THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Xin cho biết rõ tâm, ý, thức, trí và niệm 
khác nhau như thế nào?

(Trả lời câu hỏi của đạo hữu Từ Hỷ)

Tâm Là Gì

Trong đạo Phật, khái niệm Tâm được diễn đạt bằng nhiều danh từ khác nhau:

1. Trong thuyết Ngũ Uẩn thì sắc uẩn bao gồm tất cả sắc pháp, còn thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn bao gồm tất cả tâm pháp.

2. Trong thuyết 12 nhân duyên, ở chi Danh Sắc, danh đại biểu cho tâm pháp, sắc đại biểu cho sắc pháp. Vì sao gọi tâm pháp là danh? Bởi lẽ các tâm pháp không có hình tướng như sắc pháp, cho nên chỉ có thể dùng tên để gọi chúng mà thôi.

3. Trong Duy Thức Học, những hoạt động tâm lý được phân tích cặn kẽ hơn và được bao gồm trong hai nhóm hoạt động chính, nhóm Tâm Vương và nhóm Tâm Sở...Hoạt động của Tâm Vương là hoạt động chủ đạo. Hoạt động Tâm Sở là hoạt động phụ thuộc của Tâm Vương. Vương nghĩa là vua, còn sở là sở hữu. Tâm Sở có nghĩa là những pháp sở hữu của Tâm Vương. Duy Thức Tông phân biệt có 8 Tâm Vương và 51 Tâm Sở. Ðạo Phật không quan niệm tâm lý là một cái gì thuần nhất, đơn giản theo kiểu như khái niệm linh hồn... thứ hai, đạo Phật xem tâm pháp thuộc pháp hữu vi, nghĩa là những pháp sinh diệt, có tạo tác chứ không phải như khái niệm một linh hồn thiêng liêng bất tử theo như một số tôn giáo khác quan niệm.

Nếu định nghĩa Tâm một cách khái quát nhất thì trong các kinh điển Phật giáo, chữ Tâm thường được dùng theo sáu nghĩa:

1. Nhục Ðoàn Tâm: quả tim vật chất, làm chức năng bôm máu đi khắp cơ thể.

2. Tập Khởi Tâm: tức là thức thứ tám, A Lai Da Thức, Hán dịch là Tàng Thức, là toàn bộ tâm thức, cơ sở của mọi hoạt động tâm lý.

3. Tư Lương Tâm: Tư lương là đắn đo suy nghĩ. Tâm thức Tư Lương là thức thứ bẩy, tức là Mạt Na Thức. Tác dụng của nó là liên tục, không phút nào ngừng nghỉ chấp thức thứ tám là Ta. Tâm Lý học Tây phương không biết Thức thứ bẩy này. Vì tác dụng của nó là chấp ngã, cho nên nó là cơ sở của những phiền não cơ bản xoay chung quanh cái Ta, như Ngã Si (si mê về cái ta), Ngã Kiến (thấy sai lầm có cái Ta riên biệt), Ngã Ái (đam mê yêu thương cái Ta), và Ngã Mạn (đặt cái Ta cao hơn tất cả). Một từ khác dùng để chỉ tâm thức thứ bẩy này là Ý, chỉ chỉ tướng trạng của thức này là sinh diệt, nốI tiếp nhau không bao giờ bị gián đoạn. Ðồng thờI, thức thứ bẩy này là nơi nương tựa, nơi y chỉ của thức thứ sáu (ý thức) cho nên sách Phật gọi là Ý Căn (căn năng của ý thức).

4. Liễu Biệt Tâm: Ý thức và năm thức trước (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức) có tác dụng duyên với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng.

5. Kiên Thực Tâm: Chân Tâm, là cái tâm chân thật, không hư vọng, đó là Phật tính, cái mầm mống giác ngộ vốn có sẵn trong mỗi chúng ta.

6. Tinh Yếu Tâm: như nói Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh. Tâm ở đây là tinh yếu, cái cốt l i. Bộ kinh Bát Nhã rất dài có đến 600 cuốn, nhưng một cuốn kinh nhỏ là Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh đã thâu tóm được toàn bộ tinh hoa của bộ Bát Nhã trong hai ba trang sách, cho nên gọi là Tâm Kinh.

Trong kinh điển Phật Giáo, chữ Tâm cũng có nhiều nghĩa khác nhau:

Trong những kinh điển Pali: Chữ Tâm là citta, xuất phát từ chữ "cit", có nghĩa là tơ tưởng. Các chữ khác như "mano" và "vinnana" đồng nghĩa với chữ citta. Cả ba chữ có nghĩa là tơ tưởng, tư tưởng, xúc động tình cảm, cả hai mặt tình cảm và lý trí.

Trong Kinh Bát Nhã cũng như Kinh Lăng Già, chữ Tâm chính là Vô Tâm hay Vô Niệm, là thanh tịnh, trong sáng, rực rỡ và tinh khiết, tức là, Tâm là thiện và sạch các ô nhiễm. Tâm không tách rời tập khí , Tâm cũng không kết hợp cùng tập khí dù nó bị ngập đầy tập khí. Tập khí theo với mạt na thức mà bị ô nhiễm, và tâm giống như một cái áo trắng tuyền không bị dơ vì tập khí.

Thế Nào Là Ý (S. Manas hay Mana)

Hán dịch nghĩa là tư lương, suy nghĩ, so đo, tính toán. Theo duy thức học, Ý là Thức Thứ Bẩy trong số tám thức, và được gọi là Mạt na Thức.Ý với nghĩa Thức Thứ bẩy là Ý theo nghĩa hẹp của môn Duy Thức Học. Còn Ý theo nghĩa rộng, là chỉ tâm thức nói chung.

Thế Nào Là Ý Thức

Ý Thức là thức thứ sáu. Sách Pháp thường dịch là conscience. Trong các loại tâm thức, thức thứ sáu này là loại năng nổ, hoạt động nhất, lanh lợi nhất. Nó có tác dụng giúp năm thức trước phân biệt r ngoại cảnh. Ví dụ mắt nhìn quả cam. Ðó là tác dụng của nhãn thức. Nhưng thật ra, con mắt chỉ thấy được cái hình tròn, cái mầu vàng, còn muốn biết được đấy là quả cam, ăn được thì ý thức phải đồng thời khởi tác dụng. Ý thức không những duyên được với các cảnh của năm thức trước, mà có thể duyên với bóng dáng của những cảnh đó. Ví dụ ta nhắm mắt lại, mắt không nhìn thấy quả cam nữa, nhưng ý thức vẫn tượng được bóng dáng, hình dạng của quả cam.

Ý thức của người luôn luôn hoạt động, chỉ trừ lúc ngủ say và chết giấc. Người tu định thành tựu được cảnh giới Vô Tưởng Ðịnh, hay Diệt Tân Ðịnh, thì ý thức cũng không còn hoạt động được nữa. Khi thành tựu được cảnh giới gọi là Vô Niệm, thì ý thức ngừng không hoạt động nữa, nhưng tâm người nhập định vẫn sáng suốt tỉnh táo.

Niệm là Gì

Niệm là nghĩ nhớ, nhớ r . Niệm, cũng cùng một nghĩa với chữ Thức. Cho nên Vô Niệm tức là Vô Thức là cái trạng thái không còn ý niệm phân hai, là vượt khỏi những lối nhận thức và suy luận nhị nguyên. Theo vua Trần Thái Tông, "đời sống là một chuỗi niệm tưởng không dứt phát sinh từ tâm thức... Cắt đứt chuỗi niệm tưởng không dứt này tức là cắt dứt dòng tái sinh. [Khóa Hư Lục, Chương Niệm Phật và Vô Niệm] Ngài Vĩnh Gia cũng nói: "Ai không có niệm, người ấy thoát khỏi tái sinh" ("thùy vô niệm thùy vô sinh")

Thế Nào Là Vô Sư Trí và Hữu Sư Trí

Vô sư trí là trí tuệ vốn sẵn có trong mọi chúng sinh, không do thầy dạy nào trao cho ai cả. Chỉ vì bị phiền não vô minh che lấp cho nên trí tuệ sẵn có đó chưa hiển hiện ra được. Tất cả công phu tu hành chỉ là nhằm đoạn trừ vô minh phiền não, thì tự nhiên trí tuệ đó sẽ bộc lộ và phát huy tác dụng. Cũng gọi là Căn Bản Trí hay Tự Nhiên Trí. Còn Hữu Sư Trí là cái trí tuệ được học hỏi từ kinh điển, thiện hữu tri thức, sách vở, giáo dục, kinh nghiệm tập quán hằng ngày. Ðó là cái trí tuệ sinh diệt.

Trên đây chỉ là tóm lược qua về các chữ Tâm, Ý, Thức, Niệm, Vô Niệm và Trí tuệ vô sư, hữu sư. Quý độc giả muốn tìm hiểu thêm xin đọc: Vấn Ðề Nhận Thức Trong Duy Thức Học của Hòa Thượng Nhất Hạnh, Duy Thức Nhập Môn của Hòa Thượng Thiện Hoa, Nghiên Cứu Kinh Lăng Già của Dr. D. T. Suzuki, bản dịch của thầy Thích Chơn Thiện, Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông, Tâm Lý Học Phật Giáo của thầy Thích Tâm Thiện, Kinh Bát Nhã, Kinh Thắng Man, Kinh Ðại Bát Niết Bàn.

Tâm Diệu
 
 


x

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap