|
|
c
Vì
Sao Phóng Sinh?
Phóng
Sinh Như Thế Nào?
|
From:
"Lien Tam" lientam@buđdhist.com
Date:
Fri May 25, 2001 3:26 am
Subject:
VI` SAO PHO'NG SINH ?
Phóng sinh bắt
nguồn từ kinh Phật Ðại Thừa, thịnh hành ở Trung Hoa, Tây
Tạng, truyền sang Nhật Bản và các nước láng giềng Triều
Tiên, Việt Nam. Hoạt động phóng sinh dựa trên tinh thần từ
bi và bình đẳng giữa chúng sinh, và quan niệm nhân quả của
sinh tử luân hồi. Nếu vừa giữ giới sát, lại vừa phóng
sinh thì công đức gấp bội. Những tỷ dụ kinh nghiệm cảm
ứng về phóng sinh, sách sử nói đến rất nhiều.
Trong kinh "Tạp
bảo tạng" quyển 4 có ghi chép sư phụ của một Sa di biết
Sa di này sẽ chết trong vòng 7 ngày, nên cho phép anh ta về
thăm nhà, 7 ngày sau sẽ trở lại, nhưng không giải thích r
lý do. Anh ta lên đường về nhà, thấy nước trong một cái
ao thoát ra một khe hở, đe dọa một ổ kiến ở bờ ao. Bầy
kiến nháo nhác chạy trốn nhưng không kịp với tốc độ
nước tháo ra. Anh Sa di thấy vô số con kiến ắt phải chết
đuối bèn lấy áo cà sa của mình bồi đất vào để đắp
lỗ hổng ở bờ ao, cứu thoát bầy kiến. Sa di về thăm nhà
7 ngày, rồi trở lại ra mắt sư phụ. Sư phụ thấy Sa di kinh
ngạc vô cùng, hỏi anh ta mấy ngày qua có xảy ra chuyện gì
đặc biệt không. Tưởng rằng sư phụ nói mình phạm giới,
làm việc bậy bạ nên lo sợ nói rằng không làm việc gì
sai trái. Sư phụ là A la hán dùng thiên nhãn biết r là anh
Sa di này đã làm một việc thiện nhỏ là cứu sống một
bầy kiến, nhờ vậy mà khỏi phải chết yểu, được sống
cho đến già.
Các tín đồ Phật
giáo đều biết r căn cứ của phóng sinh. Có hai bộ kinh. Một
là "Kinh Phạm V ng Bồ Tát Giới", trong đó có nói : "Mọi người
hãy lấy từ tâm mà phóng sinh, vì tất cả đàn ông là cha
của mình, tất cả đàn bà là mẹ của mình, mình chính là
từ ở đó mà sinh ra. Vì vậy chúng sinh trong sáu c i đều
là cha mẹ ta, giết họ mà ăn là giết cha mẹ, và giết cả
bản thân mình nữa. Tất cả đất và nước là thân trước
của ta, tất cả lửa và gió đều là bản thể của ta, cho
nên thường làm việc phóng sinh, đời đời thọ sinh. Nếu
người đời khi thấy việc giết hại súc vật thì nên cứu
chúng thoát khỏi khổ nạn, thường giáo hóa nói về giới
Bồ Tát, cứu độ chúng sinh".
Bộ kinh thứ hai
là "Kinh Kim Quang Minh" quyển 4 (phẩm con ông trưởng giả Lưu
Thủy) kể lại chuyện ngày trước Phật Thích Ca tu hạnh Bồ
Tát. Thời ấy Phật Thích Ca làm con ông trưởng giả Lưu Thủy.
Một lần Người đi qua một cái hồ lớn. Trời đại hạn.
Có người đắp đập trên thượng nguồn để bắt cá, làm
cho mức nước hồ thấp xuống, hàng vạn cá lớn, cá bé có
nguy cơ bị chết. Con trưởng giả muốn cứu bầy cá, nhưng
không thể lên tận nguồn để phá đập chắn, bèn tâu với
quốc vương phái đến 20 con voi lớn, chở nước tới, đổ
đầy hồ, cứu sống đàn cá.
Kinh "Phạm V ng"
là chỗ dựa lý luận của phóng sinh. "Kim Quang Minh" là chỗ
dựa để xây ao phóng sinh. Các bộ kinh Ðại Thừa khác như
"Lục độ tập kinh" quyển 3, ghi chép việc mua rùa để phóng
sinh. Cuốn "Ðại Ðường Tây Vực Ký" của Huyền Trang cuốn
9 kể chuyện Tháp Nhạn. Ở nước Magadha thuộc Trung Ấn Ðộ
có một ngôi chùa Tiểu Thừa, do một vị Tỳ kheo tu không
giữ giới ăn ba loại thịt thanh tịnh là các loại thịt không
thấy giết, không nghe giết, không vì mình mà giết. Có một
ngày, một Tỳ kheo không có thịt ăn, chính lúc đó ở trên
trời có một bầy nhạn bay qua, Tỳ kheo bèn nói với đàn
nhạn "Hôm nay, có vị Tăng không có thịt ăn, vì không ai cúng
dường. Các vị Ðại Bồ Tát biết là thời cơ đã đến
rồi". Bầy nhạn nghe thấy như vậy, đều sa xuống mà chết.
Vị Tỳ kheo ấy vốn không tin Ðại Thừa, không tin chim nhạn
có thể là Bồ Tát, nên nói ra câu trên để chế diễu Ðại
Thừa. Không ngờ chính các Bồ Tát đã hiển hiện làm nhạn
để giác ngộ cho anh. CácTỳ kheo Tiểu Thừa trong chùa lấy
làm xấu hổ và bảo
nhau : "Ðây là
các vị Bồ Tát, ai mà dám ăn". Từ nay về sau phải dựa vào
Ðại Thừa, chúng ta sẽ không ăn ba loại thịt thanh tịnh.
Rồi xây tháp thờ chim nhạn.
Có thể thấy
phóng sinh có gốc rễ ở giới sát. Cũng có thể nói phát
triển giới sát thêm một bước, thành ra phóng sinh. Giới
sát chỉ là ngăn không làm ác, là hành vi thiện thụ động.
Phóng sinh cứu mạng là hành vi thiện tích cực. Nếu chỉ
ngăn ác, mà không hành thiện thì không phải là tinh thần
của Phật pháp Ðại Thừa. Vì vậy mà Trung Quốc, từ thời
Bắc Tề Lương đến nay, có phong trào không ăn thịt không
sát sinh. Phong tục phóng sinh cũng từ đó được phát triển
dần dần từ triều đình đến dân thường, từ chúng Tăng
đến người trần tục đều coi trọng ăn chay.
Chính phủ (Trung
Hoa) Dân quốc hiện nay cũng định kỳ cấm giết hại súc
vật một số ngày trong năm, từ trung ương đến địa phương
để cầu mưa, xua đuổi tai họa, người ta cũng tổ chức
phóng sinh và cấm giết hại súc vật. V Ðế nhà Lương xuống
chiếu cấm sát sinh để cúng tế. Tỳ kheo Tuệ Tập đời
nhà Lương, nguyện tự đốt hai cánh tay, đi khắp nơi khuyên
phóng sinh. Ðời Tùy, đại sư Trí Khải phát động phong trào
xây ao phóng sinh, giảng các kinh "Kim Quang Minh" và "Pháp Hoa"
để tuyên truyền xin bỏ tiền mua lương thực để nuôi cá.
Ðời Trần Tuyên Ðế, Vua sai quan Tế Tửu Từ, Khắc Hiếu
viết "Bài Bia về việc thiền sư Trí Khải" tu ở chùa Thiền
núi Thiên Thai tổ chức phóng sinh. Ðiều đó mở đầu cho
việc ghi chép các hội phóng sinh và các ao phóng sinh ở Trung
Quốc. Từ đó về sau từ đời nhà Ðường, nhà Tống đến
nhà Minh, đời nào cũng có phát triển việc phóng sinh. Ðời
vua Ðường Túc Tôn, có viết bài bia về ao phóng sinh. Ðến
đời Tống, hai đại sư Tuân Thức và Tri Lễ cũng ra sức
tán thán việc phóng sinh.
Cuối đời nhà
Minh có đại sư Liên Trì là một trong những cao tăng rất
tích cực tuyên truyền việc phóng sinh. Ðại sư viết các
bài "Như Lai không cứu nghiệp sát", "Ăn thịt", "Ăn chay" in
trong tập "Trúc song tùy bút", lại viết các thiên thư như
"Mặc áo lụa ăn thịt", "Giữ giới sát được sống thọ",
"Ao phóng sinh", "Thầy thuốc giới sát sinh", "Vì bệnh ăn thịt".
Trong tập "Trúc song tùy bút", lại có các bài "Sát sinh là
tội ác lớn trong đời người", "Làm người không nên sát
sinh", "Làm người không nên ăn thịt chúng sinh để khuyến
khích giới sát và phóng sinh". Ngoài các bài viết về "ăn
chay", ông còn viết các bài "Nghi thức phóng sinh", "Giới sát
phóng sinh", để bày vẽ các nghi thức phóng sinh cho mọi người.
Thời hiện đại có sách của đại sư Hoàng Nhất, các tập
tranh về "Bảo vệ cuộc sống" của Phong Tử Khái "6 cuốn".
Ngoài ra còn có Cư sĩ Thái Niệm Sanh đề xướng việc giới
sát phóng sinh biên tập những câu chuyện về chủ đề "Ðộng
vật cũng có linh tính và cảm ứng" thành sách với nhan đề
"Ðộng vật còn như vậy". Nhưng trong xã hội hiện đại,
khoa học kỹ thuật tiến bộ, mật độ nhân khẩu tăng nhanh,
không gian sống bị thu nhỏ lại, muốn có một ao phóng sinh,
một khu vực phóng sinh tuyệt đối an toàn là tương đối
khó khăn. Ở nước Mỹ và Ðài Loan hiện nay có các khu vực
bảo vệ dã thú. Ngoài ra cũng có người do
lòng thương yêu
loài vật và muốn bảo vệ thiên nhiên đã khuyến khích dân
chúng không nên giết, bắt bừa bãi, tránh phá hoại sự điều
hòa phối hợp tự nhiên của sinh vật, tránh nguy cơ diệt
chủng đối với loài động vật hiếm. Ðiều này phù hợp
nhưng không hoàn toàn tương đồng với tinh thần phóng sinh
của đạo Phật. Nếu chúng ta thả tất cả động vật được
phóng sinh vào các khu bảo vệ động vậtà thì sẽ có nguy
cơ bão hòa, số động vật tăng nhan tới mức phải hạn chế.
Do đó, chúng ta
đến đâu để phóng sinh ? Nếu là cá thì có người câu hay
thả lưới, nếu là chim, thì có người dùng súng bắn, hay
dùng lưới vây bắt. Ở các chợ bán chim, bán cá ngày nay,
thường không phải là động vật hoang dã, mà đại bộ phận
là do người ở các ao cá, vườn chim. Những động vật này
căn bản không thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên, phóng sinh
chúng cũng như sát sinh. Phóng sinh loài nhỏ, chúng sẽ bị
những loài lớn ăn thịt. Phóng sinh loài lớn, chúng sẽ bị
săn bắn đưa vào bếp các quán ăn. Hơn nữa, giống chim, loài
cá đều có thói quen của chúng. Có những loài cá nhất định
phải sống trong những hoàn cảnh nhất định như chất nước,
độ sâu, độ chảy, mua giống cá sông thả vào biển hay mua
và thả cá biển vào sông
đều thành vấn
đề. Loại chim nuôi ở công viên, không quen săn mồi trong
hoàn cảnh tự nhiên không biết rau quả nào trong rừng có
thể dùng làm thức ăn. Nếu thả chúng vào rừng sẽ bị đói
hoặc bị các động vật khác hoặc các loài chim ăn thịt.
Trong tình hình
như vậy, có cần phóng sinh hay không, có nên phóng sinh hay
không ? Ðiều này r ràng là một sự thực không may mắn. Sự
hạn chế của hoàn cảnh tự nhiên làm cho cuộc vận động
phóng sinh ngày càng khó khăn.
Thực ra, ý nghĩa
phóng sinh là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo
dài thọ mạng của sinh vật. Còn kéo dài được bao lâu thì
chúng ta phải có trách nhiệm khảo sát, nghiên cứu như muốn
thả chim thì phải nghiên cứu xem thả loài chim gì, thả ở
đâu, thả vào lúc nào mới an toàn, có kết quả.
Ðối với loài
cá, tôm, cua v.và cũng phải như vậy. Trước hết phải nghiên
cứu tập quán sinh thái, nguồn gốc của chúng, rồi chọn
thời cơ thích đáng nhất để thả chúng ở những nơi an
toàn thích hợp nhất. Nhưng nếu không may, hôm nay chúng được
thả, sang ngày hôm sau chúng bị bắt thì cũng đành chịu vậy.
Mục đích của
chúng ta là phát động lòng từ bi, tinh thần cứu tế của
người phóng sinh. Còn số phận của động vật được phóng
sinh ra sao, thì còn tùy thuộc vào nhân quả họa phúc và nhân
duyên của chúng nữa. Miễn là khi phóng sinh chúng ta thành
tâm cầu cho chúng được thoát nạn. Hãy vì chúng mà nói Tam
Quy, nói Phật pháp, phát nguyện hồi hướng. Chúng có thể
nhờ đó mà thoát ly được các thân khác loài, chuyển tái
sinh làm người, sinh lên c i trời, vãng sinh tịnh độ, phát
tâm Bồ đề, độ thoát chúng sinh sớm thành Phật đạo. Trong
việc phóng sinh, chúng ta chỉ cần tận tâm, tận lực mà làm.
Như vậy là tốt.
Hòa Thượng Thích
Thánh Nghiêm
Phật Học Quần
Nghi
Phân Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam
Việt dịch
x
|