Đạo
Bụt đáp ứng lại những nhu cầu của thế kỷ 21
giúp
Bụt chuyển bánh xe Pháp tại phương Tây
Đây
là bài tham luận của Phái Đoàn Tăng Thân Làng Mai đọc
tại Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (World Buddhist Forum)
tại Hàng Châu ngày 13 tháng 4 năm 2006. Phái Đoàn Làng Mai dự
Đại hội gồm có các thầy Thích Chân Pháp Ấn, Thích Chân
Pháp Khí, các sư cô Thích Chân Giác Nghiêm, Thích Chân Tùng
Nghiêm.
Lời
giới thiệu
Trong
thế kỷ và thiên niên kỷ mới này, Ðạo Bụt có một cơ
hội rất lớn. Chúng ta có thể thấy rõ những hạt giống
mà Ðạo Bụt đã gieo trồng tại Tây Phương trong 200 năm qua
đã bắt đầu nở hoa. Ðạo Bụt lúc đầu đã được
giới thiệu ở Tây Phương qua những khái niệm và ý tưởng
trên bình diện tri thức. Nhưng bây giờ, chúng ta có thể thấy
rằng chúng đã bắt đầu cắm rễ trong lĩnh vực thực hành.
Một
trong những điều mà Sư Ông Thích Nhất Hạnh và Tăng Thân
của Sư Ông tại Làng Mai đã đóng góp trong suốt 30 năm qua
là đã mang những giáo lý của Ðạo Bụt từ lĩnh vực lý
thuyết đến lĩnh vực ứng dụng. Chúng tôi đã thực
hiện điều này trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Sự thực tập
của chúng tôi căn cứ vào các kinh: Quán Niệm Hơi Thở, kinh
Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm và kinh Người Biết Sống Một Mình;
và cũng dựa vào các nguyên tắc căn bản của Ðạo Bụt Ðại
Thừa được thể hiện qua Thiền Tông. Vì vậy sự giảng
dạy và thực tập của chúng tôi bao gồm được cả ba truyền
thống: Ðạo Bụt Nguyên Thủy, được thể hiện qua các kinh
vừa nói; sự triển khai truyền thống Ðại Thừa; và thứ
ba là Thiền Tông, được thể hiện cụ thể qua sự áp dụng
các giáo lý vào đời sống hằng ngày.
Chúng
tôi đã hiến tặng những giáo lý và những thực tập này
cho nhiều tầng lớp khác nhau của xã hội, từ cá nhân, gia
đình cho đến những lĩnh vực rộng lớn hơn. Những cố gắng
của chúng tôi đã mang lại nhiều kết quả, và chúng tôi
rất hạnh phúc khi được chia sẻ những kinh nghiệm này đến
các bạn. Chúng tôi hy vọng là các bạn từ những truyền
thống khác, với những kinh nghiệm và tuệ giác của quý vị
sẽ soi sáng thêm cho chúng tôi để chúng tôi có thể làm hay
hơn trong tương lai. Và nếu các bạn thấy rằng những phương
pháp của chúng tôi có nhiều lợi lạc, chúng tôi cũng xin
mời quý vị thử ứng dụng những phương pháp ấy trong các
lĩnh vực mới lạ khác.
Những
Phương Pháp Thực Tập của Sư Ông Thích Nhất Hạnh:
Các
Kinh:
Quán
Niệm Hơi Thở,
Kinh
Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm, và
Kinh
Người Biết Sống Một Mình.
Kinh
Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati Sutta, Majjima Nikaya 118,
xem Phụ lục 1) là nền tảng cho sự giảng dạy của Sư Ông
Thích Nhất Hạnh ở Tây Phương. Sau nhiều năm tu học, Sư
Ông đã rất hạnh phúc khi tìm thấy những giáo lý Bụt dạy
được ghi lại trong kinh Quán Niệm Hơi thở. Kinh dạy cho ta
những phương pháp làm thế nào để ý thức được những
gì đang xảy ra trong bốn lĩnh vực chính của sự sống chúng
ta (thân thể, các cảm thọ, các tâm hành và các đối tượng
nhận thức) để chúng ta có thể sống đời sống của mình
một cách sâu sắc. Những kinh nghiệm từ sự thực tập này
giải thoát chúng ta ra khỏi rất nhiều những phiền não như
sợ hãi, sân hận và tham dục. Khi khám phá ra kinh này, Sư
Ông cảm thấy rằng Sư Ông là người hạnh phúc nhất trên
đời, như là Sư Ông đã tìm thấy một kho báu. Trong suốt
60 năm qua, từ ngày khám phá ra kinh này Sư Ông đã thực tập
chúng một cách miên mật. Theo sự thực tập và tuệ giác
của Sư Ông, kinh Quán Niệm Hơi Thở là vô cùng thiết yếu
cho những người thực tập Ðạo Bụt. Ðó là một phương
pháp rất an toàn và dễ dàng cho tất cả mọi người, kể
cả trẻ em, để bước vào sự thực tập thiền của Ðạo
Bụt.
Kinh
Quán Niệm Hơi Thở gồm bốn phần thực tập về sự phát
triển tâm linh của thân thể, cảm thọ, tâm hành và đối
tượng nhận thức của chúng ta. Mỗi phần có bốn bài
thực tập. Cấu trúc của những phần thực tập này tương
tự như nhau và chúng đưa tới sự phát triển ý thức của
chúng ta về mỗi đối tượng của thiền tập. Cấu trúc này
bắt đầu với sự ý thức về đối tượng, rồi ý thức
này phát triển thành định và định lực đưa tới sự giải
thoát.
songs
to help us remember the gathas and use them in our daily life.
Chúng
tôi mời quý vị thực tập bài kệ sau đây: “vào/ra, sâu/chậm,
khoẻ/nhẹ, lặng/cười, hiện tại/tuyệt vời.” Trong
bài tập này, chúng ta dùng ánh sáng của ý thức soi vào hơi
thở vào và làm biểu hiện năng lượng chánh niệm. Chúng
ta tự nói như vậy: “thở vào, tôi biết tôi đang thở vào,”
và “thở ra, tôi biết tôi đang thở ra.” Sự thực
tập sau đó rút ngắn lại chỉ còn hai từ chính, “vào/ra,”
và theo đó, thân và tâm ta tự nhiên ở vào trạng thái sâu
hơn và chậm hơn của hơi thở. Ðiều này cho thấy rằng tâm
ta có khả năng dừng lại, an định và buông thư. Sự thực
tập này còn đưa tới những hoa trái xa hơn với những cảm
giác khoẻ khoắn và nhẹ nhàng. Chúng ta có khả năng nhận
ra những hoa trái đó cho nên những hoa trái khác theo đó sẽ
đến với chúng ta, “thở vào, tôi mỉm cười; thở ra, tôi
buông bỏ mọi căng thẳng lo âu.” Nhờ chúng ta có khả
năng dừng lại mà tâm ta trở nên trong sáng và nhờ đó, ta
có thể tiếp xúc được với những yếu tố tích cực của
sự sống. Với sự thực tập: “thở vào, tôi thấy mình
đang ở trong giây phút hiện tại; thở ra, tôi thấy giây phút
hiện tại thật sự là giây phút tuyệt vời,” chúng ta tiếp
xúc được sự sống với những tinh hoa của nó ngay bây giờ
và ở đây. Tại Làng Mai, chúng tôi thực tập hát thiền ca
để giúp chúng tôi ghi nhớ những bài thi kệ và thực hành
trong đời sống hằng ngày.
Bây
giờ, xin các bạn tạm ngưng đọc một lúc, ngồi thẳng, thoải
mái, buông thư và thực tập cùng chúng tôi.
Kinh
Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Satipatthana Sutta, Majjihima Nikaya
10, xem Phụ lục 2) cùng với kinh Quán Niệm Hơi Thở, giúp
chúng ta sống sâu sắc trong giây phút hiện tại và hiểu rõ
được sự sống trong giây phút đó. Kinh Bốn Lĩnh Vực
Quán Niệm giúp chúng ta đi sâu hơn vào sự thiền tập của
mình trong bốn lĩnh vực của sự sống chúng ta (thân thể,
cảm thọ, tâm hành và đối tượng nhận thức). Chúng
giúp cho ta khám phá ra được sự nhất thể giữa đối tượng
và chủ thể của nhận thức, nhờ vậy ta có thể có được
cái hiểu đúng đắn về giáo nghĩa Duy Biểu trong Ðạo Bụt.
Nó cũng giúp cho sự hiểu biết chúng ta về Ba Pháp Ấn: Vô
ngã, Vô thường và Niết bàn sâu sắc hơn. Khi chúng ta có
khả năng hiểu được những giáo nghĩa tiêu biểu này và
áp dụng chúng vào đời sống hằng ngày của ta một cách
miên mật, chúng ta có cơ hội đạt tới sự giải thoát hoàn
toàn.
Những
bài thực tập được trình bày từ các kinh Quán Niệm Hơi
Thở và kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm có thể được dùng
để hướng dẫn cho những người mới bắt đầu thực tập
thiền, những người không biết phải làm gì trong khi ngồi
thiền hay đi thiền. Chúng tôi đã tập hợp thành một tập
sách thiền hướng dẫn có tựa đề Sen Búp Từng Cánh Hé,
bao gồm 34 bài thực tập thiền có hướng dẫn với những
lời dẫn giải nguồn gốc của chúng.
Một
kinh căn bản khác của truyền thống chúng tôi là kinh Người
Biết Sống Một Mình (Bhddekaratta Sutta, Majjihima Nikaya 131, xem
Phụ lục 3), trong đó đức Thế Tôn dạy chúng ta phải tập
sống thật sâu sắc trong giây phút hiện tại. Quá khứ đã
đi qua, tương lai vẫn còn chưa tới, chỉ cò khoảnh khắc
duy nhất là thực sự có mặt cho sự sống trong phút giây
hiện tại mà thôi. Kinh này là gạch nối kết trực tiếp
giữa Ðạo Bụt Nguyên Thủy và truyền thống Thiền Lâm Tế
(xem phần Những Gốc Rễ Thiền Tông bên dưới). Ðánh mất
giây phút hiện tại nghĩa là đánh mất sự sống. Giáo lý
này cũng được Bụt dạy trong các kinh khác, như kinh Người
Áo Trắng (Upasaka Sutta, Madhyama Agama 128), trong đó Bụt đã
nói cụm từ “hiện pháp lạc trú” (drstadharmasukhavihari)
tới ít nhất là 5 lần. Giáo lý này đóng một vai trò hết
sức quan trọng trong truyền thống của chúng tôi và đã được
phát triển thành Pháp Ấn Làng Mai (sẽ được nói chi tiết
hơn dưới đây).
Những
Nguyên Tắc của Ðạo Bụt Ðại Thừa
Ở
Làng Mai, tâm và thân là một. Sự thực tập của chúng
tôi không chia chẻ thân và tâm làm hai. Sự an định và
chuyển hóa của thân đưa tới sự an định và chuyển hóa
của tâm; và cũng vậy, sự an định và chuyển hóa của tâm
dẫn đến sự an định và chuyển hóa của thân. Nghĩa là
sự học hỏi và thực tập kinh Quán Niệm Hơi Thở của chúng
tôi được dựa vào giáo lý thân tâm nhất như của Ðạo
Bụt Ðại Thừa.
Phiền
não và bồ đề là một, chúng tương tức. Chúng ta sẽ không
bao giờ đạt được bất cứ một chuyển hóa nào nếu như
chúng ta không có phiền não. Phiền não là gốc rễ của chuyển
hóa. Giải thoát là quá trình của sự hiểu biết sâu sắc
gốc rễ và bản chất của những phiền não. Trong giáo lý
của Làng Mai, chỉ có sự chuyển hóa phiền não mà không có
sự chấm dứt phiền não, chỉ có sự chuyển hóa khổ đau
thành hạnh phúc mà không có sự chấm dứt khổ đau. Hạnh
phúc có được là do có khổ đau, không có khổ đau sẽ không
thể nào có được hạnh phúc. Trong quá khứ, người ta nghĩ
rằng để được giải thoát, chúng ta phải chấm dưt phiền
não, chấm dứt một cách hoàn toàn; nhưng sự thật là chúng
ta có thể có niềm vui và hạnh phúc ngay trong giây phút này,
ngay cả khi chúng ta đang có một vài phiền não
Nếu
không có chiếc thuyền, một viên sỏi nhỏ cũng sẽ nhanh chóng
chìm xuống nước, nhưng với chiếc thuyền ta có thể mang
được hàng tấn đá mà vẫn nổi được trên mặt nước.
Chúng ta vẫn có thể thưởng thức sự có mặt của hạnh
phúc dù cho trong thân tâm của chúng ta vẫn còn sót lại vài
viên sỏi của khổ đau. Một trong những đặc trưng khác của
sự thực tập ở Làng Mai là nhấn mạnh tầm quan trọng của
Tăng Thân bởi vì Tăng Thân chính là chiếc thuyền đó. Nếu
mình để cho Tăng Thân chuyên chở mình thì cho dù trong thân
tâm mình vẫn còn có những khổ đau, mình cũng không bị chìm
và mình vẫn đi tới được trong cuộc đời. Mình không chìm
là nhờ vào sự thực tập của Tăng Thân. Chuyển hóa
là quá trình diễn ra từng ngày. Không có cái gì biệt lập
gọi là niết bàn tuyệt đối cả. Niết bàn là trạng thái
của tâm mà trong trạng thái đó, ta có thể nhìn thấy được
bản tính của thực tại. Tâm ta có thể được giải thoát
ngay khi vẫn còn những hạt giống của phiền não rơi rớt
lại trong Tàng thức. Ở Làng Mai, giáo lý Duy Biểu được
xem là nền tảng của sự thực tập, và chuyển hóa là sự
chuyển hóa từ chiều sâu trong tâm thức chúng ta.
Cùng
với sự học hỏi và thực tập những giáo nghĩa của Ðạo
Bụt Ðại Thừa, ở Làng Mai chúng tôi rất chú trọng vào
sự dấn thân của Ðạo Bụt. Trong chiến tranh Việt Nam, Sư
Ông đã mang Ðạo Bụt “xuống đường”. Khi cuộc đời
có quá nhiều khổ đau, Ðức Thế Tôn không thể ngồi yên
trong chùa mãi được mà Ngài phải đi ra đường để giúp
đỡ mọi người. Vì lý do này mà Sư Ông đã khai sinh
một truyền thống mới, đó là Dòng Tu Tiếp Hiện với 14
phép thực tập chánh niệm áp dụng những giáo lý thích nghi
với tình trạng chiến tranh. Sau đó, Dòng tu này đã được
phát triển sâu rộng hơn về mặt dấn thân và phụng sự
xã hội, mà chính yếu là phụng sự xã hội. Dòng Tu Tiếp
Hiện thể hiện một cách cụ thể lý tưởng Bồ tát của
Ðạo Bụt Ðại Thừa (xem 14 giới Tiếp Hiện ở Phụ lục
4). Ðể mang lại một chiều hướng đạo đức và trách
nhiệm cũng như để thỏa mãn lý tưởng của Dòng Tu Tiếp
Hiện, các thành viên của Dòng Tu này được yêu cầu thực
tập một cách vững chãi 5 phép thực tập chánh niệm, 5 giới
Bụt dạy cho người cư sĩ.
Chúng
tôi đã diễn bày Năm giới bằng ngôn ngữ mới để cho mọi
người trong xã hội hiện đại có thể chấp nhận và hiểu
chúng một cách dễ dàng và có khả năng áp dụng Năm giới
ấy vào đời sống hằng ngày của họ (xem văn bản này ở
Phụ lục 5). Ví dụ trong Giới thứ năm, chúng tôi đã
trình bày sự thực tập về tiêu thụ có chánh niệm một
cách rộng rãi hơn. Nó bao gồm luôn việc không tiêu thụ
sách báo, phim ảnh cùng với sự thực tập không dùng rượu
và ma túy nhằm bảo hộ cho thân tâm của chúng ta.
Năm giới này đã được tổ chức UNESCO công nhận với vài
sửa đổi nhỏ và đã được ban hành dưới hình thức một
bản tuyên ngôn: Bản Tuyên Ngôn Năm 2000 của UNESCO. Bản
Tuyên Ngôn này đã được ban hành rộng rãi trên khắp thế
giới và cho tới trước ngày 21 tháng Hai năm 2006 đã có được
gần 76 triệu chữ ký (75.847.655chữ ký). (Xem Phụ lục 6).
Những
Gốc Rễ Thiền Tông và Pháp Ấn Làng Mai
Sư
Ông thuộc thế hệ thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế, và chúng tôi,
những đệ tử của Sư Ông thuộc vào thế hệ thứ 43. Thiền
Sư Liễu Quán, người thuộc vào thế hệ thứ 35 của dòng
Thiền Lâm Tế, đã bắt đầu một dòng thiền mới tại Việt
Nam và Sư Ông thuộc vào thế hệ thứ 8 của dòng thiền này.
Chúng tôi thuộc thế hệ thứ 9 của dòng thiền Liễu Quán.
Đông đảo Phật tử Việt Nam đều thuộc dòng thiền này.
Ở
Làng Mai, sự thực tập của chúng tôi thể hiện được nhiều
khía cạnh khác nhau của thiền, đặc biệt là sự chú trọng
của chúng tôi vào việc chế tác năng lượng chánh niệm trong
mọi lĩnh vực của đời sống hằng ngày và sự căn cứ vững
chắc vào sự thực tập Niệm (smrti), Ðịnh (samadhi) và Tuệ
(prajna). Truyền thống của chúng tôi bắt rễ một cách vững
chắc theo tinh thần của Thiền Sư Lâm Tế, đặc biệt là
sự thực tập “địa hành thần thông”. Trong rất nhiều
bài pháp thoại, Sư Ông và các Thầy, các Sư cô Làng Mai đã
triển khai và tiếp nối tinh thần của Thiền
sư Lâm Tế với hình thức của một Pháp Ấn mới,
mà Pháp Ấn này cũng tiếp nối được sự giảng dạy về
“hiện pháp lạc trú” của Bụt. Ðó là Pháp Ấn: “đã
về, đã tới”. Tất cả những giảng dạy và thực tập
ở Làng Mai đều được căn cứ vào Pháp Ấn này.
Pháp
Ấn này cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể tiếp xúc với
niết bàn hay Tịnh độ ngay bây giờ, trong giây phút hiện
tại. Chúng ta không cần phải đi tìm kiếm Tịnh độ ở một
nơi nào đó xa xôi trong không gian hay trong tương lai. Tịnh
độ luôn có mặt đó cho chúng ta 24 giờ mỗi ngày, vấn đề
quan trọng nằm ở chỗ chúng ta có khả năng có mặt cho Tịnh
độ hay không mà thôi. Tịnh độ không phải là một cái gì
biệt lập với ta bà. Chúng tôi tin rằng: “niềm đau là không
thể nào tránh được, nhưng khổ đau là tùy thuộc mỗi người.”
Sự
hiểu biết này rất hữu ích cho những vấn đề xã hội.
Trong đời sống hằng ngày người ta có thể phải đối diện
rất nhiều khó khăn nhưng ngay khi họ có khả năng trở lại
với sự thực tập của họ, trở lại với sự thực tập
hơi thở có ý thức, thì ngay lúc đó họ đã có thể tiếp
xúc được liền sự mát dịu và an lành của Niết bàn. Niết
bàn có khả năng làm mát dịu, có khả năng dập tắt ngọn
lửa của phiền não đang thiêu đốt thân tâm ta; và ngay giây
phút ta trở lại với hơi thở ý thức của ta, ta liền tiếp
xúc được với Niết bàn một cách sâu sắc.
Vì
vậy, theo gương các vị Bồ tát, chúng tôi tiếp nối công
trình chuyển hóa xã hội, và thực tế mà nói, chúng tôi không
cần hy vọng phải chuyển hóa nó thành một nơi không có khổ
đau. Khổ đau cần hiện hữu như là những nguyên liệu thiết
yếu cho những vị Bồ tát thực hiện công trình chuyển hóa
của họ. Không thể có một cõi nào mà không có khổ đau.
Làng Mai đã có một cách định
nghĩa mới về Tịnh độ: nơi nào có hiểu biết và tình thương,
nơi đó là Tịnh độ. Khi nhìn vào thực tại những khổ
đau và hạnh phúc của chúng ta bằng cặp mắt thiền quán,
chúng tôi khuyến khích tất cả mọi người duy trì sự thực
tập một cách miên mật trong mỗi giây phút của đời sống
hằng ngày. Khi đi, khi đứng, khi ngồi và khi làm những công
việc khác, tất cả chúng tôi đều thực tập tiếp xúc với
Tịnh độ cũng như khi đang thực tập ngồi thiền, đi thiền,
thực tập nghe chuông và trong tâm luôn trì đọc những bài
thi kệ cho mỗi động tác khác nhau. Làng Mai cũng đã giới
thiệu với mọi người một thứ Tịnh độ cầm tay, cũng
như là một cái điện thoại cầm tay vậy, nghĩa là chúng
ta có thể tiếp xúc với Tịnh độ ngay lập tức và bất
cứ ở đâu.
Cùng
thực tập chánh niệm và hành động với nhau, tất cả chúng
tôi đều dựa trên nền tảng của sự vững chãi, sự trong
sáng và lòng từ bi, nhờ vậy mà mọi hành động đều trở
thành chánh nghiệp. Chúng ta có thể xây chùa, làm việc trong
bệnh viện hay làm thương mãi, nhưng chúng ta đừng đánh mất
sự vững chãi, trong sáng và từ bi của chúng ta vì những
dự án và căng thẳng của mình.
Xây
Dựng Tăng Thân
Ở
Làng Mai, chúng tôi tin tưởng rằng để cho Ðạo Bụt được
cắm rễ vững chắc tại phương Tây chúng ta phải có một
cộng đồng xuất gia vững mạnh. Cho tới bây giờ Ðạo Bụt
phương Tây chưa nhấn mạnh đến việc xây dựng các đoàn
thể người xuất gia chính vì sự suy sụp của truyền thống
xuất gia ở những nơi đó. Hầu như tại Tây phương, không
còn mấy ai nhìn vào người xuất gia, dù là người Thiên chúa
Giáo hay bất kỳ tôn giáo nào khác, như là một nơi nương
tựa tâm linh nữa; và từ khi Ðạo Bụt đi vào phương Tây
cũng vậy, cũng trước tiên bằng những người cư sĩ hơn
là những người xuất gia. Ở Làng Mai chúng tôi tin rằng để
cho giới cư sĩ Phật Tử lớn mạnh thì cần phải có một
truyền thống người xuất gia vững mạnh đi song song, nhờ
đó mà chúng ta có thể giữ được giềng mối của sự thực
tập và thiết lập được một nền tảng vững chãi cho Ðạo
Bụt thâm nhập vào xã hội.
Trong
30 năm qua, chúng tôi đã xây dựng một cộng đồng người
xuất gia căn cứ trên tình huynh đệ. Sư Ông Thích Nhất Hạnh
thấy rằng nếu chúng ta không xây dựng cộng đồng của người
xuất gia như là một gia đình thì chúng ta sẽ không thể nào
đi xa được. Trong lịch sử, ở các nước Châu Á, các cộng
đồng người xuất gia đều được cấu trúc như là một
gia đình huyết thống với những người anh lớn, những người
chị lớn đóng vai trò như những người cha, người mẹ, người
anh, người chị tâm linh; những người trẻ hơn thì đóng
vai những người em, những người con tâm linh.
Trong
cộng đồng xuất gia của chúng tôi, chúng tôi không quá chú
trọng vào sự thực tập lễ bái hay dạy cho những người
cư sĩ cầu nguyện đức Thế Tôn để giải quyết những vấn
đề của họ. Chúng tôi tu tập để phát triển sự hiểu
biết và sự thực tập của mình, để thiền tập và phụng
sự xã hội trở nên cốt lõi của đời sống xuất gia. Cố
nhiên là chúng tôi vẫn có những hình thức thực tập mang
tính tôn giáo, nhưng rất ít. Chúng tôi không tiến hành nhiều
lễ lượt, mặt khác, chúng tôi thực tập thiền trong đời
sống hằng ngày, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi chơi hay khi
làm việc, ở trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
chúng tôi đều thực tập thiền, đều thực tập dừng lại
và nhìn sâu.
Trong
20 năm gần đây, chúng tôi đã cố gắng hết sức để tân
tu lại giới bản Ba la đề mộc xoa, giới bản này đã được
trao truyền và thực tập trong suốt mấy ngàn năm qua. Vào
năm 2003, trong chuyến hoằng pháp tại Hàn Quốc, nhằm giúp
đỡ cho sự thực tập của giới xuất gia trong thời đại
mới, chúng tôi đã công bố ấn bản đầu tiên của Giới
bản tân tu. Chúng tôi đã nhận được sự góp ý và
soi sáng của nhiều vị tôn túc thuộc nhiều truyền thống
khác nhau khi thực hiện giới bản này và ấn bản cuối cùng
đã được ấn hành từ đó. Ấn bản này giờ đây đã được
lưu hành rộng rãi và quý vị có thể tham khảo ở trang nhà
của chúng tôi www.langmai.org. Chúng tôi vẫn giữ nguyên
cái sườn của giới bản cổ truyền theo truyền thống chúng
tôi, thuộc Pháp Tạng Bộ, tuy nhiên nhiều giới điều đã
được viết lại để có thể dễ dàng và hiệu quả hơn
trong việc bảo hộ cho các vị xuât gia trước những thách
thức của thế kỷ thứ 21 này. Với tinh thần đó, chúng tôi
đã đưa thêm vào giới bản này những điều khoản mới về
những thực tập trong khi sử dụng xe cộ, điện thoại cầm
tay, sử dụng mạng lưới Internet, thư điện tử và nhiều
điều khoản khác nữa.
Trong
cộng đồng của chúng tôi, trong lúc yếu tố thâm niên vẫn
rất được tôn trọng, chúng tôi hạn chế tới mức tối
đa yếu tố giai cấp của đời sống xuất gia. Thay vào đó
là sự sử dụng các phương pháp yết ma, một thể thức dân
chủ, thường xuyên hơn trong khi làm những quyết định về
mọi mặt của đời sống cộng đồng. Sự thực tập này
thật sự rất gần với truyền thống sinh hoạt của Tăng
đoàn Nguyên thủy. Vị trụ trì có vai trò chăm sóc đời
sống tâm linh cho các thành viên trong cộng đồng chứ không
phải là sự biểu hiện của uy quyền. Ðể tổ chức và điều
hành những công việc của cộng đồng đã có một Ban Chăm
Sóc gồm những thành viên trẻ trong cộng đồng; để hướng
dẫn và chăm sóc cho sự thực tập của cộng đồng thì có
Ban Giáo Thọ chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, tất cả những quyết
định chính thức đều được thực hiện bởi các vị Tỳ
kheo và Tỳ kheo ni. Hội đồng của những vị xuất gia đã
thọ giới lớn này là những người có thẩm quyền cao nhất
trong cộng đồng.
Trong
cộng đồng của chúng tôi, chúng tôi thực tập chuyển hóa
như là một tăng thân, mà không nhấn mạnh đến sự tiến
bộ và khả năng của những cá nhân riêng biệt. Yếu tố
quan trọng nhất trong cộng đồng chúng tôi là sự thực tập
cùng nuôi dưỡng một tình huynh đệ đích thực. Sư Ông Thích
Nhất Hạnh đã nói rằng trong hơn 60 năm thực tập của Sư
Ông, Sư Ông thấy rằng không có một thứ chủ thuyết hay
nguyên tắc nào cao quý hơn tình huynh đệ. Sự nổi tiếng,
hay bất cứ hình thức nào khác của thành công đều không
xứng đáng để đánh đổi tình huynh đệ.
Cũng
trong tinh thần này, chúng tôi có một pháp môn thực tập khác
gọi là “soi sáng”. Soi sáng có nghĩa là mỗi thành viên
trong cộng đồng được có cơ hội ngồi lắng nghe những
vị khác chia sẻ một cách chân thành về những ưu điểm
và khuyết điểm trong sự thực tập của vị đó. Mỗi năm,
chúng tôi có một khóa An cư 3 tháng vào mùa Ðông. Theo truyền
thống, mỗi người chỉ nhận được sự soi sáng của một
thành viên khác trong chúng vào Lễ tự tứ cuối Mùa an cư,
nhưng ở Làng Mai mỗi thành viên đều nhận được sự soi
sáng của tất những thành viên khác trong cộng đồng và chúng
tôi luôn đầu tư đủ thì giờ cần thiết để làm được
chuyện đó. Tất cả những soi sáng ấy sẽ được tóm tắt
và viết lại dưới hình thức một lá thư và lá thư này
sẽ được trao cho mỗi người vào Lễ tự tứ. Ðây là một
sự thực tập rất sâu sắc, nhờ sự thực tập này mà chúng
ta tiếp nhận được rất nhiều tuệ giác và kinh nghiệm từ
đôi mắt của Tăng thân. Trong truyền thống Ðạo Bụt, chúng
ta nói nhiều đến “mắt Bụt”, “mắt Pháp” mà chưa bao
giờ chúng ta nói đến “mắt Tăng”. Ở Làng Mai, chúng tôi
rất coi trọng sự hiểu biết và công năng của “mắt Tăng”
bởi vì “mắt Tăng” luôn chứa đựng trong nó “mắt Bụt”
và “mắt Pháp”.
Do
những nhu yếu của của thời đại, số lượng các vị Giáo
thọ xuất gia không đủ thỏa mãn những đòi hỏi về thực
tập và học hỏi của mọi người, vì vậy trong suốt 20 năm
qua, chúng tôi đã đào tạo những người xuất gia và cả
những người cư sĩ nữa trở thành Giáo thọ trong truyền
thống của chúng tôi. Chúng tôi đã truyền đăng cho trên 200
vị Giáo thọ xuất gia và tại gia. Những vị Giáo thọ này
được đào tạo không phải với mục đích là hướng dẫn
các lễ lượt, mà họ được huấn luyện để có những kinh
nghiệm và một chiều sâu trong sự thực tập để có khả
năng giúp người khác chuyển hóa khổ đau. Các vị Giáo thọ
cư sĩ của chúng tôi mang nhiều quốc tịch khác nhau. Chúng
tôi có khoảng chừng 700 Tăng thân ở khắp nơi trên thế giới
và không phải là Tăng thân nào cũng được một vị Giáo
thọ hướng dẫn. Vì vậy, sự có mặt của các vị Giáo thọ
là một nhu yếu lớn ở khắp nơi.
Phụng
Sự Xã Hội: Phát Triển Nông Thôn, Ðộ Người Hấp Hối
Khi
còn làm những công tác phát triển nông thôn, chúng tôi đã
học được rằng chúng ta không nên áp đặt những kiến thức
của chúng ta lên con người ở đó. Ngay khi mình là kỹ sư
hay bác sĩ, mình cũng cần phải quan sát kỹ càng và lắng
nghe họ để thấy họ có thể tự thay đổi tình trạng của
họ bằng cách nào. Trên căn bản đó, chúng tôi góp thêm vào
những kinh nghiệm và kiến thức của mình. Chúng tôi giúp
họ những cách thức để cho họ có thể tự chuyển đổi
tình trạng của họ mà không đổ tiền bạc cho họ rồi bảo
họ: “Tiền đây, quý vị hãy thành lập một trung tâm y tế
đi”. Chúng tôi đến những nơi đó để học hỏi và xây
dưng trên căn bản những nguồn lực sẵn có ở địa phương.
Chúng tôi thường đặt vấn đề như vậy: “Chúng ta có thể
làm được gì ở đây không? Chúng ta có dùng những kiến
thức và kinh nghiệm của dân làng để giúp họ tự dựng
nên những trường học và trung tâm y tế không? “ Và khi
họ gặp khó khăn ở một lĩnh vực nào đó, chúng tôi thường
đưa ra những đề nghị cho họ thảo luận với nhau. Nếu
họ cần tiền thì chúng tôi sẽ hỏi rằng chúng ta có thể
dùng những nguyên vật liệu ở địa phương không? Chúng
ta có thể xây dựng những trường học bằng tre và tranh được
không? Chúng tôi chỉ hỗ trợ tài chánh vào giai đoạn cuối
cùng, và bằng cách này, họ sẽ cảm thấy rằng đó là công
trình của họ và họ sẽ chăm sóc chúng tốt hơn. Ðó là
sự hợp tác thật sự giữa những tác viên của chúng tôi
và những người dân làng địa phương.
Khi
chúng tôi thực tập và hướng dẫn về cách thức hộ niệm
cho những người hấp hối, chúng tôi không nhấn mạnh đến
việc vẽ vời ra một Thiên đường mà người hấp hối sẽ
được sinh về, mà chúng tôi nhắc lại cho họ về những
mầu nhiệm trong cuộc đời của họ. Bởi vì Bụt có dạy
rằng khi chúng ta rời bỏ thân xác này, chúng ta mang theo tất
cả những kết quả của những gì chúng ta đã tạo ra khi
còn sống. Nếu người này còn có thể nói được, chúng tôi
sẽ khích lệ họ kể cho chúng tôi nghe về những điều tuyệt
vời nhất trong cuộc đời của họ để chúng tôi có thể
tưới tẩm những hạt giống tốt của người đó và những
hạt giống tốt này sẽ được người đó mang theo khi họ
lìa bỏ cuộc đời này. Chúng tôi cũng gợi cho họ nhớ đến
những thời điểm có tính tích cực trong cuộc đời họ như
khi họ cứu sống được một tính mạng nào đó. Chúng tôi
cũng chỉ cho họ thấy rằng những tài năng bây giờ họ đang
có sẽ không mất đi đâu cả, mà chúng đã được tiếp nối
bằng cách này hay cách khác qua những người con cháu của
họ và họ có thể thấy được rằng họ không phải chết
đi để tái sinh vào một nơi nào khác. Bằng cách này, nhiều
người đã ra đi trong trạng thái rất an lành và nhẹ nhàng.
Mang
Sự Thực Tập và Tịnh Ðộ Ðến Cho Tất Cả Những Tầng
Lớp Của Xã Hội
Trong
suốt 30 năm qua, căn cứ vào sự thực tập những kỹ năng
thiền tập từ Ðạo Bụt Nguyên Thủy, tư tưởng phụng sự
của Ðạo Bụt Ðại Thừa và những thực tập cụ thể của
Thiền tông, Làng Mai đã tổ chức rất nhiều các khóa tu để
mang đến cho mọi người thuộc mọi thành phần của xã hội
cái “tịnh độ cầm tay” ấy. Chúng tôi đang thực hiện
việc biên tập một cuốn sách về Ðạo Bụt dấn thân mà
chúng tôi sẽ tóm lượt dưới đây.
Khóa
tu Mùa Hè và những khóa tu định kỳ khác
Mỗi
năm Làng Mai đều tổ chức một khóa tu Mùa Hè dài 4 tuần
thu hút hàng ngàn người bao gồm cả người già, người trẻ,
gia đình và trẻ em thuộc trên 40 quốc gia khác nhau đến thực
tập. Mỗi thiền sinh đều được yêu cầu ở trong Tu viện
ít nhất là một tuần lễ để họ có cơ hội thực sự dừng
lại và lắng yên để có thể thực hiện sự chuyển hóa.
Mỗi tuần, Sư Ông, cùng với sự luân phiên của những vị
Giáo thọ, mỗi vị nói một bài pháp thoại mỗi ngày, bằng
Tiếng Anh, Tiếng Pháp hay Tiếng Việt với hệ thống thông
dịch trực tiếp ra nhiều thứ tiếng khác như Ðức, Hà Lan,
Ý, Tây Ban Nha và Bồ Ðào Nha. Thiền sinh được thực tập
nhiều pháp môn khác nhau như thiền ngồi, thiền nghe chuông,
thiền đi, thiền thở, thiền buông thư, thiền lạy, thiền
nghe pháp thoại, sự thực tập tưới tẩm những hạt giống
tốt nơi tàng thức của họ, nhận diện và chuyển hóa những
thói quen xấu, truyền thông với những người thân thương
của họ với lòng từ bi, thực tập làm mới để biết cách
trình bày những khó khăn của họ với những người thân,
thực tập dừng lại và thực tập nhìn sâu. (Về chi tiết
của những thực tập như nghe chuông, thiền lạy, làm mới,
thiền ôm xin xem ở Phụ lục 7 với những trích đoạn từ
những tập sách hướng dẫn sự thực tập)
Một
trong những điều đặc biệt nhất của sự thực tập ở
Làng Mai là pháp đàm. Pháp đàm là lúc các thiền sinh gặp
nhau theo từng nhóm nhỏ để chia xẻ với nhau những hạnh
phúc cũng như những khó khăn họ gặp phải trong khi thực
tập. Chúng tôi đã học được rằng chính nhờ sức mạnh
từ sự lắng nghe sâu sắc của Tăng thân – có mặt đích
thực, lặng yên và lắng nghe người kia chia sẻ từ trong đáy
lòng của họ - mà người thiền sinh có thể được trị liệu
và chuyển hóa sâu sắc. Mỗi tuần chúng tôi tổ chức một
Lễ hội, trong đó, những người thiền sinh có cơ hội đóng
góp những tiết mục văn nghệ và cùng với Tăng thân, họ
thưởng thức giây phút hiện tại, nhận diện và nuôi dưỡng
những hạt giống vui tươi trong họ.
Ða
số các thiền sinh mới đều xin được chính thức tiếp nhận
Năm giới và họ đều mong muốn mang những thực tập ấy
về với gia đình của họ. Họ được khuyến khích họp mặt
nhau thường xuyên để ôn tụng giới luật đã thọ trì và
nuôi dưỡng sự thực tập. Ðã có rất nhiều người được
tưới tẩm hạt giống Bồ Tát, đã cùng tham gia sinh hoạt
với các Tăng thân địa phương cũng như thành lập những
Tăng thân mới.
Ở
Làng Mai, chúng tôi hiến tặng sự có mặt của mình qua cách
làm việc gần gũi với người cư sĩ để họ có cơ hội
học hỏi trực tiếp từ giới xuất gia. Chúng tôi không
mướn người làm việc, các Thầy và các Sư cô tự sắp xếp
với nhau để cùng với các vị cư sĩ chia ra thành nhiều nhóm
làm những việc khác nhau khi tổ chức các khóa tu. Làm việc
với giới xuất gia, người cư sĩ sẽ tiếp nhận được thân
giáo của các vị ấy một cách rất tự nhiên qua cách đi,
cách nói lời ái ngữ, cách làm việc, cách lắng nghe sâu của
các vị ấy. Các vị xuất gia cũng hiến tặng những giờ
tham vấn riêng cho những người thiền sinh nào có nhu cầu
hướng dẫn đặc biệt nhằm chuyển hóa những khó khăn trong
cuộc sống của họ như là ly dị, những mâu thuẫn trong gia
đình, hãm hiếp, bế tắc, sự chết và các chứng bệnh trầm
cảm…
Ở
Làng Mai chúng tôi tin rằng giáo pháp không phải là một cái
gì quá phức tạp, chúng ta và kể cả trẻ em nữa có thể
tiếp cận một cách rất dễ dàng. 20 phút đầu trong mỗi
bài pháp thoại vào khóa tu Mùa hè, Sư ông đều có dạy những
thực tập cho các cháu thiếu nhi bằng một ngôn ngữ rất
nhẹ nhàng và đơn giản mà cháu nào cũng có thể hiểu và
tiếp nhận được. Trong các giờ pháp thoại, các cháu thiếu
nhi thường ngồi những hàng đầu tiên ngay trước mặt Sư
ông, và nhờ vào sự chú tâm của các cháu mà Sư ông lúc
nào cũng cho các cháu những đề tài thực tập rất thích
hợp. Những người lớn thường đến với sự thực tập
với rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm cá nhân, và chính
những điều này làm cho họ không thể tiếp nhận giáo pháp
một cách trọn vẹn được. Nhưng trẻ em thì khác, chúng tôi
thấy rằng các cháu có khả năng tiếp nhận giáo pháp một
cách rất tự nhiên và trọn vẹn, có khi còn hơn cả người
lớn nữa.
Sau
đó, các em được chia theo từng nhóm với nhiều hoạt động
khác nhau để chia sẻ những gì các em đã học hỏi được
từ những lời dạy của Sư Ông vào buổi sáng. Chúng tôi
thường chia sẻ về tình huynh đệ và về tầm quan trọng
của việc nuôi lớn khả năng mở rộng vòng tay chấp nhận
mà không phân biệt kỳ thị trong nhóm các em. Chúng tôi bắt
đầu từ những em đã đến Làng nhiều lần trước đây như
là những em nòng cốt. Những em này đóng vai trò như những
người đi trước có thể giúp chăm sóc và hướng dẫn lại
cho những em mới đến. Điều này giúp tạo được sợi dây
nối liền các em với nhau trong một nhóm, cũng như việc phát
hiện những tài năng của nhau trong nhóm. Mỗi em đều có được
một không gian để có thể bày tỏ bản thân mình, và
có cơ hội được lắng nghe, nhờ vậy các em được hồi
phục khả năng hoà nhập cộng đồng thường thiếu đối
với những trẻ em Tây phương. Chúng tôi luôn sử dụng những
câu chuyện và nhiều trò chơi khác nhau để đưa sự thực
tập vào các em trẻ.
Thiền
sỏi là một sự thực tập rất hiệu quả luôn được Sư
Ông giới thiệu trong các bài pháp thoại dành cho thiếu nhi.
Chúng tôi rủ nhau đi dạo và tìm cho mỗi người 4 hòn sỏi
thật đẹp tượng trưng cho hoa, núi, nước và không gian. Những
biểu tượng này gắn liền với những đức tính giúp cho
sự quán chiếu trong giờ ngồi thiền và làm cho giờ thiền
quán trở nên sống động hơn. Bông hoa biểu tượng cho sự
tươi mát trong mỗi chúng ta, núi tượng trưng cho sự vững
chãi, nước là tấm gương phẳng lặng chiếu soi tất cả
và không gian biểu trưng cho sự tự do mà chúng ta đang kinh
nghiệm qua trong khi thực tập thiền.
Các
em thiếu nhi cũng được tiếp nhận Hai
Lời Hứa (xem Phụ Lục 8) để thực tập như là hai
giới chính để giúp các em có thể làm lớn rộng tình thương
và nâng cao sự hiểu biết nhằm bảo vệ sự sống của con
người, cỏ cây, cầm thú và đất đá. Vào đầu mỗi buổi
lễ truyền Năm
Giới cho người lớn hằng tuần, các em thiếu nhi thường
được truyền Ba
Sự Quay Về và tiếp nhận Hai Lời Hứa với sự có
mặt của bố mẹ, bạn bè và tăng thân.
Thiền
ca là một pháp môn quan trọng và tươi vui khác trong tăng thân
chúng tôi. Những bài hát chuyển tải những lời dạy của
Thầy có thể giúp cho các em dễ dàng thực tập mỗi ngày
như bài Thở vào, thở ra, là hoa tươi mát, là núi vững vàng,…
Chúng
tôi cố gắng tạo cơ hội để bố mẹ và con cái cùng nhau
thực tập chung, để có thể tưới tẩm hạt giống giúp họ
tiếp tục sự thực tập của mình lúc trở về nhà. Những
sự thực tập như thỉnh chuông, nghe chuông, thiền hành, ăn
cơm trong im lặng, thiền trà (hoặc nước trái cây), thực
tập làm mới (tưới hoa cho nhau) đã thật sự giúp rất nhiều
cho các gia đình lấy lại được không khí hoà ái và niềm
tin trong nhau. Thật ra chúng tôi thấy rất cần thiết để
bố mẹ các em có thể cùng tham gia thực tập với các em càng
nhiều càng tốt.
Thông
thường vào tuần đầu tiên của các em ở Làng Mai, những
em đến Làng lần đầu thường bị sốc và tỏ ra buồn chán
khi phải ở một nơi không có tivi, không trò chơi điện tử.
Nhưng vào cuối khoá tu, rất nhiều em không muốn rời Làng
chút nào cả, nhiều em rất muốn được quay trở lại. Sau
khi trở về nhà, các em thường giúp bố mẹ trở về với
sự thực tập, ví dụ như khi gặp những tình huống khó khăn
hay có căng thẳng xảy ra trong gia đình, các em thường thỉnh
chuông để mọi người cùng thở chung với nhau.
Đối
với thanh thiếu niên, chúng tôi thường khuyến khích các em
quán chiếu trước và ngay sau ngày các em đến Làng để thấy
rõ mục đích các em đến đây, các em đang tìm kiếm những
gì ở đây, những gì mang lại ý nghĩa cho cuộc sống các
em hay cho con đường mà các em đang thực tập. Chúng tôi tìm
mọi cách để làm cho các em cảm được sự thoải mái khi
đến đây, ví dụ như sắp xếp các em ở chung 1 phòng lớn
với nhau hoặc cắm lều trong một khu vực riêng chỉ dành
cho thanh thiếu niên. Chúng tôi mời các em cùng tham dự các
sinh hoạt trong tăng thân như tưới nước cho những vườn
cây, vườn hoa và làm việc trong những nhóm nhỏ vào mỗi
buổi chiếu tối sau buổi ăn chiều. Những điều này giúp
cho các em hiểu nhau hơn và cảm được phần nào về tình
huynh đệ, về tinh thần trách nhiệm và sự đoàn kết. Các
em sẽ có cảm giác như đang ở nhà của mình và đang giúp
một tay để chăm sóc ngôi nhà nhỏ đó. Trong những lúc tiếp
xúc với các em thanh thiếu niên, theo sự nhận xét của chúng
tôi thì các em rất muốn cảm được tinh thần trách nhiệm
cũng như là niềm tin đối với mọi người. Các em cũng rất
thích được tham dự đóng góp ý kiến vào những quyết định
chung của cả nhóm. Ví dụ các em muốn được tham dự làm
những thời khoá sinh hoạt mà các em sẽ thực tập trong suốt
khóa tu.
Vào
mỗi buổi sáng sau pháp thoại thứ nhất của Sư Ông, các
em nam và nữ thanh thiếu niên tập họp lại và sinh hoạt chung
với nhau dưới sự hướng dẫn của quy Thầy, quy Sư cô.
Các em cùng chơi những trò chơi, chia sẻ pháp đàm hay cùng
nhau đi bộ trong chánh niệm. Vào buổi chiều và tối, các
em tuỳ theo nhóm sinh hoạt của mình (theo mỗi xóm) để tiếp
tục chơi và tiếp tục thực tập. Chúng tôi nuôi dưỡng niềm
vui và sự chánh niệm bằng cách cùng nhau làm những việc
mang tính nghệ thuật, cùng hát, cùng đi dạo ngoài trời,…
Những việc mang tính nghệ thuật này đặc biệt thường thích
hơp vào những ngày cuối tuần như là một cách khuyến khích
các em diễn tả những kinh nghiệm và những cảm xúc có được
trong thời gian ở Làng. Chúng tôi cũng có mời những vị thiền
sinh có kinh nghiệm trong những lĩnh vực nghệ thuật, âm nhạc,…
cùng đến để chia sẻ với các em. Chúng tôi cũng đã chia
sẻ những sự thực tập căn bản để các em có thể có được
những mối quan hệ và truyền thông tốt với bố mẹ mình.
Dưới
đây là một vài hoạt động tiêu biểu dành cho các em thanh
thiếu niên:
- Cùng
nhau trang hoàng một căn phòng nhỏ, tạo ra một không gian riêng
bằng cách đóng góp sự trang trí sáng tạo nghệ thuật theo
cách riêng của từng em. Chúng tôi cùng nhau ra ngoài chơi để
tìm nguyên liệu cho việc trang trí từ thiên nhiên, sau đó
quay về căn phòng nhỏ đó và ngồi chung thành vòng tròn. Các
em sẽ chia sẻ những gì mình đã mang về từ thiên nhiên và
ý nghĩa của những vật đó đối với các em. Chúng tôi
có thể mời từng em nói lên điều ước nguyện hay mong muốn
của mình tương ứng với món quà mà Đất Mẹ đã ban tặng,
có thể là ước thầm hay nói ra hoặc viết xuống giấy. Sau
đó, chúng tôi trang trọng đặt những vật đó lên một chiếc
bàn cùng với hoa, trái cây, hương , và nơi đó biến thành
bàn thờ của chúng tôi.
- ‘’Kịch
pháp’’: các em sẽ diễn thành kịch những điều đã được
chia sẻ trong nhóm hay trong Pháp thoại liên quan đến việc
truyền thông, lắng nghe, ái ngữ, v.v. Chúng tôi có thể viết
những đề tài xuống những miếng giấy nhỏ, bỏ vào một
chiếc giỏ và truyền chiếc giỏ vòng quanh để mọi người
nhặt lấy một đề tài. Các em có thể chia sẻ theo nhóm từ
3 người trở lên.
- Một
cuộc đi chơi ngoài trời ở một chiếc hồ gần Làng, ngoài
khung cảnh thiền viện, là khoảng thời gian rất quan trọng
bởi cả nhóm sẽ có dịp tiếp xúc sâu thêm với nhau và nhất
là với quý thầy và quý Sư cô phụ trách hướng dẫn nhóm.
Đây cũng là một cơ hội tốt cho các em cùng nhau chơi đùa
và chia sẻ. Những điều chia sẻ trong những dịp như vậy
thường rất chân thực và sâu sắc. Đây cũng là thời điểm
thích hợp cho sự thực tập ‘’tưới hoa’’ trong buổi
làm mới vào cuối tuần.
Chúng
tôi dựa vào những ‘’thanh thiếu niên hạt giống’’,
những thanh thiếu niên đã thực tập khá vững chãi và muốn
tham gia vào nhóm hướng dẫn của chương trình. Các em là những
chiếc cầu hữu hiệu giữa các thầy các sư cô và giới trẻ
đến từ khắp nơi, giúp cải thiện truyền thông và hiểu
biết trong nhóm. Các em đó giống như chất keo kết nối các
thành phần khác nhau trong nhóm vì các em vừa là thanh thiếu
niên, vừa là thiền sinh.
Một
trong những khó khăn chính trong việc duy trì sự thống nhất
của nhóm là hàng rào ngôn ngữ. Các em thường tu tập thành
những nhóm sinh hoạt theo ngôn ngữ mà các em sử dụng, nhưng
điều này không hạn chế khả năng trao đổi giữa các nhóm
– vì tầm quan trọng của các hoạt động chung đã liên quan
đến mọi người cùng một lúc, như những lúc pháp đàm hay
vào những giờ ăn. Nhu cầu thông dịch càng được đáp ứng
thì càng giúp các nhóm giữ liên hệ với nhau thông qua việc
chia sẻ về cùng một vấn đề đang xảy ra.
Ngoài
các khoá tu lớn trong mùa hè, Làng Mai liên tục mở các khoá
tu trong suốt năm cho các bạn thiền sinh đến để thực tập.
Hai năm một lần, chúng tôi tổ chức khoá tu 21 ngày, và Thầy
chúng tôi thường cho pháp thoại hàng ngày, đi sâu vào từng
lĩnh vực cụ thể của giáo lý và sự thực tập. Có rất
nhiều thiền sinh lâu năm, có kinh nghiệm, các vị Giáo thọ
và các thành viên dòng Tiếp hiện tham dự các khoá tu này.
Trong tháng Sáu tới, Thầy và Tăng thân Làng Mai sẽ mở khoá
tu 21 ngày với đề tài ‘’ Hơi thở của Bụt.’’
Những
chuyến hoằng pháp tại Mỹ và tại những nước khác
Thiền
Sư Thích Nhất Hạnh cùng Tăng Thân những vị xuất gia thường
đi nhiều nơi để tổ chức những khoá tu tại Mỹ và những
nước khác như Úc, Áo, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Cộng
Hoà Séc, Đan Mạch, Anh, Hà Lan, Hồng Kông, Ấn Độ, Ái Nhĩ
Lan, Do Thái, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ma Cao, Na Uy, Phần Lan,
Nga, Tân Cách Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Sĩ, Triều Tiên, Thái Lan,
và Việt Nam. Chúng tôi thường tổ chức những khoá tu kéo
dài từ 5 đến 7 ngày, với số người tham dự khoảng từ
400 đến 1200 người, ở những buổi pháp thoại công cộng
số thính giả có khi lên đến từ 1000 đến 10000 người.
Vào cuối những khoá tu, thường có những buổi lễ truyền
Năm Giới, như trong khoá tu mùa hè hằng năm, phần lớn là
những thiền sinh mới - có khoảng hàng trăm người vào mỗi
khoá tu- tiếp nhận Năm Giới để hành trì và họ sẽ tiếp
tục thực tập cùng với Tăng Thân địa phương, nếu chưa
có thì họ sẽ đứng ra lập một Tăng Thân mới để có thể
nâng đỡ sự thực tập và yểm trợ nhau khi trở về nhà.
Những
khoá tu đặc biệt
Khoá
tu đặc biệt đầu tiên Thầy chúng tôi tổ chức là vào năm
1985, dành cho những nhà môi trường học. Thầy giảng từ
Kinh Kim Cương về 4 ý niệm cần phải buông bỏ: ý niệm
về ngã, ý niệm rằng con người là cao quy hơn những
loài chúng sanh khác, ý niệm về chúng sanh và ý niệm về
thọ mạng. Thầy dạy rằng con người cũng không có gì cao
hơn những loài cỏ cây, cầm thú và đất đá, và do vậy
chúng ta phải sống hoà đồng với mọi loài chúng sanh. Thầy
đã tuyên bố rằng Kinh Kim Cương là văn kiện đầu tiên lên
tiếng nói về bảo vệ môi trường.
Khoá
tu đặc biệt thứ hai là vào năm 1987 dành cho những nhà nghệ
sĩ - nhạc sĩ, nhà điêu khắc, hoạ sĩ, nhà văn,… Thầy tin
rằng nghệ thuật có thể là một phương tiện truyền thông
sâu sắc và mạnh mẽ hơn rất nhiều so với những sự truyền
thông bình thường khác. Thầy dạy rằng nghệ sĩ cũng phải
thực tập dừng lại, thư giãn và nhìn sâu để có thể sáng
tạo những tác phẩm nghệ thuật có khả năng đáp ứng. Nghệ
thuật cũng có thể có tính phá hủy hay xây dựng, một cảnh
tượng kinh hoàng có thể được phản ánh theo cách giúp con
người sống có trách nhiệm hơn và hành động để thay đổi.
Thầy nói đến Kinh Tử Nhục (Samyukta Agama 373) như là một
lời dạy quan trọng cho thế kỷ 21. Năm 2003, Thầy cũng giảng
đề tài này trong khoá tu đặc biệt dành cho các nhà sản
xuất phim tại Hollywood.
Cũng
vào khoảng năm 1987, Thầy đã mở một khoá tu đặc biệt
dành cho các em thiếu nhi, với khoảng 100 em đến tham dự.
Chúng tôi cũng đã mời những em có làm quen với sự thực
tập như là những em nòng cốt để có thể giúp đỡ
thêm cho những em còn quá mới và quá ngỡ ngàng. Chúng tôi
đã mua 20 vé máy bay để mời những em nòng cốt đó đến
tham dự. Dĩ nhiên là bố mẹ các em cũng được tham dự khoá
tu này để từ đó quy vị phụ huynh có thể học cách để
có thể thực tập ở nhà với các con mình. Khoá tu được
kết thúc bằng thiền ôm, và các em đã hỏi bố mẹ rằng
tại sao các em lại phải rời Làng để về.
Tiếp
đến vào năm 1989, một khoá tu đặc biệt dành cho những Nhà
Hoạt Động Cho Hoà Bình. Thầy dạy cách làm sao chúng ta có
thể viết “những lá thư tình” cho những nhà lập pháp,
những vị tổng thống thay vì ngồi đó và chỉ trích họ.
Chúng ta đã có một cách biểu tình rất hiệu lực trong khi
vẫn giữ được sự bình an và lòng từ bi trong trái tim, và
tiếp xúc với sự bình an và từ bi trong những người xung
quanh thay vì tiếp xúc với lòng căm giận trong họ.
Tất
cả công việc trong suốt cuộc đời của Thầy là vận động
rất nhiều cho hoà bình và nhân quyền. Chúng tôi luôn nỗ
lực để có thể đem lại sự công bằng cho thế giới. Thầy
vẫn thường dạy rằng chúng ta chỉ có thể chuyển đổi
được con người khi chúng ta và họ là những người bạn.
Nếu bạn là kẻ thù của họ, thì ngay cả khi bạn có đủ
quyền lực trong tay đi nữa, người ta cũng chỉ nghe lời bạn
trên bề mặt mà thôi nhưng rồi họ cũng sẽ tìm cách để
thoát khỏi bạn. Có rất nhiều điều mà chúng tôi có thể
chia sẻ về những nỗ lực cho hoà bình và nhân quyền, có
quá nhiều để chúng tôi có thể chia sẻ đến quy vị trên
những trang giấy giới hạn này. Chúng tôi hy vọng quý vị
có thể tìm hiểu thêm qua nhũng trang sách mà Thầy chúng tôi
cũng như Sư Cô Chân Không đã viết về đề tài này, như
quyển Love in Action và Learning True Love.
Một
khoá tu Liên Tôn được tổ chức một năm sau đó, với sự
tham dự của các tín đồ Do Thái giáo, Tin Lành, Công Giáo,
và những Phật tử đạo Bụt. Chúng tôi đã cùng tổ chức
lễ Du Việt (Passover) và lễ Phục Sinh (Easter), cùng nhau
đón mừng ngày lễ Phục Sinh và cùng thực tập bí tích Thánh
Thể và Rửa Chân của truyền thống Thiên Chúa giáo. Chúng
tôi đã nhấn mạnh rằng mọi người có mặt ở đây chỉ
với một mục đích duy nhất là nếm được những lợi lạc
qua sự thực tập chứ không phải đến để thảo luận hay
bàn cải một cách ly thuyết về các tôn giáo. Những người
Công giáo và Do Thái giáo được mời dùng nước ép trái nho
thay cho rượu trong các lễ này.
Tiếp
đến Thầy và Tăng Thân đã tổ chức một khoá tu dành cho
những nhà Tâm Lý Học. Vào 4 ngày đầu tiên của khoá tu,
sự thực tập hoàn toàn trong im lặng. Vào thời gian đầu,
một số nhà tâm lý đã tỏ vẻ không hài lòng về sự im
lặng đó bởi lẽ trong thâm tâm họ đang mong đợi cho những
cuộc hội họp mang tích chất chuyên nghiệp hơn, chứ không
phải chỉ nhìn nhau và im lặng như thế! Mục đích của sự
im lặng là giúp những người tham dự có thể lắng lại những
dòng suy tư, làm phục hồi sự trầm tĩnh và bình an trong tâm.
Chỉ với một cái tâm thanh tịnh như vậy họ mới có thể
lắng nghe được những “khách hàng” bệnh nhân, mới có
thể hiểu được những khổ đau của họ, và từ đó mới
giúp họ tháo gỡ và chữa lành những vết thương lòng. Thầy
đã khuyến khích họ tận dụng tất cả mọi phương tiện
hữu hiệu và thích hợp mà đừng để kẹt vào bất cứ một
chủ thuyết hay một trường phái triết học nào cả. Vào
cuối khoá tu, những nhà tâm lý học đã thật sự cảm
được sự chuyển hoá trong nội tâm, nhận ra được “Phật
tính” trong tự thân có thể giúp họ chữa trị cho những
bệnh nhân của mình. Thầy cũng đã chia sẻ về cách đối
trị và điều phục cơn giận, Thầy không cho rằng phương
cách đấm thật mạnh vào gối có thể giúp bạn làm nguôi
cơn giận. Và đến ngày hôm nay, dường như nhiều nhà tâm
lý trị liệu cũng đồng ý rằng việc trút giận bằng cách
đấm thật thoả thích lên mặt gối cũng chỉ tưới tẩm
thêm hạt giống bạo lực, làm trỗi dậy những tâm hành tiêu
cực mà thôi và cuối cùng chắc chắn chỉ làm cho người
đó hành động một cách bạo lực hơn.
Một
khoá tu đặc biệt kế đó dành cho những cựu chiến binh Mỹ
đã tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Một khoá tu đầu
tiên quả thật mang tính thử thách lớn. Thầy đã giải thích
với họ rằng những cựu chiến binh trong cuộc chiến Việt
Nam chỉ như những điểm cháy sáng trên đầu ngọn nến, tâm
thức cộng đồng đã dẫn đến cuộc chiến và chịu trách
nhiệm về những gì đã xảy ra chứ không chỉ một mình họ
mà thôi. Thầy yêu cầu mỗi người tìm đến một gốc cây,
ngồi xuống và viết hết những gì mình đã đi qua trong cuộc
chiến, soi vào tình thương thầm kín bên trong mình hay những
cơn giận dữ mình đã và đang có, và gởi lên cho Thầy để
Thầy có thể cho những bài pháp thoại thích hợp. Trong những
lá thư mà Thầy và Sư Cô Chân Không đã đọc, họ đã chứng
tỏ quá đau khổ, bởi cuộc chiến đã gây ra không biết bao
nhiêu những tàn khốc cho người dân Việt trong đó có cả
những trẻ em vô tội. Một cựu chiến binh đã kể lại rằng
ba ngày liền sau khi anh ta bắn chết người ta, từ trên trực
thăng nhìn xuống đâu đâu anh cũng thấy toàn những xác người
chết nằm phơi ra, từng khúc như những khúc gỗ. Anh ta đã
bị sốc mạnh bởi anh không bao giờ tưởng tượng ra những
cảnh tượng như thế. Anh cựu chiến binh đó kể tiếp rằng
trong khoá tu đó anh ta đã gặp một cô gái người Việt rất
trẻ y hệt như người mà anh ta đã bắn chết trước đây.
Một cựu chiến binh khác thì không thể nào thực tập thiền
hành cùng với Tăng Thân được bởi lẽ mỗi khi nhìn vào
những tu sĩ Việt Nam anh ta vẫn có cảm giác sợ hãi là mình
sẽ bị phục kích.
Thầy
dạy các vị cựu chiến binh rằng mỗi khi họ đã tình nguyện
lãnh thọ Năm giới để hành trì và phát nguyện không giết
hại ai, thì thế nào họ cũng được chuyển hóa. Thầy nói:
“Có thể anh đã giết chết một em bé trong cuộc chiến,
nhưng trong hiện tại anh có khả năng cứu sống sinh mạng
của 5 đứa trẻ mỗi ngày. Hãy làm ngược lại với những
gì anh đã làm trước đây.” Thầy đã yêu cầu họ viết
xuống hết những những kinh nghiệm khổ đau mà họ đã đi
qua trong cuộc chiến, sau đó hãy đốt nó đi để chứng minh
rằng bạn đang có một sự tự do lớn, rằng bạn đã trở
thành một con người hoàn toàn mới. Thầy đã dùng một cành
hoa và rưới nước lên những vị đó như là một cách để
tẩy đi hết thảy những lỗi lầm, rửa sạch tất cả cho
họ. Sau đó họ cùng thực tập thiền ôm với những người
Việt Nam. Những người Mỹ gốc Việt Nam ở quanh vùng đó
cũng được mời đến tham dự. Những vị cựu chiến binh
đã thực tập thiền ôm với người Việt để họ có thể
cảm nhận được rằng người Việt Nam đã tha thứ cho họ
và bây giờ cả hai đều đã trở thành bằng hữu. Đã có
ba khoá tu dành riêng cho các cựu chiến binh được tổ chức,
và bây giờ những chương trình dành cho các cựu chiến binh
được kết hợp tổ chức như một phần của những khoá
tu lớn.
Tiếp
đến là khoá tu dành riêng cho giới kinh doanh được tổ chức
ở Làng Mai. Thầy kể một câu chuyện thật đã đánh động
rất nhiều vào người nghe về một người thương gia nọ.
Anh ta đã luôn yêu cầu người vợ và gia đình của mình chờ
anh ta một thời gian để anh ta có thể có mặt cho họ. Anh
ta nói rằng hiện tại công ty anh đang trong giai đoạn không
thể hoạt động mà thiếu vắng anh được. Anh ta bảo rằng
có thể hai hay ba năm nữa, anh ta mới có được thời gian
dành cho vợ con và gia đình. Người thương gia đó đã chết
sau đó không lâu, và ngay lập tức công ty anh ta có ngay người
thế chỗ anh chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ. Câu chuyện
này được Thầy kể để đánh thức mọi người, nhắc nhở
họ trở về với ý thức vô thường của cuộc sống.
Thầy
đã dạy những thiền sinh tham dự rằng chúng ta phải tập
sống hoà hợp được với những người gần gũi chúng ta
nhất, sau đó chúng ta có thể mở rộng vòng quan tâm của
chúng ta lên 5 người, 20 người hay thậm chí với cả 1000
người làm việc cho mình. Thầy dạy những vị đó
phải cho các nhân viên của mình thời gian đủ để họ có
thể ăn cơm trưa thanh thản, và họ cũng nên đến ăn chung
với những người đó, hay thậm chí có thể tổ chức những
buổi thực tập buông thư tại nơi làm viêc của mình. Nhân
viên làm việc nên được các giám đốc của mình đối xử
như những người bạn, các vị giám đốc nên quan tâm nhiều
hơn đến đời sống cá nhân cũng như về gia đình những
thành viên trong công ty, xí nghiệp của mình. Vừa mới đây
Thầy có gặp một bác sĩ người Hoa, người đã tỏ ra hết
sức thờ ơ và lạnh nhạt đối với những người phụ tá
cho mình, và một trong những người đó đã quá phẫn uất
và đã ra tay bỏ thuốc độc giết chết ông bác sĩ và cả
gia đình ông ta. Chỉ một mình ông bác sĩ được cứu sống.
Ba tháng sau khoá tu kết thúc, nhiều báo cáo cho biết rằng
họ đã có rất nhiều ảnh hưởng tốt trong sự liên hệ
với những người cộng sự cũng như những mối quan hệ khác.
Những bài giảng của Thầy trong khoá tu này được ghi lại
trong quyển sách với tựa đề “Power” đã bán trên 200,000
đầu sách ở Hàn Quốc.
Nhiều
năm trước đây, Thầy chúng tôi có đến chia sẻ sự thực
tập cho những tù nhân tại một nhà tù được coi là an toàn
nhất tại tiểu bang Maryland, Mỹ. Chúng tôi đã phải đi qua
hết thảy 16 cánh cửa, và cứ mỗi lần bước qua một cánh
thì phía sau lưng mình cánh cửa đó liền bị khoá chặt lại.
Những vị đó đã được Thầy hướng dẫn sự thực tập
ăn trong chánh niệm và sau đó thức ăn được đem đến. Họ
nhận lấy thức ăn và ăn một cách vội vã. Ăn xong họ ngồi
nhìn những vị xuất gia vẫn đang còn thảnh thơi ăn trong
chánh niệm. Có lẽ chính hình ảnh đó đã đánh động họ
hơn là những lời giảng. Nhiều vị trong số đó đã tỏ
ra có ít nhiều được chuyển hoá. Thầy đặt cho họ câu
hỏi: “Liệu chúng ta có thể thay đổi cuộc đời của mình
hay không?” và ngay sau đó những tù nhân liền bắt tay thực
hiện những gì tốt đẹp ngay trong điều kiện nhà tù.
Nhiều
thứ đã không được phép mang theo khi vào trong nhà tù, bao
gồm cả những máy thu thanh, thu hình mà chúng tôi thường
dùng để thâu lời Thầy dạy. Chúng tôi đã yêu cầu những
vị chức trách thâu dùm chúng tôi bằng chính những thiết
bị sẵn có của họ. Chúng tôi xin phép họ để Thầy có
thể dùng máy mini-disc của mình để thâu chỉ với mục đích
là lưu trữ. Đầu tiên họ không đồng y đề nghị đó nhưng
sau đó họ cũng cho phép. Điều này cũng rất là may bởi lẽ
những dụng cụ họ dùng để thâu thanh đã không hoạt động
được và chúng tôi đã dùng những gì chúng tôi thâu được
làm thành một quyển sách có tên “Be Free Where You Are” (
Bạn Hãy Thảnh Thơi Tự Do Bất Cứ Ở Nơi Nào) đã được
dịch ra rất nhiều thứ tiếng.
Trong
suốt chuyến đi Mỹ năm 2003, Thầy đã tổ chức một khoá
tu mà dự định dành cho những nhân viên cảnh sát, nhân viên
làm việc trong các nhà tù và những nhà thi hành luật pháp.
Thế nhưng, những khán thính giả đến nghe đã mở rộng đến
những người làm trong ngành phục vụ công cộng, điển hình
là những giáo viên. Trong những bài pháp thoại, Thầy đã
nhấn mạnh cho những nhân viên giữ an ninh trật tự rằng
họ cần phải thực tập sự thảnh thơi, tập đi thiền hành
trong chánh niệm và buông thư để có thể làm lắng dịu lại
thân tâm, và từ đó họ có thể chăm sóc cho gia đình mình
mà không đối xử với họ như những thuộc hạ. Những nhân
viên cảnh sát đã không đồng ý thực tập đi thoải mái,
họ nói rằng họ có thể bị bắn chết bất cứ lúc nào
và bất cứ ở đâu khi đi bộ trên đường phố. Sau đó Thầy
có đề nghị họ thực tập bằng cách mỗi khi về đến nhà,
hãy dành ra ít phút thiền hành trước cửa nhà mình hay nhà
hàng xóm trước khi bước vào ngôi nhà thân quen của mình,
nơi mà họ luôn tìm thấy được một sự bình an thật sự.
Những
thống kê cho thấy rằng số nhân viên cảnh sát tự bắn bằng
súng của chính mình nhiều hơn là bị người khác bắn trong
khi thi hành công vụ. Sự căng thẳng trong công việc đã đẩy
họ tới chỗ uống rượu say sưa. Chúng tôi đã đề nghị
họ tạo ra một gia đình tâm linh ngay tại nơi làm việc của
mình, nơi đó họ có thể cùng nhau đọc và thảo luận về
Năm giới để làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn. Bằng cách
này họ có thể có được sự tươi mát, tình bằng hữu và
mối liên hệ tốt với những đồng nghiệp, giống như những
thành viên trong gia đình yểm trợ và nâng đỡ nhau. Để giúp
những nhân viên trong các ngành phục vụ công cộng thực hiện
được những điều trên bằng cách thức hoàn toàn không mang
tính chất tôn giáo, (nhằm duy trì sự độc lập giữa giáo
hội và nhà nước đã được qui định trong Hiến Pháp Hoa
Kỳ), chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ truyền Năm Giới
trong đó tất cả những ngôn từ đạo Bụt đều được thay
thế bằng những danh từ của ngôn ngữ thế gian.
Đối
với những giáo viên tham dự trong khoá tu này và cả những
khoá tu khác, Thầy dạy rằng trường học cũng chính là cơ
hội thứ hai cho những trẻ em có hoàn cảnh gia đình bị đổ
vỡ có thể tiếp nhận được những sự dạy dỗ mà các
em đang cần. Giáo viên phải thực tập lắng nghe những học
trò nhỏ của mình, đem đến cho các em không chỉ những kiến
thức mà là tình thương, là sự giảng dạy thích hợp mà
các em đang thật sự cần đến. Thầy đã khuyến khích các
giáo viên sử dụng những kỷ năng khéo léo nhất để có
thể giới thiệu sự thực tập chánh niệm vào các lớp học.
Thầy đưa ra một ví dụ để quy vị đó có thể áp dụng
là cử ra một em trong lớp cứ mỗi 15 phút vỗ tay một tiếng
như là một tiếng chuông để những học sinh khác dừng lại
công việc đang làm và thở.
Cũng
trong chuyến đi Mỹ năm 2003, Thầy đã tổ chức một khoá
tu dành cho các vị dân biểu Quốc Hội Mỹ. Thầy đã dạy
về vòng tròn những mối quan hệ, bắt đầu bằng những gia
đình hạt nhân của chính họ, kế đó mở rộng đến những
gia đình khác tạo thành một nhóm nhỏ, một tăng thân,...
Những vị dân biểu Quốc Hội là những người hết sức
bận rộn, họ luôn phải đi máy bay đi, về từ thành phố
của mình đến Washing D.C. Mỗi khi về đến chỗ làm việc
thì lại có quá nhiều việc đang chờ sẵn họ phải đọc
gấp rút và giải quyết. Rất nhiều vị tham gia khoá tu đã
chia sẻ về sự thực tập thiền hành từ nơi làm việc của
họ đến nơi bỏ phiếu quả thật là một trong những cách
hữu hiệu va thực tiễn mà họ có thể áp dụng hằng ngày.
Vào
những khoá tu khác, Thầy chúng tôi cũng đã chia sẻ nhiều
về sự quan tâm của những bậc làm cha mẹ. Nhiều người
mẹ độc thân thường có khuynh hướng tìm kiếm một người
đàn ông để có thể giúp cô ta một tay nuôi dạy con mình.
Nhưng theo lời Thầy dạy, làm như vậy chỉ làm cho tình trạng
trở nên phức tạp hơn mà thôi thay vì một người đóng cả
hai vai trò vừa người cha và là người mẹ. Thầy dạy những
người mẹ độc thân này nên để tâm nhiều vào sự thực
tập của chính bản thân mình, thực tập sao họ được mạnh
mẽ hơn, vững chãi hơn, hạnh phúc hơn, và có nhiều bình
an hơn. Và nếu như những vị hôn phối của họ tự nguyện
quay trở lại thì càng tốt. Đối với những cặp vợ chồng
khác Thầy dạy họ rằng con cái chính là sự tiếp nối của
họ về hướng tương lai, và bố mẹ chính là sự tiếp nối
của con cái về hướng quá khứ. Sự thực thì chúng ta không
có một cái ta riêng biệt. Những gì con cái nhận được trong
xã hội ngày nay khác xa với những gì bố mẹ của chúng đã
được tiếp nhận, vì thế ngay cả khi mà những tiêu cực
của bố mẹ biểu hiện ra trên đứa trẻ, nó cũng không tài
nào nhận ra được bởi nó đã biểu hiện ra một cách rất
khác. Nếu như chúng ta nhìn thật sâu, chúng ta chỉ có thể
nói rằng: “Con trông thật giống bố”.
Trong
một khoá tu được diễn ra tại Oldenburg, Đức cách đây vài
năm Thầy đã dạy về sự quan trọng của việc hoà giải
với những thành viên trong gia đình không có mặt tại khoá
tu, trước khi tình trạng quá trễ. Đó là ngày thứ 5 của
khoá tu, Thầy đề nghị mọi người tái lập lại sự truyền
thông với những thành viên trong gia đình trước 12 giờ khuya
hôm ấy. Đối với những người có người thân cùng tham
dự khóa tu, họ có thể thực tập pháp môn này một cách
trực tiếp. Với những người có người thân trong gia
đình đang ở xa (chiếm đa số), Thầy cho phép họ sử dụng
điện thoại di động để gọi và hàn gắn lại sự truyền
thông của họ. Ngày kế tiếp, có bốn người đàn ông đến
báo cáo với Thầy rằng, cảm ơn những lời dạy của Thầy
về lắng nghe sâu và các pháp môn thực tập khác của khoá
tu, họ đã có thể sử dụng điện thoại di động đêm qua
để hòa giải với những người cha của họ - điều mà họ
không thể tin là có thể thực hiện được trước khi tham
dự khóa tu. Chắc chắn là còn nhiều người khác
nữa cũng đã hoà giải được, nhưng vì mắc cỡ đã không
dám đến báo cáo với Thầy. Đây là những điều đã
xảy ra, cách này hay cách khác, trong các khóa tu mà chúng tôi
đã tổ chức.
Từ
tháng giêng đến tháng tư năm 2005, Thầy chúng tôi đã thực
hiện được một chuyến đi lịch sử về thăm lại quê hương
Việt Nam sau 40 năm bị lưu đày. Rất nhiều vị trong chính
chính quyền Việt Nam đã rất lo sợ rằng Thầy cùng phái
đoàn 100 vị tu sĩ và 100 vị thiền sinh có thể tạo nên các
cuộc biểu tình và nổi loạn. Vào buổi pháp thoại công cộng
đầu tiên của Thầy ở Hà Nội, khi sư anh lớn của chúng
tôi là thầy Pháp Ấn đến nơi một giờ trước khi pháp thoại
bắt đầu, sư anh thấy công an khắp mọi nơi với nhiều sợ
hãi lo là sẽ có náo loạn xảy ra. Một điều hết sức ngạc
nhiên cho Thầy và phái đoàn là chỉ có 18 người được cho
phép vào nghe pháp thoại của Thầy, nhưng Thầy cứ nói không
khác như khi nói trước 300 hay 3000 thính chúng.
Sau
khi phái đoàn được hướng dẫn tham quan và cho pháp thoại
ở các nơi khác nhau, và với lòng kiên nhẫn và thái độ
hòa ái của phái đoàn trước các giới chính quyền, sự sợ
hãi của họ giảm đi thấy rõ. Thầy được cho phép
nói Pháp thoại công cộng lần thứ hai ở Sài Gòn, và lần
này có 600 người tham dự bao gồm cả những người làm việc
trong chính phủ và nhân viên cảnh sát cũng được mời đến
tham dự. Với sự yêu cầu của chúng tôi, hệ thống
loa phát thanh được gắn thêm ở bên ngoài toà nhà, và nhờ
vậy đã có thêm gần 1000 người được nghe pháp. Kế đến
ở Huế, một Pháp thoại công cộng khác được tổ chức
với 600 người được vào bên trong, và bên ngoài cũng nhờ
hệ thống loa mà cả ngàn người đã được nghe vào đêm
hôm đó. Khi phái đoàn trở về Hà Nội, Thầy đã cho Pháp
thoại tại Học Viện Chính Trị, và tiếp theo là một buổi
Pháp thoại khác đã được tổ chức tại một khách sạn
lớn với 600 người được mời dự ở phòng chính và 200
người ở những khu vực chung quanh.
Trong
chuyến đi Việt Nam, Thầy đã gởi đến các nhà cầm quyền
bảy điểm đề nghị họ cho phép Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam tự hàn gắn vết thương và giúp giảm bớt những khổ
đau của người dân Việt gây ra do những tệ nạn xã hội
như sự nghiện ngập ma túy. Thầy đưa ra sự thực tập chấp
nhận lẫn nhau để có thể đi đến một sự hoà giải giữa
hai phía đối lập trong Giáo Hội Phật Giáo, rằng chúng ta
nên ngồi với nhau trong tình huynh đệ chứ không phải như
những kẻ thù. Một vị tu sĩ đã từng nói rất giận dữ
về chủ đề này, nay đã nói một cách nhã nhặn hơn. Thái
độ của những nhà cầm quyền đã ít nhiều được thay đổi,
họ đã tỏ ra tôn trọng và để tâm đến những đề nghị
của Thầy, coi trọng hơn vai trò của đạo Bụt và những
gì đạo Bụt có thể đóng góp nhằm xây dựng xã hội Việt
Nam. Chính quyền nay đã cho phép thành lập những tổ
chức sinh hoạt Phật Giáo ở nhiều vùng mà trước đây đã
không được phép.
Cũng
như những người đàn ông ở khoá tu tại Oldenburg, và nhiều
khóa tu khác, đã tìm thấy pháp môn lắng nghe sâu thật hữu
hiệu trong nội bộ gia đình; ở Việt Nam chúng ta nhận thấy
rằng pháp môn lắng nghe sâu lại hữu hiệu hơn không chỉ
trong phạm vi gia đình mà còn rộng ra ngoài xã hội.
Kết
luận
Chúng
tôi đã trình bày ở đây một số phương pháp áp dụng những
tinh túy đạo Bụt vào đời sống hắng ngày trong xã hội
hiện đại. Giáo lý đạo Bụt vẫn còn cả một kho
tàng chưa được khai thác hết, và nhiều việc cần thực
hiện thêm để có thể làm mới đạo Bụt. Tâm lý và sự
cảm thông của xã hội thời đại chúng ta rất khác với
thời của Bụt. Nhờ vào sự phát triển vượt bực trên lĩnh
vực khoa học, kỹ thuật, và y dược, mà chúng ta đã có được
những tuệ giác mới về thiên nhiên. Để đạo Bụt có thể
thích ứng được với cuộc sống hiện đại, sự hiểu biết
sâu sắc và khả năng mạnh dạn làm mới lại các giáo lý
là những gì chúng ta cần phải có. Trách nhiệm của người
thực tập đạo Bụt trong xã hội ngày nay là gìn giữ cội
nguồn, nhưng đồng thời cùng lúc có thể hiện đại hoá
những giáo lý một cách thông minh làm sao mọi người có
thể chấp nhận và có được nhiều lợi lạc.
Qua
gần 2600 năm, truyền thống đạo Bụt đã phát triển rất
nhiều pháp môn thực tập. Với khả năng giới hạn và sự
nỗ lực còn khiêm tốn, chúng tôi đã cố gắng làm mới đạo
Bụt và đem đạo Bụt áp dụng vào thời đại mới, chúng
tôi đã nhận thấy rằng điều đó có thể thực hiện được.
Chúng tôi hy vọng nỗ lực này sẽ được tiếp sức từ tất
cả mọi giới Phật tử. Chúng tôi chỉ mới khởi đầu và
con đường phía trước vẫn còn rất dài. Ở Làng Mai, cộng
đồng của chúng tôi được xem như một phòng thí nghiệm
đạo Bụt mà ở đó những loại “thuốc mới” đều được
mang ra để thực nghiệm. Khi một loại thuốc được kiểm
nghiệm là hiệu quả trong phòng thí nghiệm của chúng tôi,
chúng tôi cống hiến ra cho toàn thế giới. Chúng tôi
xin chia sẻ trên trang này về một số thí nghiệm và cách
thức mà chúng tôi cho là hữu hiệu. Xin mời tất cả quý
vị trong các truyền thống khác cùng tham gia với chúng tôi,
và để giúp Bụt chuyển bánh xe chánh pháp trở lại vào thế
kỷ 21 ở Phương Tây.
Nguồn: http://www.langmai.org/TNH/DacBiet/WorldBuddhist%2006/diendan-WBF.htm
Mời
bạn gửi e-mail bày tỏ ý kiến, nhận định, hay thảo luận,
nếu có.