Bà
Thanh Hải:
.....Phật
Thích Ca Mâu Ni nói, - Phật rất khó gặp được, tìm được
Phật là phước báu của trăm ngàn ức kiếp, không có nghĩa
là trăm ngàn ức kiếp có một vị Phật ra đời, mà là trăm
ngàn ức kiếp chúng ta mới gặp được một lần. Mặc dù
trước đó có Minh Sư, nhưng vì thời gian của chúng ta chưa
đến, phước báu chưa đủ cũng không thể nhận biết Ngài.
Nó là như vậy...
CCQM:
Phật
đây là “Phật tánh”
của chúng sinh đó. Chúng sinh đi lạc trong biển sinh tử luân
hồi, nay tìm về lại chính mình rất khó. Đã thế, lại còn
gặp ma chướng trên đường tu, dẫn dụ sai lầm, thì biết
bao giờ mới tới được cảnh giới như bản nhạc Niệm Phật
mô tả:
"...
Niệm Phật quên niệm Phật
Lúc
TA về với TA...."
Đó
là lúc “Niệm tới Vô Niệm”, và TA đây là CHÂN TÂM PHẬT
TÁNH, là CHÍNH MÌNH đó.
CCQM
Originally
Posted by Ocean_of_love
....Lạy
Chúa Giê-Su Kitô hoặc lạy Phật Thích Ca Mâu Ni là lạy những
vị thánh nhân trong quá khứ. Đó là điều chúng ta nên làm,
nên tôn kính tiền nhân của chúng ta. Thí dụ ông nội chúng
ta qua đời, chúng ta để tấm hình trên bàn, cúng lạy để
tỏ lòng tôn kính một bậc trưởng lão trong quá khứ.
Chúng
ta bái lạy Phật, lạy Chúa Giê-Su Kitô đều là nghĩa đó,
đó là điều chúng ta nên làm. Nhưng có nhiều Phật sống
sao không lạy? Chỉ lạy Phật quá khứ mà thôi? Phật quá
khứ nên lạy, thì càng phải lạy Phật hiện tại mới đúng!
Như chúng ta đã lạy ông bà nội trong quá khứ, vì họ đã
qua đời rồi, nhưng hiện giờ chúng ta cũng nên tôn kính cha
mẹ, nếu có chuyện gì, cũng nên hỏi cha mẹ hiện tại.
Cũng
ý nghĩa đó, chúng ta có thể lạy phật quá khứ, nhưng chúng
ta cũng nên tìm Phật, Minh Sư hiện tại để xin chỉ giáo!....
....Một
tượng gỗ cần phải có Pháp sư khai quan điểm nhãn rồi
mới có thể thành Phật. để cho người ta lạy, nếu không
phải là Phật thì làm sao tạo ra Phật? Một người y sĩ mới
có thể đào tạo ra một y sĩ khác....
Cầu
xin Bồ Tát, Chư Phật gia trì cho Các Anh, Chị
Ocean
ps..Các
Anh Chị có thể nghe trọn bài giảng qua link dưói
http://datvietlive.com/forums/showthread.php?t=120894
Bạn
Ocean à,
Những
chuyện như "khai quan điểm nhãn" là chuyện của đa thần giáo,
không phải là chuyện của nhà Phật.
Phật
là Giác, là bậc đã giác ngộ, đã không còn thuộc bình diện
tương đối, là Như Lai, không từ đâu đến, không đi về
đâu, vốn đã sẵn sàng khắp không gian và không còn bị hạn
chế bởi thời gian. Không ai có thể "khai quan điểm nhãn"
tượng gỗ để thành Phật được.
Bạn
post lên lời bà Thanh Hải:
"....Một
tượng gỗ cần phải có Pháp sư khai quan điểm nhãn rồi
mới có thể thành Phật. để cho người ta lạy, nếu không
phải là Phật thì làm sao tạo ra Phật? Một người y sĩ mới
có thể đào tạo ra một y sĩ khác...."
...
những lời này chỉ chứng tỏ bà ta không biết gì về đạo
Phật. Phật tức CHÂN TÂM, làm sao lại có chuyện Pháp sư
"khai quan điểm nhãn" tượng gỗ, rồi tượng gỗ trở thành
Phật !!!
Phật
dạy chúng ta tu hành để giác ngộ, Kiến Tánh thành Phật.
Phật cũng không thể tạo ra Phật, mà do chúng ta "tự tu, tự
hành, tự thành Phật đạo".
Phật
đại từ đại bi, nếu có thể "tạo ra Phật" được thì
Phật đã không để cho chúng ta phải mất công tu hành cho
mệt, Phật đã tạo ra cho chúng ta thành Phật rồi.
Lâu
lâu lại có người tự xưng là "Phật sống". Do không tham
khảo kinh Phật nên người ta mới mù quáng mà tin xằng bậy,
mong bạn suy nghĩ kỹ đi.
Đời
người ngắn ngủi, đừng để bị mê hoặc vì những lời
nói vô căn cứ. Thời gian trôi qua không còn gì đáng tiếc
cho bằng.
Chân
thành,
CCQM
|