THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Tâm Kinh

Subject: [hoasen-1] Tâm Kinh .
Date: Thu, 21 Dec 2000 10:23:03 EST
From: Vanchungthanh@aol.com
To: hoasen-1@egroups.com, vn-buddhism@egroups.com

(Trích " Bát Nhã Trực Giải " , trang 14 ; Tác giả : thiền sư Minh Chánh ; Thiền sinh Thiền viện Thường Chiếu hợp dịch và ấn hành).

..."...Ðề mục kinh này , Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa Tâm Kinh là chữ Phạn và Trung Hoa hợp thành .Tám chữ Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa là chữ Phạn (Mahaprajnàpàramità). Hai chữ Tâm Kinh là chữ Trung Hoa .
---Tám chữ này chỉ cho phép gì ?
---Chính là chỉ cho " nhất tâm " vậy .
Vậy thì tám chữ Phạn ấy được gồm thâu vào một chữ "Tâm" của Hoa ngữ .Trong tám chữ này bao hàm cả văn tự , nghĩa lý cả một bộ kinh, tất cả pháp hiển mật , tịnh nhiễm , sắc không , có không , sanh diệt , năm uẩn , sáu căn , sáu trần , sáu thức , bốn thánh đế , mười hai nhân duyên , sáu độ muôn hạnh , Bồ-đề Niết-bàn , không có một pháp nào chẳng phải là "Tâm". Thế nên nói :" Tâm sanh thì pháp sanh , Tâm diệt thì pháp diệt " . Do đó , " nhất tâm" được chia làm hai môn là " chân như môn" và " sanh diệt môn" . Pháp của kinh này trình bày là " Tâm chân như môn" , có lúc gọi là " Ma-ha-bát-nhã" , có khi gọi là "Quán-tự-tại" , hay "năm uẩn đều không " , hay "tướng không của các pháp" , hay "chân không" , hay "cứu cánh Niết-bàn " , hay "A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề", hay "đại thần chú , đại minh chú, vô thượng chú , vô đẳng đẳng chú" , hay gọi là" chân thật chẳng hư dối", hay "yết đế" , hay "bồ-đề-tát-bà-ha". Những đoạn kể trên đều là văn tự trích trong kinh này . Nhưng đó chỉ là danh tự giả lập để khai thị cho chúng sanh , kỳ thật , như kinh Pháp Hoa nói :"Pháp này chẳng thể chỉ bày , tướng ngôn từ dứt bặt". Tổ sư nói :"Nẻo nghĩ bàn dứt". Nhưng trong các kinh , đức Như Lai dùng nhiều phương tiện để khai ngộ chúng sanh , nên dùng các danh từ để gọi như chân như , chân không , vô sanh , thật tướng . Ðó là chỉ vì người muốn nghe pháp mà
gượng lập danh , phương tiện chỉ bày , cốt khiến cho người hay quay về soi lại chính mình để âm thầm khế hội , tâm sáng thần ngộ , tự thấy được "của báu nhà mình", như người uống nước lạnh nóng tự biết , không thể nói năng , mô tả được trạng thái ấy . Chỉ có bậc thượng căn mới có thể ở ngay nơi diệu tánh của sáu căn , hay tịch chiếu song dung , đấy gọi là " Tâm chân như môn".
.....Tâm vắng lặng "chân như" là thể của Tâm . Tâm có "tri giác" , giác ấy là chiếu soi vậy . Giác chiếu soi là dụng của Tâm . Nhưng , hay chiếu soi mà không lay động , ấy là chiếu mà thường tịch ; vắng lặng mà chẳng hôn trầm , ấy là tịch mà thường chiếu . Nếu chiếu soi và vắng lặng không hai , thì thuần là "chân như", ấy gọi là "Tâm đệ nhất nghĩa", cũng gọi là " Tâm vô sanh", tức ở đoạn trước gọi là " Tâm chân như môn" vậy . Nếu lúc chiếu soi cảnh vật mà chẳng giữ tự tánh , một niệm nhỏ nhiệm chợt sanh , bỏ mình chạy theo vật , vậy là chân như chẳng giữ tự tánh . Khởi tâm phân biệt , thì tâm phân biệt sanh , sanh rồi lại diệt , diệt rồi lại sanh , sanh diệt không ngừng , nên gọi là "Tâm sanh diệt môn". Bởi lúc tâm chiếu soi cảnh vật , chẳng biết sắc tướng của sự vật vốn không , mà cho đó là thật có . Vì chấp có nên bị vật chuyển , càng lúc càng xa , không quay về được. Từ một niệm nhỏ nhiệm dấy lên , ấy gọi là tâm sanh , hay gọi là sắc tâm . Vì chiếu soi vật mà có tâm này , nên cũng gọi là tâm có tướng , đó là tâm sanh diệt môn . Kinh nói :"Từ gốc vô trụ lập tất cả pháp ". " Gốc vô trụ..." tức là chân như không giữ tự tánh , nghĩa là gặp cảnh tâm sanh , tâm tùy theo cảnh mà chuyển . Tâm sanh thì pháp sanh , kinh nói :"Ba c i chỉ là tâm , muôn pháp chỉ là thức " , nên bảo :"...lập tất cả pháp" , hết thảy pháp chẳng ngoài sự sinh diệt , đó gọi là "Tâm sanh diệt môn".

Kinh này đức Phật muốn khiến cho chúng sanh lìa bỏ sanh diệt , quay trở về sống với cái thể chân như không sanh không diệt , vậy phải y theo nhân địa và pháp môn của bồ-tát Quán tự tại đã tu , thực hành sâu vào một môn , soi thấy r năm uẩn đều không . Nếu ngộ được uẩn không , thì thật tướng chân không bổn nhiên r ràng, chẳng từ nơi người khác mà được . Kinh nói :" Phàm tâm chưa hết ,hết tức Bồ-đề , chỉ cần dứt tình phàm , riêng không thánh giải ". Ví như lau gương , chẳng phải lau gương , mà là lau bụi . Bụi hết , ánh sáng tự hiện , cũng chẳng từ nơi khác mà được . Do đó , biết kinh này dạy phải y theo ngài Quán-tự-tại , soi thấy r năm uẩn đều không , đấy là cứu cánh .

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát .
VCT


From: Vanchungthanh@aol.com 
To: hoasen-1@egroups.com
Subject: Re: [hoasen-1] Tâm Kinh . (cám ơn anh)
Date: Thu, 21 Dec 2000 21:28:57 EST

Kính gửi hai đạo hữu Từ Hỷ và Thiền Ngọc ,
Xin cảm ơn những lời khích lệ quý hóa của hai đạo hữu , và nhân đây , tôi xin kính gửi tới chư đạo hữu vài dòng nói về tác giả cuốn Bát Nhã Trực Giải , thiền sư Minh Chánh .

..."...Thiền sư Ðạo Tuân Minh Chánh ở chùa Bích Ðộng , thuộc tỉnh Ninh Bình (Bắc Việt) , là người Việt Nam đầu tiên giải thích Tâm Kinh ...
...Quyển Bát Nhã Trực Giải này được soạn thuật vào triều Thiệu Trị năm thứ ba , nhằm năm Quý Mão (1843) , được khắc bản từ triều Khải Ðịnh năm Canh Thân (1920) , đến triều Bảo Ðại năm Quý Dậu (1933), trải qua 14 năm mới xong . Ðến năm Quý Mùi (1943) , Bộ ấn hành Kinh điển của Hội Phật Giáo Bắc Kỳ khắc lại bản in để truyền bá rộng rãi . (Trang 3 , Bát Nhã Trực Giải )
Như vậy là thiền sư Minh Chánh đã sống vào đầu thế kỷ thư 19 , hai đạo hữu ạ .
Kính chúc hai đạo hữu thân tâm thường an lạc .
VCT


From: Vanchungthanh@aol.com 
To: hoasen-1@egroups.com 
Subject: Re: [hoasen-1] Diệu Ðạo thường tồn .
Date: Fri, 22 Dec 2000 11:04:28 EST

(Trích " Triệu Luận Lược Giải" , trang 85 ; Luận giả : đại sư Tăng Triệu ; Lược giải : đại sư Hám Sơn ; Chủ dịch : hòa thượng Thích Duy Lực , phụ dịch : tứ chúng Phật tử ; Từ Ân thiền đường ấn hành)

..."...Ngôn ngữ do danh hiệu mà khởi , danh hiệu do hình tướng mà sanh, danh tướng từ vọng tưởng bày ra . Nếu danh và tướng cả hai đều quên , thì vô danh vô thuyết , ngôn thuyết đã không , thì từ đâu mà nghe ? Kinh nói :" Niết bàn phi pháp nên chẳng ở trong , phi phi pháp nên chẳng ra ngoài , không nói không nghe , vì diệu đạo lìa ngôn ngữ , chẳng phải do tâm ý mà biết được ".

Mặc dù như thế , Tu Bồ Ðề nói :" Ta quán Bát Nhã vốn chẳng ngôn thuyết , nếu chúng sanh được vô tâm để lãnh thọ , chẳng nghe mà nghe , thì ta sẽ chẳng nói mà nói ".

Nay vì trình bày lời của Phật để giải tỏa sự mê chấp , cũng có thể dùng lời nói để nói vậy .

Duy Ma Cật nói :" Chẳng lìa phiền não mà chứng được Niết Bàn ".Trong kinh Bửu Nữ Sở Vấn có bài kệ của Thiên Nữ rằng :

Như cảnh giới của ma
Và cảnh giới của Phật
Bình đẳng đồng một loại ,
Do đó Phật thấy Phật . (*)

Diệu đạo chẳng ra ngoài , chẳng ở trong , nên kinh nói :"Chẳng ra cảnh giới ma , mà nhập cảnh giới Phật ".

Sự ấy cần phải diệu ngộ , đâu có thể chấp theo lời nói mà
cầu được .

Thế thì , huyền đạo ở nơi diệu ngộ , diệu ngộ ở nơi "tức chân" ; "tức chân" thì có, không, cùng quán một lượt , cùng quán một lượt thì người và mình chẳng phải là hai , cho nên trời đất với ta đồng gốc , vạn vật với ta đồng một thể ; đồng ta thì chẳng còn sự có không , khác ta thì trái với sự dung thông ; cho nên chẳng ra ngoài , chẳng ở trong , mà ngay đó " diệu đạo thường tồn".

Tại sao?

Vì bậc thánh nơi tâm trống rỗng mà âm thầm chiếu soi , từ lý đạt sự , nên chẳng có chỗ nào mà chẳng bao gồm ; Ôâm vũ trụ ở trong lòng , mà linh minh chiếu soi có dư ; Hiện vạn hữu ở nơi tâm , mà chân tâm luôn trốùng rỗng ; Do sự diệu ngộ nên được tẩy sạch phiền não , phá cái mê chấp từ vô thủy , chứng được nguồn gốc nhiệm mầu của Niết Bàn . Ứng cơ mười phương , ngay nơi náo động mà chân tâm thường tịnh , trống rỗng vắng lặng mà khế ngộ tự nhiên .

Thật trí chứng lý cùng tột , nên ở nơi " có" , mà chẳng có .

Quyền trí ứng cơ mười phương , nên ở nơi "không" mà chẳng không .
---vì chẳng không , nên chẳng kẹt nơi "không";
---vì chẳng có , nên chẳng chấp nơi "có";
---ở nơi "có" , mà chẳng có , nên chẳng có ở nơi "có" ;
---ở nơi "không" mà chẳng không , nên chẳng không ở nơi "không".

Như thế , nên chẳng ra ngoài "có, không" , cũng chẳng ở trong "có, không" , đâu có thể cho nhất định phải tìm cầu ở nơi "có và không".

Thế thì , vạn pháp chẳng có cái tướng "có , không" (cảnh không), bậc thánh chẳng có cái tri "có , không" (tâm không).

---Bậc thánh chẳng có cái tri "có , không" , thì chẳng tác ý bên trong ,
---vạn pháp chẳng có cái tướng "có, không" , thì chẳng có danh tướng bên ngoài .
---Chẳng danh tướng bên ngoài , thì cảnh tuyệt ;
---Chẳng tác ý bên trong , thì trí bặt .

Cảnh và tâm , cả hai đều tịch diệt , thì vật và ngã âm thầm hợp một , trống rỗng chẳng mảy lông , nên gọi là Niết Bàn .

Niết Bàn nếu như thế , thì sự suy lường cắt tuyệt , đâu còn có thể chấp sự "có , không" ở bên trong , và tìm cầu sự "có , không" ở bên ngoài .

-----
(*) Chỉ có người kiến tánh mới thấy được Phật tánh của ma với
Phật không khác .

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát .
VCT


From: Vanchungthanh@aol.com 
To: hoasen-1@egroups.com 
Subject: Re: [hoasen-1] Diệu dụng của Phật tánh .
Date: Sat, 23 Dec 2000 09:25:12 EST

(Trích Thiền Học Giảng Thoại " , trang 87 ; dịch giả Trương Thiếu Tề dịch từ nguyên bản Nhật ngữ ( không có tên tác giả ) sang Hoa ngữ; dịch giả Hân Mẫn dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ ; Tu viện ChơnKhông và nhà Tri Thức xuất bản )

..."...Danh từ "diệu dụng" là một thuật ngữ của Phật giáo ,Thiền gọi là "cơ dụng" . Nói diệu dụng đó , tất nhiên chỉ chonhững tác dụng của đại trí (trí huệ bát-nhã), là tác dụng khách
quan của bản thể Tâm thanh tịnh .

Sau đây thử nêu vài lời thuyết minh của cổ nhân :

" Mỗi người các ông đều có kho báu vô giá :
---từ cửa mắt phóng quang soi chiếu đất đai sông núi ...
---từ cửa tai phóng quang thu nhận tất cả âm vang thiện ác ...
---sáu cửa ngày đêm phóng quang , cũng gọi là phóng quang tam muội .
(Ðại An thiền sư pháp ngữ )

" Ðạo lưu ! Tâm pháp không hình , thông suốt mười phương :
---ở mắt gọi thấy
---ở tai gọi nghe
---ở mũi gọi ngửi
---ở miệng nói bàn
---ở tay nắm bắt
---ở chân đi chạy
---vốn là một tinh minh , phân làm sáu hòa hợp "
( Lâm Tế Lục )

" Hài nhi sơ sanh vung tay múa chân , cũng là diệu dụng của bản hữu tự tánh , cho đến chim bay , thỏ chạy , mặt trời lặn mọc , gió thổi mây trôi , muôn vật đổi dời , đều là chuyển pháp luân nơi bản hữu tự tánh , không do người khác chỉ dạy . Hiện tại tôi đang nói đây , là pháp luân nơi tôi đang chuyển ; các ngài nghe , đó là cái linh diệu của Phật-tánh các ngài "
( Bạt Ðội pháp ngữ )

" Giả sử tám muôn bốn ngàn tạp niệm sanh diệt , người nào không thủ , không xả , thì niệm niệm đều thành ánh sáng trí huệ bát-nhã . Không những thấy là thấy không phân biệt , mà thở ra , hít vào , nghe ngóng , chạm xúc , cũng không phân biệt , ánh sáng thân tâm nhất như , thường vắng lặng . Cho nên nghe kêu liền ứng "dạ" , là ánh sáng nhất như của thánh , phàm , mê , ngộ . Ánh sáng này vốn không chỗ trụ , dù chư Phật xuất thế , hay không xuất thế , Niết bàn hay không Niết-bàn , khi ông sanh, ánh sáng này chẳng sanh , khi ông chết , ánh sáng này chẳng diệt ; nơi Phậtkhông thêm , nơi chúng sanh không bớt ; cho nên lúc mê , chẳng phải
mê ; lúc ngộ , chẳng phải ngộ ; không nơi chỗ ; không tên gọi; nó là toàn thể xum la vạn tượng vậy ; nắm không được , bỏ không được, song lại đi khắp , trên đến trời Hữu-Ðảnh , dưới đến ngục A-Tỳ . Ánh sáng như vậy là linh quang của thần minh không thể nghĩ bàn !" ( Cô Vân pháp ngữ )

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát .
VCT


x

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap
Xx
Xx