| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
c
![]()
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
Chào quý đạo hữu, Bài viết sau đây rất hay , rất đang suy ngẫm, nhưng cũng còn gợi lên nhiều ý nghĩ cho ai thực tâm muốn tìm hiểu ý nghĩa của Tánh Không trong Phật giáọ Trước hết , tác giả xác định "Không" khác với " hư vô " là điều cần thiết, giúp tránh được bao nhiêu hiểu lầm tai hại, do cách suy tư đơn giản. Ðã có người nghĩ....sau cùng khi thể nghiệm được với cái Không thì không còn gì nữa (tan hoà vào Không tánh) . Lại có người cũng nghĩ trước đám tang của cha mẹ, hay của thầy thì khóc lóc mà chi, tụng niệm mà chi, chỉ cần làm sao cho quên buồn là tốt nhất, vì "Tứ Ðại Giai Không". Nghĩ như vậy gọi là theo quan niệm "hư vô chủ nghĩa" hay Ðoạn kiến. Kế đó, tác giả giải thích Không là năng lượng, nền tảng tạo ra mọi sự vật, thì cũng rất có lý, hợp khoa học. Vì "năng lượng tạo ra vật chất", và ngược lại vật chất cũng cho ra, hay trả lại, năng lượng ( hạt nhân tan rã cho ra năng lượng nguyên tử). Thế còn những thứ "phi vật chất" thì sao ? Như cơn tức giận hay lòng thương yêu, do cái gì tạo ra ? Cũng là do năng lượng, vì tức giân hay thương yêu đều sử dụng năng lượng bên trong của con người, có thể nói là của thân thể, trí não, và chúng lại cũng có thể tạo ra năng lượng mớị Ai cũng biết tình yêu thường đem đến năng lượng xây dựng, còn thù hận thường tạo ra năng lượng phá hoạị Cho nên ngày nay nhiều thiền sư, như thầy Nhất Hạnh, dạy không nên tìm cách chế ngự, hay tiêu diệt những tình cảm tiêu cực, như lòng ghét, giận, mà chỉ nên chuyển hóa thành những tình cảm tích cực hơn, như thương yêụ Như thế vừa hiệu quả, vừa bảo tồn được năng lượng bên trong của con ngườị Ngay những thứ do con người nghĩ ra, không có trong thiên nhiên, như thơ văn, toán, khoa học... cũng do năng lượng, tạm gọi là trí năng (lượng). Vì đã có những từ nhiệt năng, quang năng, cơ năng, hoá năng (năng lượng do phản ứng hoá học ra cho ra), thì cho "trí năng" là năng lượng của trí não thì cũng haỵ Thế nhưng, tới đây cũng còn có câu hỏị Năng lượng, xét cho cùng cũng là "vật chất". Thí dụ , điện năng là do điện tử (electron) có nhiều hay ít hơn trạng thái trung tính , làm mất quân bình về điện tính của một chất dẫn điện. Quang năng (ánh sánh) cũng là do các hạt di chuyển tạo ra (proton và nhiều hạt khác nhỏ hơn). Nhiệt năng là do phân tử chuyển động. Năng lượng cũng là vật chất , hay dính với vật chất, vậy thì cái gì tạo ra năng lượng. Câu trả lời
tạm thời phải là cái Không. Cho nên, tôi nghĩ " Tánh Không"
còn nằm bên dưới của nang lượng, tuy chưa biết thực là
gì theo cách nhìn của nhà khoa học. Năng lượng lại có quá
nhiều dạng khác nhau, và có thể chuyển biến, tương đốí
dễ dàng, từ hình thức này qua hình thức nọ, như điện
năng cho ra nhiệt, ánh sáng, phản ứng hoá học...và ngược
lạị Vậy có thể nào tất cả loại các năng lượng đó
đều có chung một "bản tính" là "Không ", làm nền tảng cho
mọi cách thay đổi về hình thức ?.
----- Original Message ----- From:
Nguyen Phuong <nguyenbichphuong@hotmail.com>
Nhân có đạo
hữu Bạch Yến đề cập tới " KHÔNG" như sau: KHÔNG là có
tất cả nhân duyên nên mới CÓ, nhưng cái CÓ không tồn tại,
cho nên gọi là KHÔNG....Nói tóm lại KHÔNG tức là CÓ nhưng
mà KHÔNG Tồn Tại. Tôi xin n giới thiệu với quý vị một
bài viết của ÐÐ. Thích Tâm Thiện và giáo sư Nguyễn Chung
Tú về "Duyên Khởi Và Tánh Không: Chúng tôi trích một đoạn
ngắn. Muốn đọc thêm xin click vào đây: http://www.thuvienhoasen.org/phcb-3f.htm
Duyên
khởi và Tính không
Khải Thiên và Nguyễn Chung Tú I. Tổng quan về Duyên khởi và tính Không Triết lý Duyên khởi (Paticcasamuppàda) và tính Không (Sunyàta) là hai điểm giáo lý then chốt của Phật giáo được trình bày xuyên suốt trong các kinh điển, từ Nikaya, Agama cho đến các kinh điển thuộc văn hệ Ðại thừa (Mahayàna). Ðây cũng là phần giáo lý độc nhất vô nhị của Phật giáo, mà không hề tìm thấy trong bất kỳ hệ thống giáo lý nào khác trong lịch sử của tôn giáo và triết học, trước cũng như sau thời Ðức Phật. Ðứng trên góc độ lịch sử-tư tưởng, Duyên khởi được xem như là phần triết lý nền tảng của cả hai hệ thống Nam tạng và Bắc tạng, từ thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy (Theravàda) đến Phật giáo Phát triển sau này. Riêng về triết học tính Không, sự phát triển của nó bắt nguồn từ khởi điểm của Phật giáo Mahayàna (Phật giáo Phát triển) và nội dung như đã được trình bày cụ thể trong kinh Bát Nhã (Prajanaparamita Sùtra), một bộ kinh đầu tiên thuộc văn hệ Ðại thừa. Mặc dầu vậy, về nội dung triết lý, giữa Duyên khởi và tính Không không có sự khác biệt về bản chất. Trên phương diện logic học, mối quan hệ giữa Duyên khởi và tính Không được xem như là "một dòng vận hành tất yếu", như nước trăm sông cùng đổ về biển cả; nó vừa là nguyên nhân, lại vừa là kết quả sinh khởi nên vạn hữu trong vũ trụ vô biên này. Sự thể như thế nào sẽ được trình bày ở phần nội dung. II. Nội dung của Duyên khởi và tính Không 1- Duyên khởi:Nếu như thế giới bao la mênh mông này được chia thành hai loại: hữu tình chúng sinh (tức những loài có tri giác như động vật, con người) và vô tình chúng sinh (tức những loài vô tri như cỏ cây hoa lá, sông suối, đá đồi v.v...), thì Duyên khởi, ở một góc độ nào đó, cũng có thể chia thành hai loại: một loại tập chú vào sự hiện hữu của con người được Ðức Phật dạy qua 12 Nhân duyên, và một loại khác chỉ đến sự tương duyên, tương tác trong sự hình thành và hiện hữu của thế giới khách quan, tự nhiên được dạy qua định thức tổng quát về Duyên khởi. Tuy nhiên, cả hai đều trình bày về sự thật Duyên khởi - nguyên lý tương tác, sinh khởi và vận hành của vũ trụ nhân sinh. Ở đây, phạm vi của bài viết chỉ đề cập đến Duyên khởi qua định thức tổng quát. Kinh Phật Tự Thuyết (Tiểu Bộ I, tr.291), Ðức Phật đã trình bày tóm tắt về nguyên lý Duyên khởi như sau: "Do A hiện hữu
nên B hiện hữu
Nguyên lý này bảo rằng, tất cả hiện hữu trong thế giới bao la mênh mông này, không một hiện hữu (sự vật, hiện tượng) nào có thể tồn tại một cách độc lập mà không nương tựa vào nhau. Sự nương tựa và tùy thuộc nhau để hình thành và tồn tại v.v... là nguyên lý vận hành của vũ trụ nhân sinh này; tương tự như thế đối với hằng hà sa thế giới. Do đó, Ðức Phật bảo rằng: "Do A hiện hữu nên B hiện hữu... Do A đoạn diệt nên B đoạn diệt". Có thể lấy tỷ dụ như nước và sóng gió, do có nước và gió nên mới có sóng cuộn nhấp nhô. Nếu không có nước thì sẽ không bao giờ có sóng. Sóng có mặt là do nương vào nước và gió v.v... Rồi tiếp tục suy luận như thế, bản thân của nước cũng không phải do đơn độc hình thành, mà cơ cấu của nước là H2O. Vì thế, qua đôi mắt bình thường, nước là nước; nhưng qua lăng kính khoa học, nước không phải là nước, mà nước là hợp chất của hydro và oxy v.v... Tương tự như thế đối với tất cả hiện tượng, sự vật, cả hữu tình (động vật) và vô tình (thực vật - hay vật vô tri). Sự có mặt của mỗi hiện hữu luôn luôn bao gồm trong nó hàng loạt các giá trị của nhân và duyên. Ðây là nội dung cơ bản của định thức tổng quát về Duyên khởi. 2- Tính Không:Tính Không (Sunyàta) không phải là một khái niệm đối lập với Có, mà Không ở đây là thực tính của các pháp (những gì có mặt trong cuộc đời). Tính Không cũng không phải là chủ nghĩa hư vô không tận; nó vốn thoát ly mọi đối ngẫu phân biệt giữa hữu-vô, sanh-diệt, thường-đoạn, khứ-lai, siêu việt lên trên tất cả mọi phạm trù đối lập của thế giới nhị nguyên. Do đó, mọi khái niệm về Không được xây cất trên tư duy logic đều không phải là thực tại - tính Không; trái lại, ở đây đòi hỏi một sự thể nhập trực tiếp vào thế giới thực tại sau khi mọi ý niệm tự ngã được buông bỏ. Như thế, khi con người còn đầy ắp những tập khí, cảm nhim, những khát vọng, mong cầu được thiết lập trên cơ sở của ý niệm về tự ngã, thì sự bàn bạc về tính Không chẳng khác nào dã tràng xe cát. Tuy nhiên, trên mặt hiện tượng, tính Không được nhận thức như một hệ quả tất yếu trong tiến trình Duyên khởi mà ngài Nàgàrjuna, qua Trung Quán luận, gọi là "Duyên khởi tức Không". Ðiều đó cho thấy rằng, nếu thế giới vũ trụ này được hình thành theo cơ cấu trật tự của Duyên khởi, thì đương nhiên nó cũng hoại diệt theo cơ cấu hoàn diệt của Duyên khởi. Vì lẽ, một sự thể nếu được hình thành từ nhiều nhân duyên (theo như định lý Duyên khởi nói) thì chính sự thể ấy đã loại trừ cái mà gọi là thực thể (entity) đơn nhất ngay nơi tự thân của nó. Do đó, trên bình diện công ước, tính Không đã khước từ và phủ định hoàn toàn mọi ngã thể, nếu ngã thể ấy được xem như là một thực thể độc lập bất biến hay thường tại vĩnh hằng. Ở đây, cần ghi nhận rằng tính Không không phải là sự đồng hóa hay đánh mất mọi bản sắc cá biệt của hiện tượng giới (the world of phenomena). Mà trái lại, cội nguồn của "Duyên khởi tức Không" giải trình hiện tượng giới qua ba tính chất đặc thù của một sự thể, đó là: Giả danh, Không và Trung đạo. a)- Giả danh: Thông thường, tất cả sự vật, hiện tượng đều được định danh bởi một tên gọi khác nhau, như nước, mây, mưa, hơi nước v.v... Nhưng các tên gọi đó chỉ là giả danh, vì chúng tạm thời mà có. Như nước gặp sức nóng-hút của ánh sáng mặt trời thì gọi là hơi, hơi ngưng tụ thì gọi là mây, mây rơi xuống thì gọi là mưa, mưa đọng lại thì gọi là nước v.v... Vì thế, các tên gọi mây, mưa, hơi nước... đều là tên gọi tạm thời được hình thành trên bề mặt của mỗi mỗi sự vật, hiện tượng. Và cái mà gọi là bản sắc cá biệt của hiện tượng giới chính là hiện thân của tác dụng và tên gọi tạm thời đó. b)- Không: Một sự thể, như đã đề cập, xuất hiện là do các nhân duyên hình thành, và các nhân duyên đó luôn luôn điều kiện hóa lẫn nhau. Trong khi đó, thực tính của các nhân duyên đều là Duyên khởi; và, như đã nói, Duyên khởi tức Không, thế có nghĩa Không là tự tính vô tính của Duyên khởi và là thực tính như tính của Duyên khởi. Tỷ dụ, nếu phân tích bản chất của nước, hơi nước, mây, mưa, ta sẽ không nắm bắt được gì ngoài hydro và oxy - công thức là H2O. Và nếu tiếp tục phân tích cho đến độ không thể phân tích được nữa, thì tự thân của hydro và oxy cũng là Duyên khởi của một dạng thức năng lượng không hình thù, không màu sắc và không biên giới. Năng lượng là vô biên, hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi. Ngay tại đây, chính năng lượng hiển thị bản tính Không; nó xóa nhòa mọi khuôn khổ, chiều kích trong từng mỗi bản sắc cá biệt của hiện tượng giới. Do vậy, sự thể vốn không. c)- Trung đạo: Trung đạo, trên mặt triết lý, là lối dẫn vào thực tại tính Không - Niết bàn vô thượng; trên mặt nhận thức, là sự phủ dẫm mọi định kiến về hữu-vô, sinh-diệt, thường-đoạn, khứ-lai... Do đó, có thể nói Trung đạo là con đường dắt dẫn mọi sinh linh một phen đi vào "đô thị tính Không", một cảnh giới Niết bàn vô thượng hiển hiện ngay trên mặt đất gồ ghề của trần thế này. Trung luận viết rằng: "Nếu không y vào chân lý công ước (chân lý của kẻ còn vô minh) thì không thể đạt đến chân lý tuyệt đối; nếu không đạt đến chân lý tuyệt đối (chân đế), thì không thể hiểu được Phật pháp". Như thế, với Trung đạo, một sự thể không thể nói là có hay là không, mà chỉ có thể nói nó là Duyên khởi. III. Duyên khởi và tính Không qua phương trình: E = MC2 Trước năm 1905, Einstein đã phát biểu công thức E = MC2 trong thuyết Tương đối hẹp. Mặc dầu công thức này không được in thành sách, nhưng Paul Langeoin đã giảng dạy nó cho sinh viên. Công thức E = MC2 nói lên một sự thật Duyên khởi trong thế giới sự vật, hiện tượng qua lăng kính của vật lý học. Ở đây, E biểu thị cho năng lượng, M biểu thị cho khối lượng vật chất và C biểu thị cho vận tốc ánh sáng trong chân không. Về năng lượng (E), được ví như những làn sóng vô hình mà con người không thể thấy, nghe hay sờ mó được. Năng lượng E là cội nguồn của tất cả hiện hữu (thế giới thực tại khách quan và con người); vì thiếu nó, thì mỗi mỗi sự thể M (hay khối lượng vật chất) không thể hình thành. Cho đến sự vận hành của tâm thức cũng được xem là một dòng năng lượng đặc biệt (năng lượng tâm thức). Thông qua công thức E = MC2, ta có thể thấy rằng vật chất chính là năng lượng được cô đọng lại, và năng lượng chính là vật chất được phân tỏa đến độ tan biến vào hư không vô biên, như hạt muối được bỏ vào dòng sông. Từ chi tiết này cho thấy rằng, thế giới sum la vạn tượng này, mỗi hiện hữu, sự thể đều được tạo nên bởi một bản sắc cá biệt, như: cây, củi, than, tro..., nhưng bản chất của nó thật sự là chân không - Duyên khởi. Và, mỗi mỗi bản sắc cá biệt đó luôn luôn mang tính cách lâm thời mà không phải là vĩnh hằng. Cũng từ công thức E = MC2, thí nghiệm cho biết rằng khi một điện tử âm mà khối lượng là M = 0,90 x 10-30 kg gặp một điện tử dương mà khối lượng cũng là M, thì cả hai đều biến mất, để cho một tia gama mà năng lượng E = 1,01 mega-electron-volt. Ðổi năng lượng này ra joule rồi chia cho 2M để được C2 , trong đó C là vận tốc ánh sáng trong chân không (300.000km/s). Và nếu đảo lại, một tia gama mà năng lượng E = 1,10 mega-electron-volt có thể biến đi để cho hai điện tử: một âm, một dương. Ðây là sự trao đổi năng lượng hai chiều giữa bức xạ và vật chất. Công thức E = MC2 trong vật lý vi mô, như vừa trình bày, cũng tương tự với công thức W = MC2 trong ngành vật lý vĩ mô (thiên văn). Từ một vài dữ kiện được trưng dẫn qua phương trình E = MC2, hiện hữu chung quanh con người - tức thế giới thực tại khách quan của vô số sự vật, hiện tượng - được nhìn nhận không gì khác / ngoài nguyên lý Duyên khởi. Và tất nhiên, chân lý đằng sau Duyên khởi chính là thế giới thực tại - tính Không, mà Bồ tát Mã Minh, trong Mahàyàna-sradhotspàda-Sàstra, gọi là Chân như - Duyên khởi. Công thức: Chân như = Duyên khởi; và đảo ngược: Duyên khởi = Chân như. Công thức này sẽ trả lời cho người trần một câu hỏi vĩ đại, rằng tại sao Chân như lại Duyên khởi? Và nó cũng hiển thị cho thấy tính chất bất khả phân ly của thực tại - hiện hữu: Sóng về xóa
dấu chân không
Ghi Chú của Ban
Biên Tập:
Xem
Tiếp Thêm Cuộc Thảo Luận Trên Diễn Ðàn Hoa Sen:
|
c
|
|||||||||||||||||||||||