Tác
giả và tác phẩm:
Nguyên
bản Anh ngữ của bài này là Buddhist Resources of Issues of Population,
Consumption and the Environment, dã được đăng trong Mary Evelyn
Tucker and Dunncan Ryuken Williams (eds.): Buddhism and ecology:
the interconnection of dharma and deeds, Harvard University, Center for
the Study of World Religions, Cambridge Mass: Harvard Uni Press, 1997 pp.
291- 311. Tác giả là Rita M. Gross, Giáo Sư Khoa Học Tôn Giáo
Đối Chiếu Đại Học Wisconsin, Eau Claire. Bà đã nổi danh
với các tác phẩm Buddhism after Patriarchy: A Feminist History,
Analysis and Reconstruction of Bud-dhism (State University of New York
Press, 1993) và Feminism and Religion: An Introduction (Beacon Press 1996).
Đại ý:
Giáo
lý Phật Giáo không hề trực tiếp đưa ra những giãi pháp
cho các vần đề của thời đại như dân số, tiêu thụ hay
mội trường. Tuy nhiên khi giãi thích những giá trị nội tại
của giáo lý Phật Giáo qua kinh điển, thì ta sẽ tìm ra những
đường lối thích hơp để giãi quyết các vấn đề này.
Trong
ba vấn đề nêu ra, thì ta không thể mở rộng môi trường
và gia tăng tài nguyên tuỳ thich, mà chỉ có thể giãm bớt
dân số và tiết chế tiêu thụ
Phật
Giáo không khyến khích sinh sản, không bắt buộc Phật Tử
phải có con như một bổn phận tôn giáo. Sinh con hay không
là do quyết định cuả riêng mình. Quyết định này đến
từ ý thức về cuộc sống của con người trong thế gian và
trách nhiệm trong tình liên đới, chứ không phải do tai nạn
hay bổn phận.
Thuyết
Duyên Khởi giãi thích về sự tương thuộc cuả chúng sinh
trong thế gian qua môt màng lưới liên kết vô hình.Tất cã
mọi sinh hoạt của con người đều có ảnh hưởng lẩn nhau
và bị chi phối theo theo luật nhân quả. Khi ta sử dụng tài
nguyên bừa bải sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường chung.Tiêu
thụ quá độ do lòng vị kỷ cũng gây ra tưong tự.
Giãi
thích giá trị của Trung Đạo sẽ tìm ra một giãi pháp cho
các vấn đề, mà thái độ tiết chế là một đề nghị mà
Phât Từ nên noi theo. Phât giáo đề cao rất mực điều may
mắn khi được sinh ra làm kiếp con người, không phải vì
có nhân quyền hay được đứng trên tạo vật khác. Theo ý
nghiã tiết chế, thì sống một đời xa xí là vô nghiã, nhưng
sống nghèo khó chẳng đưa đi đến đâu. Phật Giáo không
lên án giàu sang mà cũng không hề ca ngợi nghẻo đói. Một
đời sống tiết chế là điều kiện cần thiết và tiên quyết
cho sự tu tập để đạt tới giác ngộ. Để việc tu tập
có kết quả, Phật Tử cần có một cơ sở vật chất tối
thiểu và bình an tâm hồn.
Thay
vì chỉ lo nối dõi tông đường, Phật Tử cần nổ lực khới
động Bồ Đề Tâm, một hơi ấm của lòng từ bi cho tất
cã chúng sinh và muôn loài, vượt qua ý nghĩa hạn hẹp cá
nhân gia đình, tộc họ, điạ phương hay đất nước. Bồ
Đề Tâm là một chủng tử giác ngộ cần vun bồi và lưu
truyền, nó cũng quý giá như các di sản văn hoá khác của
nhân loại.
Quan
niệm rằng quan hệ tình dục mà không sinh sản là bại hoại
đạo đức, giá trị này cần được xét lại trong điều
kiện thặng dư dân sô hiện nay. Vần đề tình dục, sinh sản
và đạo đức nên được thảo luận công khai và tách biệt
ra, thay vì kết hợp lại đề lên án.
Nhiệm
vụ chủ yếu cuả quan hệ tình dục là cãm thông và gắn
bó trong xã hội con người. Kim Cang Thừa, còn được gọi
là Chân Ngôn Tông, xuất phát từ Bắc Ấn Độ vào thế kỳ
thứ V, du nhập và phát triển mạnh tại Tây Tạng. Giáo pháp
này mang tính Mật Giáo, phương pháp tu học huyền bí, bao gồm
tôn giáo thiên nhiên cuả Ấn Độ và Phật Giáo, đặc biệt
có tôn thờ giới tính và hình tượng nam nữ yêu nhau. Nam
và nữ được so sánh như trí thức và từ bi. Quan hệ vợ
chồng được xem như một tình bạn đồng môn, cùng tu tập
và gíúp nhau trong cuộc đời với sự đối xử trân trọng
và bình đẳng lẩn nhau, mà tình dục là một biểu tượng
thiêng liêng, chứng minh cho sự gắn bó này (Chú thích của
người dịch)
Cách
áp dụng những giáo lý cơ bản của Phật Gíáo trước những
vấn đề kiểm soát sinh sản và sử dụng tài nguyên được
viết bởi một ngườI đấu tranh cho nữ quyền và nữ học
giả về khoa học tôn giáo, mà Phật Giáo, một tôn giáo lâu
đời, là mục tiêu tự chọn. Tuy nhiên, trong bài này, tôi
mang tới hai quan điểm, vừa là một người trong cuộc được
tu tập theo tư tưởng Phật Giáo, vừa là một người ngoại
cuộc luôn trung thành theo phương thức nghiên cứu tôn giáo
đối chiếu đa văn hoá và những kiến thức đại cương của
những tôn giáo chính.
Cũng
giống như trong trường hợp tất cả các truyền thống quan
trọng khác, người ta không thể tìm ra những giãi pháp cho
vấn đề hiện đại từ những kinh sách cổ điển; đúng
hơn, cần tìm ra những giá trị nội tại trong truyền thống
đó để áp dụng cho các khủng hoảng hiện thời mà không
hề dự liệu về thặng dư dân số và tiêu thụ quá độ;
một mối đe dọa tràn ngập địa cầu mà chúng ta đang bị
lệ thuộc. Theo quan điểm của tôi, nhiệm vụ áp dụng những
giá trị truyền thống Phật Giáo trước những vấn đề này
trong bối cảnh hiện nay không khó khăn,vì giá trị Phật Giáo
cổ truyền đề ra những đường lối vô cùng thích hợp nhằm
đáp ứng hiện tình. Trong tiểu luận này, tôi muốn trình
bày trong một chừng mực nào đó như “một nhà khoa học
Phật Giáo với ý hướng xây dựng”, giải thích truyền thống
này bằng cách mang gì cố hiểu để đối thoại với những
vấn đề và nhu cầu hiện nay. Phản ảnh quan điểm của cá
nhân tôi, vừa là Phật tử và vừa là học giả, tôi sẽ
đúc kết những tài liệu không những từ trong tư tưởng
Phật Giáo cổ điển, mà còn dựa theo những quan điểm Đại
Thừa và Kim Cang Thừa Phật Giáo Đồng thời, nếu có thể
được, tôi sẽ cố gắng tránh tối đa không nghiêng theo một
tông phái nào.
Định nghiã
vấn đề: Môi Trường, Tiêu Thụ và Dân Số.
Khi
chúng ta cố gắng mang những giá trị truyền thống Phật Giáo
nhằm thảo luận về hiện tình, điều quan trọng là chúng
ta phải hiểu rõ nội dung các tình hình đó. Nội dung của
bài này nhằm đề ra những vấn đề quan hệ hổ tương cuả
môi trường, sử dụng tài nguyên và phát triển dân số theo
quan điểm Phật Giáo. Vì Phật Giáo luôn đề nghị rằng chúng
ta cần chấp nhận sự vật như chính chúng thể hiện, không
nên thêm tưởng tượng, điều thích hợp là chúng ta nên bắt
đầu tìm hiểu khái quát về hệ thống kinh tế, tiêu thụ
và dân số tác động nhau như thế nào. Khi ba vấn đề này
quan hệ nhau, người ta có thể tưởng tượng ra ba giải pháp:
một dân số nhỏ vừa đủ sống thoải mái dựa trên một
cơ sở tài nguyên ổn định, tự tái tạo được; một
dân số dư thưà sống trong những điều kiện suy thoái mà
l?i khan hiếm tài nguyên; hoặc là một mô hình hiện nay với
một số ít dân sống trong trong thịnh vượng và một đại
đa số đang phải sống vất vưởng. Giải pháp đầu tiên
đáng được chú tâm là điều rõ ràng. Làm sao người ta có
thể đề cao sinh sản đến độ để thích chọn giải pháp
thứ hai hon là giải pháp thứ nhất, điều này không thể
hiểu được, và mô hình hiện nay dành cho kẻ có ưu quyền
đặc lợi lại không thể chấp nhận được về mặt đạo
đức Hiển nhiên, dân số là một yếu tố duy nhất có thể
giải quyết trong toàn bộ vấn đề. Nói một cách khác, khi
chúng ta nhìn ba yếu tố trong cuộc thảo luận -môi trường,
dân số và tiêu thụ- thì có hai yếu tố không thể giải
quyết và một yếu tố có thể giải quyết. Về cơ bản,
không thể nào giải quyết được các sắc dân phải sống
giới hạn trong biên giới và môi trường sống của mình.Tuy
nhiên, điều này đã xảy ra, vì không có cách chọn lựa và
không có sinh hoạt nào khác tách rời khỏi môi trường sống.
Về mặt đạo đức, một sự phân phối công bình (công bình,
nhưng không bằng nhau về số lượng) về các tài nguyên cho
toàn thể con người trên thế giới là điều sẽ không có
được. Trong phương thức này, khi hai yếu tố trên không giâi
quyết được, thì dân số là yếu tố còn lại có thể giải
quyết. Đề nghị cho rằng một dân số nhỏ vừa đủ để
mọi người có thể tận hưởng mức sống thoải mái mà không
phí phạm tài nguyên là điều cần thiết và mơ ước, vấn
đề này khó đặt ra. Chúng ta không thể nào gia tăng diện
tích của địa cầu mà chỉ gia tăng khả năng sản xuất trong
một tầm mức giới hạn nào đó,nhưng chúng ta là một nhân
chủng có thể kiểm soát dân số.Tất cả những gì đòi hỏi
là việc thực hiện mà những theo đuổi khác phải ít nhất
vừa hy sinh và vừa nhằm thoả mản nhu cầu sinh sản.
Những
tôn giáo thuờng chỉ trích tiêu thụ quá mức nhưng cũng thường
khuyến khích sinh sản quá d? . Tuy nhiên, dù tôi muốn ghi nhận
những giá trị Phật Giáo đề cao tiết chế tiêu thụ, tôi
muốn nhấn mạnh đến những giá trị Phật Giáo nhằm khuyến
khích tiết chế và trách nhiệm đối với sự sinh sản nào
được coi là quan trọng.Tôi nhấn mạnh rõ những yếu tố
này trong Phật Giáo, vì có quá ít những cuộc thảo luận
về các lập luận tôn giáo biện hộ cho giới hạn sinh sản.
Thí dụ một tôn giáo quan trọng có truyền thống lâu đời
trên thế giới mà các tín đồ sống một cuộc đời đấy
đủ lại không quan tâm đến sinh sản cá nhân thì thật đáng
đặt thành vấn đề tìm hiểu. Phật Giáo, dựa trên những
giá trị hay trên những đường hướng chính, không hề được
cấu trúc hay giải thích như một tôn giáo khuyến khích sinh
sản. Hai tư tưởng tôn giáo thường được diện vẩn bởi
hầu hết các tôn giáo nhằm biện minh cho khuyến khích sinh
sản không nằm trong giáo lý cơ bản cuả Phật Giáo. Phật
Giáo không đòi hỏi tín đồ cuả mình phải sinh sản như
một bổn phận tôn giáo. Hầu hết những nghi thức trong Phật
Giáo không coi tình dục là một điều xấu xa hay một tội
lổi cần nên tránh, trừ khi liên quan đến sinh sản, mặc
dầu các nghi lể Phật Giáo bao gồm những tiêu chuẩn liên
quan đến đạo đức tình dục.Tuy nhiên, kiểm soát sinh sản
qua ngừa thai hay kiêng cử là điều hoàn toàn có thể chấp
nhận được. Bắt nguồn từ những giá trị nền tảng cuả
Phật Giáo, thì những phương cách thụ thai và sinh sản được
coi như một chọn lựa chính chắn và thoải mái hơn là tai
nạn hay là bổn phận. Vì có những đường lối độc đáo
mà Phật Giáo đề cao giá trị cuộc sống con người, nên
trong đó cần phải quan niệm trẻ con cần được săn sóc
về mọi mặt từ thể xác, đến cảm xúc và tinh thần. Rất
ít Phật Tử sẽ bất đồng với lời khuyên rằng người
ta phải có ít con hơn, nhờ thế, tất cả các con sẽ được
chăm sóc đầy đủ hơn, mà không làm ki?t qu? tinh thần, vật
chất, cũng như tình cảm của bậc phụ huynh, cuả cộng đồng
hay cuả địa cầu.
Ngược
lại, phong trào cổ vu sinh sản được coi như một ý thức
hệ có vẻ lan tràn kh?p địa cầu; ai mà đề nghị một cách
mềm dẻo rằng sinh sản vô giới hạn không phải là một
quyền của cá nhân và có thể đưa đến hủy diệt thì họ
sẽ bị chế nhạo. Ta nên đề nghị là có luật nhân quả
giữa sinh sản quá mức và nghèo đói và phải kiểm soát điều
xãy ra. Niềm tin cổ súy sinh sản có ít nhất ba tư tưởng
chủ yếu mà tất cả cần được đặt thành vấn đề. Người
ủng hộ sinh sản luôn nghĩ sinh sản là một cơ hội tốt,
trong bất cứ trường hợp nào, kể cả trong hoàn cảnh cực
kỳ khó khăn. Theo ý kiến khác thì khuyến khích sinh sản trong
một vài trường hợp d?c bi?t là vô trách nhiệm, cần được
kiểm soát nhiều hơn hổ trợ; đề nghị này hoàn toàn không
phổ cập trong giới cổ vu sinh sản. Hơn nửa, giới cổ vu
đòi hỏi rằng sinh sản là cần thiết cho nhân sinh: những
người nào tự quyết định cho mình không có con là đáng
trách và phải chiụ nhiều thiệt thòi kinh tế và xã hội.
Cuối cùng, người biện hộ coi sinh sản là một quyền cá
nhân, không bị lệ thuộc vào một chính sách cuả chính quyền,
ngay cả việc họ còn lập luận sinh sản là một trách nhiệm
chung, kể cả toàn cầu. Điểm bi đát trong thuyết này là
mặc dầu thặng dư dân số có thể được cắt giảm nhanh
chóng bởi những phương thức tự nguyện; thiếu điều này,
dân chúng phải chịu những biện pháp cưởng ép, gây nhiều
khổ đau - binh tật, bạo lực và nạn đói. Tuy nhiên, cũng
cần phê bình để ngăn chận những giáo điều tôn giáo khuyến
khích sinh sản được phổ biến lan rộng mà không suy xét,
những biện pháp xã hội hoá, những áp lực,những chính sách
thuế khoá, những tình cảm và những gía trị tấn công một
cách vô nghiã từ khắp mọi phiá.
Trước
khi bắt đầu thảo luận giáo lý Phật Giáo như giãi pháp
cần triển khai cho một nền đạo đức tiết chế liên hệ
đến sinh sản và tiêu thụ, điều quan trọng nên dừng lại
ở đây là dể nhận chân ra hai vấn đề tranh luận. Hai điểm
này không được thảo luận trong bài này, ngay cả mặc dầu
những kết luận của tôi liên hệ đến những vấn đề này
sẽ thể hiện trong thảo luận về đạo đức Phật Giáo,
môi trường, tiêu thụ và sinh sản.
Vì
thuyết Duyên Khởi trong Phật Giáo, được thâm nhập cùng
khắp muôn nơi, tạo nên ý nghiả, tôi thấy sẽ không giải
quyết được gì, khi quyền cá nhân có thể mở rộng đến
mức độ mà sự hành sử về các quyền này đe doạ đến
những khuôn mẩu hỗ trợ cho cuộc sống - mà cả hai vấn
đề tiêu thụ và sinh sản đã đạt tới cực điểm. Dẩu
người ta có thể có cuả cải đến đâu đi nửa để giúp
họ có một mức độ tiêu thụ hay sinh sản vô chừng như
họ thích, thật khó lập luận rằng đây là một quyền cá
nhân được hoàn toàn sử dụng, bất chấp tới ảnh hưởng
môi trường sống. Lập luận về quyền và tự do cá nhân
có những thu hút chống lại hệ thống xã hội độc tài và
tinh thần địa phuong quá mức. Nhưng ngày nay, lập luận và
thái độ này cố tìm cách che lấp trước nhu cầu cho sự
hạn chế và tiết độ nhằm bảo vệ cộng đồng cũng như
nhân chủng.
Hơn
nửa, đặc biệt trong nhu cầu phải đối phó với những ý
thức hệ và chính sách đề cao sinh sản, chúng ta đạt tới
một điểm vượt qua luật tương đối. Trong cộng đồng nhân
loại, chúng ta đã học hỏi quá chậm trể về những đặc
điểm cuả quy luật tương đối, khi nào mà nó có thể áp
dụng được.Chúng ta cũng quá nôn nóng để lên án những
người khác quan điểm chúng ta. Thuyết tương đối coi thế
giới quan như một điều tốt đẹp, vì sự dị biệt trong
thế giới quan là một điều quý. Mặt khác, thuyết tương
đối về những tiêu chuẩn đạo đức căn bản đưa tới
những kết quả không chấp nhận được. Có phải thật sự
chúng ta muốn nói tới một nền văn hoá mà phụ nữ bị đối
xử như là một món hàng riêng hoặc là trẻ con bị bóc lột
đây chính là văn hoá đích thực của họ Nếu người ta thật
sự tin tưởng tiêu chuẩn đạo đức chỉ tương đối và
có tính cách hòa giải, thì không thể có một giải pháp nào
cho một phong trào đấu tranh nhân quyền quốc tế, Cả
hai việc tiêu thụ và sinh sản là vấn đề đạo đức ở
tầm mức cao nhất, vì những hướng dẩn các vấn đề này
có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống của tất cả mọi
nguời. Chúng ta không thể nào có thể để lâu hơn cho các
cá nhân này tin tưởng rằng họ có quyền sinh con nhiều tùy
thích, cũng như chúng ta đã không chịu được nô lệ, bóc
lột trẻ con và đối xử với phụ nữ như một trò chơi.
Một vài giá trị tôn giáo và văn hoá có truyền thống lâu
đời cũng có quan tâm đến sự chê trách này và coi cổ vu
sinh sản là một quan điểm đạo đức không thích hợp và
không thể chấp nhận trước hiện tình. Một vài tôn giáo
cần điều chỉnh lại những giáo điều của mình về sinh
sản cho phù hợp thực tại do y khoa hiện đại mang lại,
tử suất đã giảm đi đáng kể, trong khi sinh xuất thì chưa,
điều này tạo ra gia tăng nguy hiểm về dân số, khi mà tất
cả mọi người đều muốn hưởng thụ ở tiêu chuẩn cao
hơn chưa từng được biết trước đây.
Đi vào Trung
Đạo trong một thế giới hổ tương:
Giáo Lý
Phật Giáo và sự tiết chế
Một
trong những giáo lý chính của Phật Giáo liên quan đến thuyết
Duyên Khời (pratitya-samutpada trong Sanskrit và patica-samutpada trong
Pali), được xem như một trong những khám phá mà Đức Phật
đã tìm ra trong kinh nghiệm giác ngộ cuả Ngài. Giáo lý này
chuẩn bị cơ sở cho tất cả những bình luận sâu xa về
tiêu thụ và sinh sản, vì Duyên Khởi là đường lối sâu
thẩm không thể định nghiã được. Phật Giáo nhìn chúng
sinh như những thực thể có quan hệ nhau trong mạng lưới
liên kết, chớ không phải là những thực thể cô lập. Duyên
Khởi, được thâm nhập cùng khắp muôn nơi, là một phần
quan trọng trong sự hiểu biết về luật nhân quả của Phật
Giáo, luật này chi phối tất cả mọi su xãy diển trên thế
gian. Không có gì xãy ra mà tách rời hay trái lại với luật
nhân quả theo Phật Giáo, cũng không ai được phép can thiệp,
dù tùy tiện hay thần thánh, vào trong diễn trình nhân quả.
Hơn nửa, vì Phật Giáo hiểu nhân quả tương thuộc nhau, nên
những hành vi của một con người có thể gây ra hậu quả
cho toàn thể vũ trụ. Thật ra, những quyết định sinh sản
hay tiêu thụ không hẳn là một quyết định đơn thuần cá
nhân không liên quan đến thế giới rộng lớn hơn. Bất kỳ
một đứa trẻ chào đời tại một nơi nào đó trên địa
cầu đều có ảnh hưởng đến toàn thế giới hổ tương,
điều này cũng giống như việc tiêu thụ các tài nguyên. Người
ta cũng không thể lập luận rằng tiền cuả riêng tư hay mức
độ tiêu thụ thấp gây ảnh hưởng xấu đến đứa trẻ
trong mạng lưới hổ tương trong vũ trụ.Ta cũng không thể
lập luận ước muốn riêng tư dành cho con cái quan trọng hơn
là nhu cầu ta phải quan tâm đến vấn đề ảnh hư?ng cuả
đứa trẻ đó trong một vũ trụ hổ tương, vì luật nhân
quả không chừa một trường hợp riêng nào. Cũng tương tự
như vậy, sử dụng tài nguyên, dù ở bất cứ nơi nào, cũng
gây ra những ảnh hưởng trên toàn cầu. Thường thường,
tiêu thụ xa xỉ tại một nơi sẽ có ảnh hưởng đến nghèo
đói và đau khổ tại những nơi khác trên thế giới. Do đó,
khi lấy luật Duyên Khởi làm nồng cốt cho Phật Giáo, điều
này đòi hỏi sự tiết chế trong mọi hoạt động, đặc biệt
trong sinh sản và tiêu thụ, vì nó có những ảnh hưởng tại
các nơi khác trong hoàn vũ. Khi những hiểu biết của Phật
Giáo về Duyên Khởi cùng với kiến thức của khoa học dã
coi vu trữ như một chiếc thuyền cấp cứu hữu hạn, thì
điều trở nên hiển nhiên là Phật Giáo coi việc kiểm soát
sinh sản một cách thích hợp, nhân đạo và công bình như
một điều kiện đòi hỏi. Điều đó cũng rõ nét, khi Phật
Giáo xem sự sử dụng môi sinh bừa bãi qua sinh sản hay tiêu
thụ như là coi thường vũ trụ hữu hạn và hổ tương; mà
sự bất chấp này bắt nguồn từ vị kỷ cá nhân.
Viễn
tượng về mối tương thuộc trong vũ trụ phoi bày một bức
tranh to lớn về sinh sản và tiêu thụ. Viễn tượng này càng
trở nên rõ nét hơn, khi chúng ta quan sát cặn kẽ phạm vi
của con người nằm trong vũ trụ tương thuộc. Một mặt,
Phật Giáo đề cao rất mực điều may mắn khi ta được tái
sinh làm kiếp người, và một mặt khác, Phật Giáo thấy tất
cả mọi sinh vật hữu tình về cơ bản đều giống nhau ở
chổ cùng có thúc đẩy chung tìm đường thoát khổ và tu tập
an lạc. Thật vậy, sinh ra làm người là quý giá và vừa lại
được thấy sinh trong một mạng lưới vũ trụ liên hệ nhau,
mà trong đó liên đới cuả con người với nhau là cốt yếu
hơn là cả phân chia thành chủng loại khác nhau. Trong hai cụm
từ “nhân thân quý báo” và “sinh vật hữu tình” cần
được luôn đề cập chung khi thảo luận về quan điểm Phật
Giáo với vấn đề vị trí con người trong vũ trụ liên đới.
Sự quý giá của kiếp nhân sinh tuyệt nhiên không phải vì
nhân quyền đứng trên các hình thái khác của cuộc sống,
vì kiếp nhân sinh đã và có thể sẽ đổi lại thành những
hình thái khác của kiếp sống- dù phương thức tu tập của
Phật Giáo được nghĩ là nhằm đề cao cho sự tái sinh liên
tục trong kiếp người. Một mặt khác, tất cã chúng sinh được
nối kết nhau trong một thế giới theo mạng lưới rộng lớn
trong vũ trụ theo luật Duyên Khởi và Tính Không, và điều
này không có ngoại lệ. Mạng luới này là mối dây quan hệ
gắn bó và chia sẽ kinh nghiệm gần gủi cho đến độ mà
những biểu tượng cổ truyền cho là chúng sinh đôi khi là
mẹ sinh sản ra chúng ta và ngược lại. Tuy nhiên, thay vì chúng
ta có cảm tưởng rằng mình là người trên trước hay có
ưu quyền hơn mọi người khác trên đời này, điều được
luôn nhắc nhở là chúng ta nên biết, nếu chúng ta không muốn
chiụ đựng thiệt hại hay đau khổ như thế nào, thì chúng
ta cũng nên cố gắng tối đa tránh gây hại hay gây đau khổ
cho người khác như thế ấy, vì mọi người đều là những
thân thuộc của chúng ta
Như
ai cũng biết, Phật Giáo cổ truyền tin có tái sinh và cho rằng
tái sinh không luôn luôn nhất thiết là sinh làm kiếp người,
mà hoàn toàn tùy thuộc vào công đức và kiến thức từ tiền
kiếp. Trong tất cả tái sinh có thể được, thì tái sinh làm
kiếp người được coi là may mắn và thuận lợi nhất, thuận
lợi hơn cả tái sinh trong thánh điạ đầy hoan lạc. Chỉ
với niềm tin này thôi thì dường như là điều thúc đẩy
sinh sản không hạn chế. Nhưng khi chúng ta hiểu tại sao kiếp
nhân sinh lại được quá tôn sùng, điều rõ ràng nhất là
sinh sản quá mức sẽ phá hủy những điều kiện làm cho tái
sinh được đề cao như thế. Tái sinh làm người được đề
cao, hơn cả mọi sinh vật hữu tình khác, vì con người có
khả năng phát triển tâm linh, điều này có thể đưa đến
viên mãn, toàn mỹ và giác ngộ. Mặc dầu, mọi chúng sinh
đều có tiềm năng bẩm sinh nội tại cho việc thực hiện
này, nhưng thành tựu này được hổ trợ bởi một vài nguyên
nhân và điều kiện nào đó cũng như bị ngăn trở bởi các
lý do khác. Tuy nhiên, niềm vui được tái sinh làm người còn
tùy thuộc vào khả năng con người trong mức độ sáng tạo
với văn hoá và tâm linh nhằm dẫn đường đến giác ngộ,
một khả năng chỉ đạt được khi mà người ta có đầy
đủ đuợc các phuong tiện. Chỉ sinh ra làm người cho nhiều
không phải là nguyên nhân cho một niềm vui về nhân thân quý
giá, vì kiếp nhân sinh là điều kiện cần thiết, nhưng không
đủ cho tiềm năng nội tại con người tương lai thụ hưởng.
Khi con người được sống trong một môi trường thích hợp,
được nuôi dưỡng đầy đủ từ thể xác, tình cảm và tinh
thần, dó thật là điều vừa hửu ích và ngay cả cần thiết
Điều này là lý do chính tại sao mà tình trạng ít dân số
để dễ lo lắng chu đáo được ưa chuộng hơn là chịu đông
dân mà phải đang tranh đấu sống còn.
Những
điều kiện nhằm tạo cuộc sống như mơ ước và đáng sống
có thể được đúc kết từ một trong những giá trị chính
của Phật Giáo, đó là giá trị Trung Đạo. Trung Đạo được
thảo luận như một nổ lực đúng đắn, không quá nhiều,
không quá ít, không quá cứng ngắc và cũng không quá lỏng
lẻo. Sử dụng một cách thích hợp nhất cơ hội biểu hiện
“kiếp nhân sinh qúy giá”, người ta cần đi theo Trung Đạo
và tìm cách, nếu có thể được, đi theo con đường ấy.
Tránh cực đoan trong mọi vấn đề là một trong những điểm
son trong Phật Giáo, mà Đức Thích Ca học tập được trước
khi Ngài thành đạo và là một điều kiện tiên quyết cần
thiết cho sự đạt đạo. Đầu tiên, Ngài học tập được
rằng sống một đời xa xỉ là vô nghiã, nhưng Ngài cũng tìm
ra cuộc đời nghèo khó cũng sẽ chẳng đưa đi đến đâu.
Ngài kết luận để sống một kiếp người toàn vẹn, người
ta cần phải sống trọn một đời trong tiết chế, tránh mọi
thứ đam mê thái quá hay tận cùng trong đói nghèo hay tự khắc
kỷ.
Đường
lối chỉ dẩn của Trung Đạo nhấn mạnh giàu sang hay tiện
nghi quá mức có thể làm phản tác dụng về mặt tâm linh,
vì nó dể đưa đến tự mãn và hoang phí nhiều tài sản khác-
những thái độ này không giúp ích cho tâm linh. Thật vậy,
Trung Đạo đem lại những phê bình hợp lý và điều chỉnh
cho thuyết tiêu thụ quá mức đang lan tràn, mà điều này dẩn
đến thặng dư dân số.Tuy nhiên, Trung Đạo cũng tạo nên
điểm chủ yếu khi cho rằng nên có vật chất tối thiểu
và tiêu chuẩn tâm lý cần thiết cho kiếp sống có ý nghĩa.
Phật Giáo không hề lý tưởng hoá nghèo đói và khổ đau,
hay coi đây là một ưu điểm về tinh thần. Những người
sống trong tận cùng nghèo khổ hay nguy hiểm sẽ không có đủ
thì giờ hay khả năng để tự nuôi thân để từ dó tiến
tới giác ngộ, thật sự tận hưởng trọn vẹn việc tái
sinh làm kiếp người, thật quả đây là một điều không
may mắn. Phật Giáo đề cao tiết chế, nhưng không ca ngợi
nghèo đói, vì nghèo đói không thể thúc đẩy người ta đạt
được giác ngộ - hoặc cho phép người ta đủ thời giờ
thở mà làm việc ấy.
Thật
vậy, nhiều Phật Tử công nhận từ lâu rằng để áp dụng
lời Phật dạy đạt được kết quả, thì trước tiên ta
cần phải có một cơ sở vật chất và bình an tân h?n. Phật
Giáo luôn luôn công nhận người ta không thể nào thiền định
hay suy niệm trong một bao tử rổng tuếch, hoặc tạo một
môi trường cho thăng tiến và giác ngộ trong một hoàn cảnh
tụt hậu, mất mát hoặc sợ hải. Phật Tử cũng nhận ra
từ lâu thiền định được coi có thể như nhằm đưa tới
niềm vui to lớn và viên mãn cho con người, điều này chỉ
có sau khi người ta đạt đuợc một trình độ cơ bản nhất
định trong Trung Đạo.Trước đó, người ta thật sự nghĩ
rằng một khi có đủ điều kiện vật chất, người ta sẽ
không còn chịu đau khổ. Người ta phải đạt đến một mức
độ thoả mãn tối thiểu nào đó về những nhu cầu cơ bản,
trước khi bắt đầu nhận ra ham muốn và đau khổ tiếp nối
nhau là quá hảo huyền. Đến một lúc nào mà những nhu cầu
cơ bản đã thoả mãn, người ta nghiệm thấy ham muốn và
đau khổ không hề dập tắt dể dàng, thì giáo lý cơ bản
cuả Phật Giáo mới bắt đầu tạo nên ý nghiã.
Điều
này hoàn toàn phù hợp với luận điểm cuả một số người
cổ vu rằng cắt giảm dân số là có thể làm được, nếu
người ta có một mức sống thích nghi. Đó là một lập luận
tổng quát hoá rất quen thuộc hiện nay: một phương thức
hữu hiệu nhất nhằm cắt giảm dân số là cải thiện đời
sống kinh tế dân chúng; khi người ta có đủ cơ sở vật
chất thì mới có thể thấy sự vững chắc của lập luận
giới hạn sinh sản này, trong khi người đang gặp tận cùng
khó khăn sẽ không thấy điều đó. Tư tưởng Phật Giáo đề
cao sự nghiệm xét về luật nhân quả, vì toàn thể thế giới
hổ tương bị chi phối bởi luật này. Thặng dư dân số không
đột nhiên mà xảy ra, đó là kết quả cuả những nguyên
nhân, mà một trong những nguyên nhân đó là vì quá đói nghèo,
không thể nào tu tập theo Trung Đạo ở giửa xa xỉ quá độ
và tận cùng nghèo khó.
Tuy
nhiên, sinh sản quá mức sẽ dẩn đến ngăn trở tất cả
mọi nỗ lực giãm bớt đói nghèo, điều này rõ ràng là vì
điạ cầu chỉ có tài nguyên giới hạn. Chúng ta cần nhận
ra có quan hệ giữa tiêu thụ quá mức, thặng dư dân số và
nghèo khó. Nếu một trong những yếu tố chủ yếu này bị
bỏ sót, thì cung giống nhu khi những hệ thống tôn giáo và
văn hoá lại không đề ra một đường hướng nào để giới
hạn sinh sản; vũ trụ liên đới sẽ bị căng thẳng cực
độ. Một lần nửa, điều quan trọng cần nhận ra là tất
cả mọi tôn giáo và hầu hết các nền văn hoá đều có những
hướng dẩn đạo đức nhắm giới hạn tiêu thụ. Thực ra,
những giáo điều này có đề ra, nhưng thường không được
áp dụng. Tuy nhiên, có vài tôn giáo đề cao giới hạn sinh
sản. Phần lớn các tôn giáo khuyến khích hay đòi hỏi tín
đồ của mình nên sinh sản, mà không hề đưa ra những hướng
dẫn về giới hạn hay không có công nhận nào về thặng dư
dân số. Dầu sao, những giáo điều có thể được dẩn chứng
nhằm đề ra những lập luận để giớí hạn sinh sản, đây
là điểm quan trọng đáng phê bình.
Dù
theo đuổi phương thức nào, thì thuyết Duyên Khởi, khi kết
hợp với lời khuyên nên tu tập theo Trung Đạo, hiển nhiên
đem đến cho ta một sự diù dắt. Khi tổng hợp các ý niệm
về Duyên Khởi cùng với giá trị về kiếp nhân sinh trong
một hoàn cảnh sống thích hợp và giáo lý Trung Đạo, tất
cã sẽ cho ta một sự hướng dẩn rõ ràng về sinh sản và
tiêu thụ. Nhìn vấn đề tiêu thụ, ta thấy đáng đề ra khi
lời kêu gọi của Trung Đạo chỉ ra hai đường hướng. Hiển
nhiên tiêu thụ quá mức là sai phạm giáo lý Trung Đạo. Nhưng
như thế là phủ nhận quá đáng. Lời khuyên áp dụng Trung
Đạo không khuyên thắt lưng buộc bụng hay nhường chổ cho
người khác, vì quyền sinh sản là bất khả xâm phạm. Nhung
ta nên giới hạn sinh sản và tiêu thụ, vì cả hai có quan
hệ nhau, nhờ như thế sẽ tạo một lối sống có thể dẫn
tới giác ngộ cho mọi người. Thật vậy, khi sinh sản quá
nhiều trên quả đất nhằm duy trì giống nòi, và đối với
những cộng đồng phải tìm cách nuôi dưỡng cho thích nghi
về mặt thể chất hay tinh thần, đây chính là điều tương
phản với Trung Đạo. Sinh sản không nên vượt qua khỏi khả
năng của gia đình, cộng đồng hay trái đất, nhằm tạo nên
một cuộc sống phù hợp trong phạm vi Trung Đạo cho tất cả
mọi người, dó là diểm chủ yếu.
Chỉ
đơn thuần cung cấp một chổ tạm trú là không dễ, và lập
luận cho rằng trái đất còn chỗ cho nhiều người nửa là
không thuyết phục, bởi vì phẩm chất của cuộc sống quan
trọng hơn là chỉ thuần gia tăng nhân số. Ngoài việc dinh
dưởng sao cho thích hợp một cách tối thiểu, môi trường
sống cần phải đầy đủ, nhằm tránh cảnh chen chúc quá
mức, điều đó đưa tới gây hấn và bạo lực, đó là việc
quan trọng. Những tài sản sẳn có về kỷ thuật, văn hoá
và tâm linh làm cho đời sống con người thực sự nhân bản
hơn, đó chính là chủ yếu. Tuy nhiên, dù nhìn trên khía cạnh
toàn cầu, cộng đồng địa phương hay cá nhân, điểm mấu
chốt phải giới hạn sinh sản là để trẻ con sinh ra được
chăm sóc chu đáo về mặt vật chất cũng như tinh thần. Nếu
không làm như vậy, thì chỉ là sự bất chấp niềm an lạc
tâm linh cho những ai được sinh ra làm kiếp con người. Không
phải đói nghèo mà cũng không vì kiệt quệ tinh thần
do việc nuôi dưỡng quá nhiều con là hữu ích cho bất cứ
ai- ít nhất là những trẻ do sự sinh sản vô giới hạn. Trong
Phật giáo, sự kiện chính yếu này vượt qua khỏi mọi mơ
uớc riêng tư (muốn có con tùy thích) hoặc là quy luật hay
áp lực nhằm cổ vũ sinh sản theo xã hội hay tôn giáo.
Những
đường hướng này gây cho tôi một ấn tượng như một kim
chỉ nam hoàn hảo để giải quyết vấn để áp lực dân số
và sử dụng tài nguyên. Dầu thế, điều rõ rệt là người
có hiểu biết và thiện tâm có thể đồng ý các đường
hướng trên lý thuyết, nhưng không đồng ý trên cách thực
hành. Hiển nhiên, Trung Đạo không có nghiã là tiêu thụ không
ý thức của thế giới thứ nhất, nhưng cũng không có nghĩa
là cổ vũ sinh sản một cách không cân nhắc về thế giới
còn lại, kể cả cuả thế giới thứ nhất. Theo quan điểm
cuả tôi, điều này bao gồm vài cơ sở kỷ thuật thực sự
làm tăng gia phẩm chất của cuộc sống- vườn hoa, thú tiêu
khiển, máy vi tính, dàn máy nghe nhạc với âm thanh nổi, du
lịch quốc tế, điện tử, tủ lạnh, sự đa dạng văn hoá
và giáo dục nhân bản- những thứ ấy không thể nào đáp
ứng trong tình trạng dân số vô giới hạn mà không có suy
thoái tột độ về môi trường. Vì có nhiều thứ trong cuộc
đời cần phải từ bỏ và thỏa mản nhiều hơn là sinh
sản, thì thật là lố bịch khi ta phải từ bỏ những di sản
văn hoá vừa kể để có nhiều dân số hơn mà thiếu van hoá.
Lưu truyền
“Chủng Tử Giác Ngộ”: con đường Bổ Đề Tâm theo Đại
Thừa và các động lực thúc đẩy sinh sản
Vài
tôn giáo, kể cả các truyền thống chính tại Á Châu, mà
Phật giáo cùng chung sống, đều răn dạy nối dỏi tông đường
là một bổn phận tôn giáo. Đối với Phật Tử, việc có
con không phải là một đòi hỏi tôn giáo chút nào.Theo quan
điểm Phật Giáo, người ta không cần phải sinh con để hoàn
thành một điều cao cả trong mạng lưới hổ tương cuả các
sinh vật hữu tình hoặc là thực hiện được những điều
đáng ca ngợi trong cuộc sống. Mặc dầu qua các lập luận
bảo thủ, thật ra, đề cao độc thân tốt hơn là lối sống
có gia đình, không có con tốt hơn là sinh con, phần lớn truyền
thống Phật Giáo đề nghị sinh sản có thể gây trở ngại
cho việc giúp đở thế giới hay là thực hiện những tiềm
năng cao nhất của con người. Bởi vì cũng giống như những
con người khác, điều quan trọng và thích thú cho Phật Tử
là khi khám phá ra cái gì tạo cảm hứng cho họ giử gìn những
lý tưởng tôn giáo mà không cần sinh sản và cũng tìm
hiểu các cuộc thảo luận của Phật Tử xem cách sinh sản
nào thích hợp.
Lời
khuyên sinh con để nối dỏi ảnh hưởng khá mạnh trong một
vài truyền thống và tác động thêm thái độ của giới khuyến
khích sinh sản. Lời khuyên này luôn bao gồm cả những lý
thuyết và thực hành, kể cả chê trách là bất hiếu và sai
phạm nặng nề bổn phận đạo đức, khi người ta không có
con trai, vì mọi người phải lập gia đình và sinh con và phụ
nữ có ít hoặc là không có quyền chọn lựa nào hoặc theo
một thiên hướng nào ngoài việc sinh con. Những truyền thống
này lập luận rằng người ta phải sinh con để hoàn thành
một nhiệm vụ một cách hiếm quý; nếu được, còn bao gồm
những mệnh lệnh không nên sinh sản quá mức; điều này có
thể mang đến một vài thái độ được ưa chuộng hơn, do
từ những hình thái cực đoan đến biến dạng cuả Trung Đạo.Thật
vậy, những truyền thống này làm nản lòng những nổ lực
giới hạn sinh sản và làm cho những người muốn theo đuổi
công việc này có cảm tưởng không đáng công nếu họ giới
hạn sinh sản, kể cả người đã có con kế tự rồi. Phật
Giáo coi việc quan tâm đến thừa tự như là một mở rộng
lòng ích kỷ, việc coi mình là trung tâm gây ra đau khổ, nên
không hề buộc tín đồ mình nên làm như thế. Phật Giáo
đã là mục tiêu của nhiều sự chỉ trích từ những tôn
giáo khác ở Á Châu, vì không đòi hỏi tín đồ phải sinh
con.
Phật
Tử bị coi là ích kỷ, vì không nhất thiết phải sinh con;
sự chỉ trích này tại Á châu gây cho họ những cảm tưởng
khó chiụ. Phật Tử có hai cách trả lời. Thứ nhất, cách
đóng góp quý giá nhất trong mạng lưới liên đới thuộc
thế giới hữu tình không hoàn toàn tùy thuộc vào sinh sản.
Hơn nửa, sinh sản thường bị thúc đẩy bởi động lực
ích kỷ cá nhân. Ta hãy thử nghiệm xét hai lập luận này
kỷ lưởng hơn, vì tôi nghĩ rằng cả hai là quan trọng trong
việc đương đầu lối đạo đức một chiều của phái đề
cao sinh sản.
Những
kết luận này về sinh sản không hẳn là những giới hạn
tiêu cực do những người không thiếu thiện chí dua ra. Đúng
hơn, trong quan điểm Phật Giáo, những kết luận này bắt
nguồn từ những kiến thức sâu xa của người biết mình
trong tận cùng muốn gì và cái gì thỏa mãn những ước mơ
thầm kín cuả mình. Phật Tử có thể nói rằng trong việc
theo đuổi cùng lúc vừa tri thức và vừa từ bi, để đạt
tới giác ngộ và ngay cả vượt qua nó, đó chính là điều
làm thoả mãn những mơ ước sâu xa nhất của chúng ta, vì
nó nói lên nhân tính cốt yếu của chúng ta. Trái với suy
nghĩ khá phổ cập, cả Á Châu và Tây Phương, Phật Tử không
sống theo một lối sống cho tiết chế, thiền định và suy
ni?m chỉ nhằm những mục tiêu tự kỷ để tránh mọi khổ
đau. Phật Tử không từ bỏ nối dỏi tông đường như một
giá trị tối hậu, thay vào dó để tìm kiếm viên mãn cho
riêng mình. Phật Tử cho là ta không bao giờ đạt được
viên mãn qua sinh sản, hoặc quan trọng hơn, qua sản xuất kinh
tế và tiêu thụ; còn việc những theo đuổi này có thể phổ
cập hay không hoặc là những truyền thống xã hội hay tôn
giáo có đòi hỏi họ quá cứng rắn hay không là điều không
quan trọng.Thay vào đó, chúng ta cần thực hiện tìềm năng
tinh thần của chúng ta. Tìm kiếm mục tiêu của cuộc sống
qua tiêu thụ hay sinh sản chỉ khuyến khích điều mà Phật
Tử gọi là ái ngã, một khuynh hướng có cội rể sâu xa trong
con người, chỉ coi mình là chủ yếu, mà cuối cùng chỉ gây
khổ đau cho chúng ta.
Đúng
hơn, Phật Tử nhìn vấn đề nối dỏi là bình thường so
với vun bồi và lưu truyền di sản chung của nhân loại và
cung nhu quyền sinh sản so v?i sự tĩnh lặng và niềm vui giác
ngộ. Thay vì tìm kiếm tự lưu truyền nòi giống qua sinh sản,
Phật Tử nổ lực khơi động Bồ Đề Tâm, một hơi ấm quan
trọng và lòng từ bi vốn có sẳn trong mọi chúng sinh. Theo
cách nói đầy những ẩn dụ của Phật Giáo cổ truyền, chúng
ta đã cưu mang Phật Tính (tathagata-garbha= Như Lai Mẩu). Chúng
ta nguyện phát triển Bồ Đề Tâm với lòng từ bi nhằm theo
đuổi buông xả toàn diện. Thay vì nhìn vấn đề chọn lựa
này như một mất mát cá nhân, thì hãy xem đây như một tìm
thấy bản sắc và mục đích cuả riêng mình đầy vui thú
trong khi lạc lối lang thang và tìm kiếm di truyền không định
hướng. “Hôm nay cuộc sống của tôi trở nên có giá trị”
được đọc trong những nghi thức cầu nguyện tuân giử Bồ
Đề Tâm, lời nguyện quan trọng trong Phật Giáo Đại Thừa.
Làm theo lời nguyện này người ta được ca ngợi là đã đi
vào trong con đường thuộc về gia đình và giòng dỏi của
giác ngộ
Bồ
Đề Tâm được coi như thừa kế chính và là tiềm năng cuả
mọi sinh vật hữu tình, kể cả con người, thì việc đánh
thức và nuôi dưởng Bồ Đề Tâm trong từng cá thể cũng
như khuyến khích phát triển nó trong mọi chúng sinh là điều
nuôi dưỡng liên tục truyền thống gia đình với tất cả
những ý nghĩa sâu xa của nó; một ý nghĩa vượt qua mọi
giới hạn chật hẹp của nòi giống gia đình, bộ lạc, đất
nước hay chủng tộc.Qua phương cách diển dịch hiện đại
thuật ngữ Bồ Đề Tâm cho thấy những giá trị này nuôi
dưởng sự trường tồn những đặc điểm cao quý nhất của
chúng ta: Bồ Đề Tâm luôn được dịch là “Tâm Thân tỉnh
thức”, sư phụ tôi đôi khi dịch là “Chủng Tử Giác Ngộ”,
một cách dịch nhằm nhấn mạnh đến Bồ Để Tâm như một
trong những đường nét cố hửu căn cơ nhất trong con người
và là một di sản cho mọi sinh vật hữu tình. Ai có thể lo
âu nữa về di truyền nòi giống gia đình khi người ta có
thể đánh thức, nuôi dưởng và lưu truyền các chủng tử
giác ngộ?
Ngược
lại, những động lực thúc đẩy sinh sản thường hoàn toàn
chật hẹp và thiếu sáng suốt. Một vài truyền thống tôn
giáo đã phê bình tiêu thụ vật chất như phản tác dụng
tâm linh: Vài truyền thống khác lại cho sinh sản chỉ nhắm
lòng ích kỷ và cuối cùng thì không toại nguyện; hoặc sinh
sản quá mức sẽ tạo nên cùng túng về tinh thần hay tâm
lý cũng giống như tiêu thụ quá mức.Tuy nhiên, Phật Giáo
chỉ rõ rằng sinh sản được thúc đẩy từ những động
lực vị kỷ, đặc biệt do những mơ uớc di truyền nòi giống
và bành trướng tộc họ. Và mơ ước vị kỷ luôn tạo nên
đau khổ, đó là điều theo giáo lý cơ bản nhất của Phật
Giáo. Biểu lộ chổ yếu về sự đa cảm của mình và thèm
muốn được sinh sôi nẩy nở, rồi đặt tên cho nó một cách
chính xác hay dẹp bỏ những lý tưởng hóa sai lạc về sinh
sản quá mức là một điều quá trể. Lý tưởng hoá này thuộc
về quan điểm cổ vu sinh sản, nó thúc đẩy nhiều người
chấp nhận sinh sản mà trách nhiệm làm cha mẹ không hẳn
là một đường hướng quan trọng. Cho rằng sinh sản đều
có lợi luôn luôn là một ảo tưởng, kể cả ngay trong thời
kỳ mà mật độ dân số ổn định và không hại đến môi
sinh; tiếp tục thúc đẩy hay đòi hỏi mọi người sinh sản
để di truyền nòi giống trong hoàn cảnh hiện nay là vô trách
nhiệm.
Thường
thì các bậc cha mẹ dược thúc đẩy bởi mơ uớc duy trì
nòi giống, nên cố sao sinh con mình như một bản sao chép lại
hình ảnh cuả mình, hơn là sinh con và cho phép nó tự tìm
ra một lối sống cá nhân độc đáo trong cuộc đời. Niềm
đau khổ bắt nguồn từ những động lực thúc đẩy sinh sản
như vậy thường không được để ý và kéo dài qua nhiều
thế hệ. Khi người nào đó được cha mẹ dạy nên có con
để thay thế cha mẹ và bắt con theo những giá trị và lối
sống của mình, đó là điều mà tôi không làm được. Tôi
đã quá quen thuộc vớí những cơn thịnh nộ của cha mẹ
giáng xuống cho con cái khi nhận ra rằng con cái không còn ràng
buộc và làm tròn điều mình đặt ra. Kinh sách Phật Giáo
viết quá nhiều về đề tài này. Thông thường, hiếm muộn
là cảm xúc nung nấu làm cho người ta ham muốn sinh con.Thật
ra, tâm trạng của một số người muốn sinh con hoàn toàn
xa rời sự tĩnh lặng được Phật Giáo đề cao.Tôi hoàn toàn
nghi ngờ đối về sự quân bình tâm lý và trong sạch trong
những động lực cuả một số người, khi mà họ cần và
mong muốn có con. Theo kinh nghiệm của tôi, hầu hết giới
trẻ có học ở thành phố nghĩ rằng kiểm soát sinh sản là
vấn đề sinh tử - cả đối với một vài thành phần khác
trong dân chúng - nhưng những động lực của họ cho sinh sản
càng nhiều càng tốt là điều không thể nào kiềm chế được.
Mức chống đối và ngăn ngừa đã nảy ra ý kiến là có lẽ
họ bị thúc đẩy bởi mơ ước di truyền nòi giống hơn thay
vì tu tập Bồ Đề Tâm, điều này thuyết phục tôi rằng
những nghi ngờ của tôi là đúng.Tôi càng đào sâu mối nghi
ngờ của mình hơn nửa, khi những người này chịu bỏ ra
chi phí tốn kém và chịu dau để được sinh con, thay vì nhận
một đứa con nuôi trong những đứa trẻ hiện nay dang cần
được nuôi dưởng trên thế giớí. Cuối cùng, một số người
đã sinh con và cũng không hề có những quyết định riêng
mình về việc này mà chỉ do những áp lực từ tôn giáo,
gia đình hay bộ lạc đè nặng. Thay vào đó, họ bị thúc
đẩy bởi những vị kỷ tập thể, mà hoàn toàn không khác
gì với vị kỷ cá nhân. Giống như mọi hình thức của vị
kỷ, vị kỷ tập thể cũng gây ra đau khổ.
Khi
kêu gọi công nhận việc thúc đẩy sinh sản là không thuyết
phụ, điều này cũng hàm chứa lời đề cao và công nhận
giá trị một lối sống không sinh sản, gồm cả lối sống
luyến ái của người đồng tính và khác tính. Một trong
những vũ khí tâm lý mạnh nhất cuả phe cổ vu sinh sản là
không khoan dung cho sự dị biệt trong các lối sống và dèm
pha những ngưòi có lối sống không giống ai. Những người
dù không có con cũng cần được đề cao, khi họ có đóng
góp to lớn vào sự lưu truyền cho những tiếp nối tinh thần
giác ngộ, thay vì khai trừ và chỉ trích. Là một phụ nữ
luôn hiểu rộng để đóng góp những tài năng của tôi trong
sinh vật hữu tình, tôi có lẽ không cần phải có con. Tôi
đã quen với thành kiến nhằm chống lại những người đàn
bà không muốn con do chính họ tự chọn lựa. Khởi đầu là
sự cào nhào từ bố mẹ đẻ hay bố mẹ chồng khi cho rằng
họ mong muốn biết bao việc có cháu để nối dỏi và cảm
tưởng xấu hổ khi không có.Tiếp đến là những phản ứng
liên tục cho rằng con cái lơ là không theo đuổi ý định
có con, và cuối cùng tiếc nuối cho là chỉ vì lòng vị kỷ.
Rồi thì sự cô đơn, cảm giác bị ruồng bỏ bắt nguồn
từ bạn bè, vì quá bận rộn với đời sống gia đình riêng
tư. Và cuối cùng, đặc biệt nhất là hầu hết những người
đàn ông trung niên ích kỷ, bê tha, mà mục tiêu của họ trong
mối giao tiếp là lập một gia đình thứ hai với những người
đàn bà trẻ, lối sống này được một số người chấp
nhận. Thuyết cổ vũ sinh sản theo phụ hệ có khuynh hướng
xâu xa dễ đưa tới những định kiến như thế.
Dĩ
nhiên, không cần phải nói, sinh sản có thể nằm trong một
chương trình thích hợp với việc tu tập của Phật Tử và
nhiều tư tưởng tranh đấu cho phụ nử cuả Phật Tử hiện
đaị đang khám phá ra những đặc điểm trong việc sinh sản
như là vấn đề trong tu tập của Phật Tử. Theo quan điểm
của tôi, sinh sản là một chọn lựa đầy giá trị của Phật
Tử và là một lối sống chấp nhận được; nó được thúc
đẩy bởi những giáo lý Phật Giáo nhu vị tha, buông xả,
từ bi và Bồ Đề Tâm, không phải bởi những đòi hỏi của
xã hội và tôn giáo, những quy ước hay những phong tục tập
quán, những mơ ước bị ép buộc, những ngăn trở sinh lý
hay là những ước mơ vị kỷ di truyền nòi giống.Tôi tin
tưởng rằng bậc làm cha mẹ luôn có sẳn những động lực
thúc đẩy buông xã và từ bi, mặc dầu không phải bất cứ
ở đâu, các bậc cha mẹ nào cũng đều giống nhau.Trong công
việc của tôi là một nhà khoa học tôn giáo và Phật Tử
tranh đấu nữ quyền, tôi luôn nhấn mạnh đến nhu cầu giới
hạn sinh sản và sản xuất kinh tế, cũng như quan tâm đến
sự chia sẽ trách nhiệm một cách công bình giửa nam và nữ
giới để các cu si có thể tu tu tập được.
Phật
tử đề cao và khích lệ một lối sống buông xả, theo Trung
Đạo, có tri thức, từ bi và phát triển Bồ Đề Tâm. Tuy
nhiên, trong một vài quốc gia Phật Giáo, lối sống tu độc
thân trong các tu viện đuợc ưa chuộng hơn khác lối sống
khác. Mặc dầu các sử sách của Phật Giáo không ghi đầy
đủ không phải trong tất cả, mà trong một vài xã hội Phật
Giáo, sự chọn lựa lối tu (trong tu viện) này rất thích hợp
với nữ giới, khi họ không còn coi việc sinh con như là làm
tròn bổn phận nửa, trong khi nam giới lại luôn coi việc nối
giõi mang bầu là điều toại nguyện. Trong thế giới Phật
Giáo hiện đại, lối sống tu trọn đời nơi tu viện ít phổ
biến và ít bền bỉ, nhưng phong trào tu thiền cuả các cư
sĩ Phật Giáo hiện đang lan rộng mạnh mẻ, không phải chỉ
trong Phật Tử Tây Phương mà ngay tại Á Châu, không phải
chỉ nam mà cả nử cư sĩ.Tu tập thiền định nghiêm chỉnh
rất là khó khăn và mất nhiều thì giờ. Khi các cư sĩ dấn
thân vào đường tu tập, họ phải giới hạn mọi hoạt động
khác vừa kinh tế và sản xuất sao cho thích hợp. Cả hai việc
tiêu thụ quá mức và thặng dư dân số, hai thành tố tác
hại đang lan tràn trên thế giới có thể được kiềm chế
lại cùng lúc, khi ta nhận chân ra giá trị của tiềm năng
con người hướng về thức giác, từ bi và nổ lực thực
hiện.
Tri
thức gíác ngộ giúp ta nhận ra sự tương thuộc của chúng
sinh và vượt qua ảo tưởng về sự chọn lựa cá nhân mà
cho rằng không ảnh hưởng gì đến phần còn lại trong mê
trận của cuộc đời. Từ bi giác ngộ giúp ta yêu thương
chúng sinh, mà không hẳn là những người trong gia đình, bộ
lạc, đất nước hay nòi giống, mà chính vì họ đáng được
chăm sóc và quan tâm. Phần lớn nổi khổ đau trong thế giới
sẽ giảm đi đáng kể nếu phuong cách buông xả theo Trung
Đạo được phổ biến sâu rộng, nó giúp cho con người hiểu
phải làm gì về tiêu thụ và sinh sản. Theo quan điểm nhà
Phật về Bồ Đề Tâm, chủng tử giác ngộ do kế thừa hoặc
di truyền từ sinh vật hữu tình, không thể bị huỷ diệt,
giúp cho cuộc đời có ý nghĩa viên mãn khi nó phát triển
từ bi và trở nên hữu ích, - không phải vì di truyền trong
ích kỷ, đù đó là ích kỷ cá nhân hay là di truyền gia đinh,
bộ lạc hay đất nước.Trong trường hợp này, điều không
hiểu được là tại sao lòng từ bi không được coi như là
một cái gì đó mà người ta có bổn phận phát huy, nhung đúng
hơn, được coi như sự kế thừa, mà sẽ khám phá điều này
làm cho cuộc đời có giá trị và vui thú hơn. Cổ vũ sinh
sản khi được coi như một bổn phận tôn giáo hay một nghiã
vụ có thể không liên hệ gì đến với việc một tín đồ
lo luu truyền giác ngộ. Bỏ di định kiến cổ vũ sinh sản
và đề cao những đóng góp cho lưu truyền giác ngộ, không
phải chỉ vì di truyền thừa tự, con người có thể làm và
ung dung để trở thành bậc cha mẹ, hay có thể sinh con một
cách tự do, thoát rời mọi động lực chỉ bắt nguồn từ
những ràng buộc, bổn phận hay truyền tự trong ích kỷ. Còn
những người nào làm khác hon, có những đóng góp khác quan
trọng hon trong thế giới sinh vật hữu tình, thì cũng cần
được vinh danh tương tự như vậy.
Tình dục và
Cảm thông: Vài Bình Luận Của Kim Cang Thừa
Kết
hợp với việc phê bình của những người giới hạn hay từ
bỏ sinh sản, thì giáo điều nối dõi tông đường chỉ là
một trong nguồn quan trọng dựa trên tôn giáo của phong trào
cổ vũ sinh sản. Những nguồn lập luận dựa trên các cơ
sở khác thì ít nhất cũng tiềm tàng. Lập luận tôn giáo
chống tình dục thì quá quen thuộc trong tôn giáo, kể cả
trong giới cư sĩ Phật Giáo. Những sinh hoạt tình dục thường
bị chê trách là một cái gì đó có vấn đề, xấu xa hoặc
làm tổn hại tâm linh con người. Những xấu xa, sợ hải hay
ngờ vực xoay quanh hoạt động và kinh nghiệm tình dục, tạo
nên những lập luận hay quy luật tôn giáo, đưa tới những
biểu thức hay nối kết biểu tượng, mà tất cả đều nhằm
cổ vu sinh sản, và trong đó có một vài tác dụng tiêu cực
khác. Coi những kinh nghiệm tình dục như là một kết quả
cần cấm đoán thì sẽ không thể nào phát triển tình dục
trong ý thức và trách nhiệm.
Điểm
đầu tiên của những biểu thức quan trọng này phát sinh từ
sự sợ hải chuyện tình dục, khi cho là có sự đồng nhất
giửa tình dục và sinh sản. Trong một vài tôn gíáo niềm
tin này quá mạnh. Một vài tôn giáo tán thành quan điểm ghi
nhận mục đích chủ yếu, nếu không nói là giá trị duy nhất,
cuả tình dục là sinh sản. Hoạt động tình dục mà không
nhắm tới sinh sản chỉ đưa tới những bại hoại đạo đức
hay tinh thần cho những ai đam mê tình dục.Tuy nhiên, những
liên hệ tiềm tàng giửa sinh hoạt tình dục và sinh sản không
đặt thành vấn đề và không nên tìm hiểu hoặc che lấp.
Thủ dâm hay luyến ái với người cùng giới hoặc khác giới
tính để không lo chuyện có con không được khuyến khích
hoặc lên án.Tuy nhiên, hậu quả cuả những quan điểm này
thường là lập luận hổ trợ giới cổ vu sinh sản. Khuyến
khích người ta nghĩ xấu về tình dục dường như không ngăn
trở được những hoạt động tình dục một cách đáng kể.
Nhưng vì người ta được học tập là luôn có mối quan hệ
giữa tính dục và sinh sản, hoặc vì người ta bị cấm đoán
tiến thêm một bước để tách biệt hai vấn đề này ra,
những quan hệ tình dục đưa đến sinh suất cao độ, sẽ
tạo nên một tình trạng gia tăng dân số quá mức, trong khi
tình trạng tử suất lại xuống thấp.
Phá
vở biểu thức đạo đức giữa tình dục và sinh sản là
một công việc cốt yếu nhất; cho đến chừng nào mà chuyện
quan hệ tình dục không sinh sản gây nản lòng hay bị kết
án, thì tỷ lệ sinh suất còn tiếp tục lên cao. Biểu thức
này dể bị phá vở khi ta tự hỏi vấn đề nền tảng đâu
là chức năng chủ yếu của tình dục trong xã hội con người.
Điều này rất rỏ, khi ta so sánh thái độ tình dục của
con người với hầu hết các thú vật. Nhiệm vụ chủ yếu
của tình dục trong xã hội con người là cảm thông và gắn
bó. Không giống như chủng loài khác, hoạt động tình dục
giửa con người với nhau có thể và thừơng xãy ra, kể cả
khi không có thai nghén, dù là họ muốn, khi phụ nữ không
có khả năng thụ thai. Những kinh nghiệm tình dục không sinh
sản rất quan trọng trong sự gắn bó và cảm thông giữa những
cặp vợ chồng và cho xã hội con người. Thêm vào đó, tình
dục, khi đã được hiểu biết và kinh qua, là một trong những
phương thức mạnh nhất trong cảm thông của con người. Thật
vậy, sinh sản ít quan trọng hơn và thường ít là kết quả
của hoạt động tình dục hiểu theo nghia cảm thông. Như vậy,
khi đề ra quy luật quan hệ tình dục phải đưa tới tiềm
năng sinh sản, nếu không hoạt động tình dục dẩn đến
vẩn đục đạo đức hay tâm linh, thì thật là điều không
thích hợp. Thay vào đó, tình dục với ý thức và biết sơ
đẳng mọi phương thức kiểm soát sinh sản phải được coi
là tình dục có đạo đức; hoặc là ngườ ta chỉ có
ý định mang thai trong trách nhiệm và có điều kiện thích
hợp; cã hai cần được các tôn giáo khích lệ.
Quan
điểm cho rằng tình dục phãi đưa tới việc sinh con gắn
liền đến những biểu thức khác mà trong cách hàm ý này
cũng coi nhu là một hình thức khác của cổ vũ sinh sản. Khi
tình dục không thể tách rời ra khỏi sinh sản, và khi người
đàn bà không có bản sắc giá trị và được đề cao hay
một vai trò văn hoá nào khác hơn là làm mẹ, thì hầu hết
những người đàn bà đều muốn được làm mẹ. Thật vậy,
bản sắc tiêu biểu và quen thuộc giửa phụ nữ và thân phận
làm mẹ được công nhận là như vậy. Cách đây vài nam thôi,
mọi người đều cho rằng tính cách thần thánh của người
mẹ hẳn nhiên là làm cho ngưòi mẹ là Thánh Nử. Tôi nhớ
rõ thái độ này khá lan rộng khi tôi bắt đầu học cao học
về lịch sử các tôn giáo. Tuy nhiên, giả định tất cả
mọi bà mẹ là thần thánh chứng tỏ cho thấy là ngây thơ
và có gắn liền với văn hóa. Khi tìm hiểu huyền thoại và
biểu tượng về người mẹ thần thánh, nhất là thoát ra
khỏi những tiêu biểu đặc trưng văn hoá về mục đích của
phụ nữ, người ta khám phá tính cách thần thánh của phụ
nữ có nhiều yếu tố khác đóng góp thêm vào cho trong đó,
thay vì chính là người mẹ. Người mẹ là người bạn đời,
người bảo vệ, người thầy, người hướng dẩn văn hoá,
các loại nghệ thuật, bảo trợ tiền của... Những liên hệ
của họ về các hoạt động văn hoá khác tùy thuộc vào bản
chất thì cũng không phải nằm trong huyền thoại. Trong huyền
thoại người ta bắt gặp một vài phụ nử thần thánh có
sinh hoạt tình dục, nhưng không là những người mẹ hoặc
là chuyên sinh sản không được đề cập. Hiển nhiên, những
biểu tượng tôn giáo và huyền thoại về những phụ nữ
có quan hệ tình dục mà không có con không hổ trợ cho cổ
vu sinh sản. Tuy nhiên, chú ý về cứu cánh là tất yếu. Cần
phải cực kỳ thận trọng trong việc tái tạo tượng trưng
thân ph?n làm m? trong Ỷ nghia tranh đấu cho nữ quyền hiện
đại, vì e rằng nhiều biểu tượng lại cũng cố thêm những
đặc trưng cho là nguời đàn bà luôn là người mẹ, hiểu
theo nghĩa đen.
Biểu
thức thứ ba quan hệ đến sự nuôi nấng trong người me ,
một đặc trưng quá quen thuộc trong tôn giáo cổ truyền, văn
hoá dân gian và tâm lý học. Hậu quả tiêu cực và giới hạn
cuả biểu thức này rất đa dạng, không phải vì ít nhất
nó là đường lối mà biểu thức này giử vai trò trong chương
trình hành động của giới cổ vu sinh sàn. Nếu nuôi dưỡng
được định nghĩa một cách hạn hẹp, thì người nào muốn
nuôi duởng sẽ thấy là không có cách nào khác hơn là chon
lựa con đường làm bậc cha mẹ. Phương thức giửa nuôi dưởng
con và làm cha mẹ hổ trợ cho định kiến chống lại giới
không con đã được thảo luận, bởi vì thật dể dàng cáo
buộc rằng họ là ích kỷ và không nuôi nấng. Tuy nhiên, điều
hàm chứa quan trọng nhất trong phương thức này là sự hiểu
biết giới hạn về nuôi dưởng. Nếu nuôi dưởng quan hệ
chặt chẻ với điều kiện làm mẹ, thì các sự chăm sóc
khác đều không được coi là nuôi dạy và cũng không còn
khích lệ nửa, đặc biệt là ở những bậc nam giới. Giả
đoán rằng dạy dỗ là một công việc chuyên môn hay một
độc quyền và trọng trách cuả bà mẹ, đây là một di sản
nguy hiểm nhất của những đặc trưng theo chế độ phụ hệ.
Vì sức mạnh của khuôn mẩu này, người ta thường cho rằng
khi các bà theo các phong trào tranh đấu nữ quyền không muốn
lệ thuộc khuôn mẩu phụ hệ, cũng sẽ không nuôi dưỡng
con cái. Nhưng hiển nhiên, những phê phán về các bà theo phong
trào này không hẳn là chỉ trích vấn đề dạy dỗ thôi.
Đó là một phê phán về những cung cách mà nam giới được
miễn cho việc dạy dổ, mà chỉ giới hạn công việc cham
sóc cho nữ giới, và rồi giam hảm họ trong ngục tù với
vai trò trong khuôn mẩu phụ hệ. Tranh đấu cho nữ quyền không
hẳn chỉ là giới hạn dạy dỗ hay ngay cả làm cản trở
cho công việc ấy, nhưng là phải công nhận tính đa dạng
của mọi hình thái nuôi dưởng và kỳ vọng rộng điều ấy
được mọi người trong xã hội chấp nhận. Vì cham sóc là
quý báo và thiết yếu cho sinh tồn con người, điều chỉ
trích là những tư tưởng của chúng ta về những gì có nghiã
là nuôi nấng phải vượt qua hình ảnh của nguòi làm mẹ,
mà hướng tới những hoạt động khác như dạy dổ, chửa
trị, chăm sóc môi trường, dấn thân vào những hoạt động
xã hội.Tất cả con người, kể cả nam giới, đều được
định nghiã là những người trực tiếp và hướng dẩn những
kỷ thuật nuôi dưởng, hơn là giao khoán công việc này cho
các bà mẹ, đây cũng là điều quan trọng không kém.
Vì
một vài nguồn gốc của sự sợ hải, nghi ngờ và tội lổi
về tình dục dựa trên trong tôn giáo, một loại gải pháp
theo tôn giáo, mà đúng hơn là cần có một giải pháp thế
tục và tâm lý. Quan điểm tình dục phải có ý nghiã đối
vớí việc thảo luận về đạo đức tôn giáo, dân số, tiêu
thụ và môi trường. Đánh giá tình dục theo tôn giáo như
một biểu tượng thiêng liêng và kinh nghiệm này sẽ giúp
nhiều hơn là gây tổn hại đến phát triển tâm linh, điều
này cần nên đưa vào trong những nhận xét liên quan trong diễn
đàn này. Kim Cang Thừa Phật Giáo, một hình thái cuối cùng
cuả Phật Giáo Ấn Độ được phát triển, mà ngày nay rất
quan trọng tại Tây Tạng và càng trở nên có ý nghiã tại
Tây Phương, bao gồm như cả một giãi pháp... Không cần phải
nói, điều chủ yếu là thảo luận về Kim Cang Thừa Phật
Giáo phải tách rời ra khỏi những chuyện khêu gợi dục tình,
mà thật sự làm căn gốc cho sợ hải và tội lổi về tình
dục.
Biểu
tượng và thực hành tình dục thanh cao, như đã được tìm
thấy trong Kim Cang Thừa Phật Giáo Tây Tạng là điều hoàn
toàn xa lạ trong các truyền thống tôn giáo, kể cả những
truyền thống đã quen thuộc với quần chúng phương Tây. Trong
Kim Cang Thừa Phật Giáo có một ưu điểm quen được sánh
đôi, trí thức và từ bi được nhân cách hoá như là đàn
ông và đàn bà. Không những cả hai được nhân cách hóa,
cả hai được tô vẻ và tạc tượng khi họ yêu nhau, thường
được gọi là những hình tượng yab-yum. Hình tượng này
thường được sử dụng làm cơ bản cho tu tập suy niệm và
thiền định, kể cả tự tưởng tượng khi cặp này đang
yêu nhau. Sau một vài năm làm việc với những hình tượng
này cá nhân tôi hoàn toàn bị thu hút bởi sức mạnh khai phóng
và an lạc trong các biểu tượng này. Thay vì coi tình dục
là một chuyện riêng tư và một cái gì đó rắc rối, có
lẽ là sự xoá tội, tình dục cần phải được mô tả công
khai như một biểu tượng của chân lý tôn giáo thâm sâu nhất
và như một thực tập thiền định cho việc phát triển sự
giác ngộ bẩm sinh của con người
Một
trong những ám chỉ sâu xa nhất cuả hình tượng yab-yum và
chủ điểm của nó là mối quan hệ nền tảng của con người,
thực tại này thường được biểu tượng hoá nhu là mối
quan hệ chồng vợ bình đẳng, nam và nữ được coi như hai
người bạn đời, cùng hợp tác và cùng chung vui với nhau.
Điều này tương phản rõ nét với khuynh hướng nhằm giới
hạn biểu tượng tôn giáo trong mối quan hệ cha mẹ với con
cái hoặc là như giửa Đức Chúa Cha và Con hay Đức Mẹ va
Con. Đây là điểm quen thuộc trong các truyền thống tôn giáo.
Nó cũng tương phản mạnh mẽ đối với sự ghê tởm của
tình dục kỳ diệu, mà cũng là một vấn đề trong các tôn
giáo này. Ngườì ta phải suy đoán rằng ca ngợi công khai
tình dục như là kinh nghiệm thiêng liêng và tạo thông cảm
và chuyển hoá sâu xa giữa đôi bạn tâm linh, nó sẽ làm suy
giảm đáng kể thuyết cổ vu sinh sản, mà thuyết này dựa
trên niềm tin tình dục mà không sinh sản là sai lầm.
Trong
phạm vi những quan hệ nhân sinh hơn là những biểu tượng
tôn giáo- tới một chừng mực mà cả hai có thể tách ra được-,
biểu tượng này, theo Kim Cang Thừa Phật Giáo, đã dẩn nam
và nữ đến một khà năng kết hợp thành đôi vợ chồng
cùng trong tâm linh và cùng theo một pháp môn. (Vấn đề đồng
tình luyến ái có thể được không là một câu hỏi khó trả
lời). Mối quan hệ như thế không phải là những thoả thuận
riêng tư thông thường hoặc dự phóng lãng mạn và khao khát,
mà là một tình bạn đồng song, một sự giúp đở lẩn nhau
trên con đường tu tập tâm linh. Tình dục được coi như một
yếu tố nội tại, nhưng không hẳn là nề tảng cho một mối
quan hệ như thế. Dầu tương đối bí truyền, mối quan hệ
này đã và đang được công nhận và đề cao trong Kim Cang
Thừa Phật Giáo Bắc Ấn Độ cũng như Phật Giáo Tây Tạng.
Phật Tử Tây Phương bắt đầu khám phá hoặc khám phá lại
tiềm năng này, một khả năng kết hợp vợ chồng như một
mối quan hệ đồng môn giữa hai con người cùng tìm kiếm
một con đường và cũng là một phương cách tìm hiểu và
cảm thông với Ềtha nhânỂ sâu thẩm trong thế giới hiện
tượng. Xưng tụng mối quan hệ này sẽ làm giảm đi đáng
kể những thành kiến cuả giới đề cao sinh sản khi đề
cập tới vai trò tình dục trong đời sống con người, cũng
như đóng góp quan trọng vào việc tạo lập một khuôn mẩu
trong tình tương quan đầy lành mạnh, trân trọng và bình đẳng
giữa nam nử.
Đỗ
Kim Thêm chuyển ngữ
kimthem_do@hotmail.com