THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Tịnh Ðộ Tông-Niệm Phật Pháp Môn

Subject: [hoasen-1] Ngày vía PHẬT A DI DÀ
Date: Wed, 6 Dec 2000 02:22:27 -0500
From: tamtu nguyen <de-tu@juno.com>
To: Hoasen-1@egroups.com

Kính bạch Chư Tôn và qúy Ðạo Hữu:
Thứ Ba tuần tới Dec 12 (17 tháng 11 âm lịch ) là ngày vía dức Phật A Di Ðà .Dây là ngày vía lớn ,sợ qúy vị bận bịu công việc làm ăn mà quên ngày quan trọng này nên mạn phép nhắc lại. Mong lượng thứ. Nhân ngày vía Phật , có vài câu hỏi gởi dến qúy vị nhờ ơn giải dáp giùm: 

1. Chữ Vía nghĩa là gì ? ...là 1 ngày kỷ niệm ..? nhắc nhở miên mật ..? và nhiều ý nghĩa sâu xa gì khác không ..? 
2. Do lai việc chọn ngày 17 tháng 11 từ dâu mà ra ? . Trong ngày vía Phật sinh hoạt và hành trì cuả chư tăng có khác hơn so với các ngày bình thường không ( Xin Chư Tôn chỉ dạy cho chúng con diều này) Và sinh họat của chư Phật tử phải như thế nào dể tỏ lòng mừng vui và niềm tôn kính trong ngày vía Phật . 
3. Niệm Phật là pháp môn dễ tu dễ học cho mọi căn cơ nếu cố công trì chí ắt có hy vọng thành tựu . Ở phương Dông song song với Thiền Tông dược xem là pháp môn thù thắng. Thê' nhưng khi truyền bá sang Âu Tây thì Thiền vàMật Tông lại có ảnh hưởng lớn rộng và sức phát triển mạnh mẽ hơn .Pha'p môn Tịnh Ðộ phát triển rất chừng mực tại các quốc gia Âu Mỹ . Xin quý Dao. hữu phân tích giùm diều này . Ngày vía Phật A Di Ðà să'p tới dây là ngày viá Phật cho một thiên niên kỷ mới . Cần có những thay dổi nào dể làm hữu hiệu hơn trong việc hoằng trì và quảng bá Tịnh Ðộ Tông trong các quốc gia phương Tây ?
Kính
Ðệ Tử


Subject: Re: [hoasen-1] Nga`y vi'a PHA^.T A DI DA`
Date: Wed, 6 Dec 2000 10:02:11 EST
From: Dothamsansi@aol.com
To: hoasen-1@egroups.com

Cực Lạc là gì ?
Cực Lạc là cực kỳ an lạc . Ðó là cõ i tâm hoàn toàn thanh tịnh , an lạc .Vì người đời còn có những tham đắm với hình tướng , nên chư Tổ Tịnh Ðộ phải phương tiện đưa ra những hình ảnh để dụ , như đức Phật đã dùng phương tiện dụ trong kinh Pháp Hoa , hành giả như những người con đang ở trong nhà lửa , tin theo lời dụ , thay vì bôn ba tham , sân , si , nay một lòng niệm Phật . Trong khi niệm Phật thì không tạo ba nghiệp ác , từ từ , niệm Phật sẽ thay thế toàn bộ ác niệm , tâm sẽ tịnh dần , xa rời căn ác , đi tới thuần tịnh , thì đương xứ là Tịnh Ðộ , hành giả sống an lạc ngay trong hiện đời , và khi lâm chung , sẽ đạt được " tâm tịnh tức c i Phật tịnh " , cảnh giới Cực Lạc ! 

Tịnh Ðộ có bốn phương pháp hành trì . Nay riêng nói về pháp Trì Danh Niệm Phật . Theo pháp này , hành giả phải niệm Phật miên mật . Mỗi ngày tụng hai thời kinh sáng , chiều , niệm vài tràng hạt , mà nhận là " tu pháp môn Tịnh Ðộ " là phỉ báng Pháp ! Tụng kinh là " nghe Phật nói pháp " , thuộc về Giáo Môn . Ðức Phật đã Niết Bàn , nay mình không còn được nghe lời Ngài dạy từ kim khẩu Ngài , nên phải tự mình nhắc lại lời Phật , để nhớ lời Ngài dạy , tin được rằng mình có Phật Tánh , rồi tuân theo lời dạy mà tu hành cho đến giải thoát khỏi tam độc tham, sân, si , là xiềng xích cột mình trong luân hồi , tùy theo căn cơ mà theo những pháp môn như Thiền Tông , Mật Tông , Tịnh Ðộ Tông , Duy Thức Tông ...vân... vân ...nhiều lắm ... 

Pháp môn Tịnh Ðộ mà có bị tàn lụi chính là vì người ta chỉ dạy nhau ghi nhớ những "ngày vía", đến những mong cầu ( mong cầu là tham ! ) , chỉ ích kỷ nghĩ đến ngày mình chết sẽ được đến " miền Cực Lạc " một mình , không chịu hành bồ tát đạo , cùng với mọi người chuyển hóa tâm , cùng hướng về sự giác ngộ Phật Tâm , Giác Tánh , gọi là Phát Bồ Ðề Tâm , điều kiện tiên quyết của những người tu theo đạo Giác Ngộ , để cùng với những người chung quanh được sống an lạc ngay trong hiện đời . Nếu chân thật niệm A Di Ðà Phật , không niệm ba độc tham , sân , si, "tâm tịnh thì nước Phật tịnh " , chưa chết đã sống ở miền tâm " Cực kỳ an Lạc rồi "!

Chư Tổ Sư Tịnh Ðộ Tông đã nói :
---" Sanh " thì quyết định " sanh " , mà " đi " thì không có " đi " . Có " sanh " ( vãng sanh ) , mà không " đi " , là bởi vì " đương xứ là Tịnh Ðộ" , là bởi vì A Di Ðà Phật là Vô Lượng Quang Thọ Phật , là bản giác , là " tuệ giác cùng khắp , không gian vô biên , thời gian vô hạn " , là Chân Tâm. Pháp phương tiện của chư Tổ bị người đời xuyên tạc , như thế gọi là phỉ báng pháp , sao dám nhận là " hoằng dương "?


Subject: Re: [hoasen-1] Ngày vía PHẬT A DI DÀ
Date: Wed, 6 Dec 2000 03:48:11 EST
From: phamdluan@aol.com
To: hoasen-1@egroups.com

Kính anh tamtu nguyen,

3. NIỆM PHẬT là pháp môn dễ tu dễ học cho mọi căn cơ nếu cố công trì chí ắt có hy vọng thành tựu . Ở phương Dông song song với THIỀN TÔNG dược xem là pháp môn thù thắng .Thê' nhưng khi truyền bá sang Âu Tây thì THIỀN vàMÂ.T TÔNG lại có ảnh hưởng lớn rộng và sức phát triển mạnh mẽ hơn .Pha'p môn TỊNH DỘ phát triển rất chừng mực tại các quốc gia Âu Mỹ . Xin quý Dao. hữu phân tích giùm diều này .
>>

KKT: Xin được góp ý:

Pháp môn Tịnh Ðộ chủ ở tha lực tức là tin vào nguyện lực của Phật A Di Ðà để được vãng sinh về Tịnh Ðộ Cho nên nhìn dưới một góc cạnh nào đó nó rất giống với tín ngưỡng của Cơ Ðốc giáo đó là tin tưởng vào sự "cứu rỗi" qua Chúa Giêsu . Những người Tây phương khi tìm về những giáo lý Á đông nói chung và PG nói riêng là vì họ đã không còn lòng tin nơi chính tín ngưỡng truyền thống của họ, cho nên một pháp môn như Tịnh Ðộ rất giống với Cơ Ðốc giáo thì hẳn không thể thu hút họ được. Thiền Tông và Mật Tông (Tây Tạng) đều đề cập đến sự giải thoát ngay trong hiện đời, lại không quá đòi hỏi lòng tin và lại dựa trên sức cố gắng cá nhân (tư. lực) và nhất là nhấn mạnh nhiều đến kinh nghiệm giác ngộ cho nên hẳn là phải quyến rũ hơn nhiều !

Thân kính,

KKT


From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com> 
To: <vn-buddhism@saigon.com>, <hoasen-1@egroups.com> 
Subject: [hoasen-1] Re: [vn-buddhism] Fw: cực lạc!
Date: Wed, 6 Dec 2000 16:08:26 -0800

Chào quý đạo hữu,

Tôi không đọc thấy phần nhận xét về "Cực Lạc" này từ mesg nào trên Hoa sen-1. Chỉ thấy trên một mesg của D/h TD. Có lẽ tôi đã nhận sót mesg đó hay lỡ tay delete mất.

Tôi có nhận xét chung như sau. Thường thì nhiều vị bên Thiền tông hay lấy Phật Tánh, Chân Tâm, Tự Tánh ra để giải thích về pháp môn Tịnh đô. Và câu nói thấy hay lặp lại để "nhắc nhở" người Niệm Phật là " Tự Tánh Di đà, Duy tâm Tịnh độ" (hay những câu tương tự tôi không nhớ chắc lắm). Thế nhưng đó là pháp môn tu tập của Thiền tông, nhằm nhận ra được cái bản tâm, tự tánh vốn thanh tịnh của mình, qua nhiều cách Thiền quán. Còn Tịnh độ dựa vào Tín Tâm, lòng tin có c i Cực Lạc do Phật A Di Ðà lập ra làm chỗ "chuyển tiếp" cho những ai có lòng tin , lòng thành, có được mốí cảm ứng sâu xa với Phật ADD qua câu niệm Phật (chi? có sáu chữ). Pháp này gọi là dựa vào Tha Lực, được sự cứu độ nhờ vào đại nguyên của chư Phật , chư Bồ Tát. Còn Thiền tông chỉ dựa vào sức tu tập của chính mình, và được gọi là pháp tu Tự Lực.

Nếu từ pháp môn này mà nhận xét về pháp môn kia thì không thể nào đúng được. Giả du. Thiền tông có người bảo "không ai cứu được mình, ngoài chính mình. Phải tự thắp đuốc mà đi ". Ðiều đó đâu có sai. Còn người tu Tịnh độ lại nghi ~:" Có tập nhảy suốt đời thì cũng không nhảy qua được bức tường cao 10 thước. Vậy sao chắc là cứ ngồi tu tập theo kiểu gì đó mà thoát nổi vòng sinh tử, để vào được Niết Bàn. Cái khả năng vốn có của con người nhỏ bé biết baọ. Phải nhờ vào một sức đẩy hay nâng khác, như chiếc máy bay của ai chở dùm, để mà bay được cao tới mâỵ" Tất nhiên người theo Thiền tông cũng có những lý do chính đáng để theo đuổi cách tu hành của mình.

Ở Tru ng Hoa Thiền Tịnh song tu đã xuất hiện rất sớm , có lẽ từ lúc kinh Pháp Hoa được lưu truyền, và như vậy có thể bắt đầu ở Thiên thai tông. Về sau nhiều thiền sư cũng nghiên cứu và giảng kinh Pháp Hoa, như các ngài Hám sơn, Hư Vân, và sau cùng cũng giảng về pháp môn Niệm Phật. Nói chung vào thời điểm cuốí Minh đầu Thanh, Thiền tông ở Trung Hoa thực chất là Thiền Tịnh song tu, dù rằng hai tông phái Lâm
Tế và Tào Ðộ.ng vẫn còn giữ tông môn, tiếp tục duy trì chủ yếu ở các tỉnh ven biển phương Nam như Giang Tây, Phúc kiến. Và trong việc dung hợp đó, các thiền sư đã có cách nhìn rất đặc biệt về Tịnh độ (như về "Tự Tánh Di Ðà"), nhưng đây không phải là quan điểm của Tịnh đô. Tông về pháp môn Niệm Phật. Tôi lại riêng nghĩ hai pháp tu Niệm Phật và tham công án khó mà dung hợp được với nhau. Vì một đằng dựa vào Tín Tâm
để có được sự bằng an , thanh tịnh trong lòng , một đằng lại chủ trương gây bức xúc nội tâm để dấy lên được một khốí nghi tình rồi chờ cho nó có dịp vỡ tung. Và tôi thực sự không biết chuyện "song tu" như thế đó đã được giải quyết thế nào. Nên rất muốn được học hỏi thêm về điểm này. (Ðiểm tham công án và Niệm Phật cùng tu).
Hòa

----- Original Message -----
> From: td <tdang@saigon.com>
> To: vn-buddhism <vn-buddhism@saigon.com>
> Sent: Wednesday, December 06, 2000 8:55 AM
> Subject: [vn-buddhism] cực lạc!


Subject: [hoasen-1] Kinh A-Di-Ða` So*' Sao
Date: Thu, 7 Dec 2000 09:58:40 EST
From: Vanchungthanh@aol.com
To: hoasen-1@egroups.com

( Trích " kinh A-Di-Ðà Sớ Sao " (1), thuật giả : đại sư Châu-Hoằng (tổ thứ tám tông Tịnh Ðộ) , dịch giả : hòa thượng Thích Hành-Trụ , Phật Học Viện Quốc Tế ấn hành )

..."...Bởi niệm danh Phật tức là niệm tâm ta , còn sanh nước kia , không lìa sanh c i đây . Vì rằng tâm , Phật và chúng sanh tuy ba mà vẫn đồng một thể ; giữa dòng và hai bên đều không nhất định ở một chỗ nào , nên gọi : Tự tánh giác là Phật Di-Ðà , duy tâm tịnh là c i Tịnh-độ .

Chú giải : Tiếp văn trên nói : Cái lẽ mà được nhân tốt quả mầu như thế , là phần chính do tu pháp trì danh niệm Phật đến chỗ nhất tâm, niệm tột , thành không niệm , niệm mà không niệm mới là chơn niệm . Lại cái thể niệm vốn không , niệm thật không niệm , gọi là chơn niệm vậy .

Câu " sanh vô sanh " là : Vì r thể sanh không có, thì sanh mà không sanh , không sanh mà sanh , thế gọi là dùng tâm niệm Phật chứng nhập bậc nhẫn vô-sanh (2) , như trong bài " Giáo Khởi " văn sau có nói rành . Nên biết , trọn ngày niệm Phật , chính là trọn ngày niệm tâm , r ràng vãng sanh , nhưng lặng trang , không có gì là lai vãng .

Câu :" Tâm , Phật và chúng sanh " đó, kinh nói :" Tâm và Phật cùng chúng sanh cả ba không sai khác ". Bởi vì " tâm niệm Phật "tức là Phật A-Di-Ðà , Phật A-Di-Ðà tức là Phật tánh của chúng sanh , vì đồng một bản thể " biến chánh giác " nên chi chúng sanh trong tâm của chư Phật , trở lại niệm lấy chư Phật trong tâm của chúng sanh , nếu " Mê " , phải cầu " giác " ; mà giác thì vẫn đồng nhau , nên nói đồng một thể .( Trang 22 )
........
Do bốn món chướng đây , che ngăn tâm niệm không chịu chấp trì , nên phải cần phá trừ . Bốn món chướng là :

1---Có người bảo :" Tức tâm là Phật , hà tất bỏ Phật mình mà niệm Phật kia?
---Ðâu có biết vì tức Phật là Tâm , thời niệm Phật cũng không ngại gì . Bởi tức tâm là Phật , đâu chẳng tức Phật là tâm . Nếu chấp niệm tâm , không chịu niệm Phật , thời thành ra tâm với Phật là hai , nghĩa chữ " tức " làm sao thành lập . Thế nên lấy niệm Phật tức niệm tâm , vì cả hai không ngại .

2---Có người bảo : Sao chẳng niệm hết thảy các đức Phật , mà cứ niệm một vị Phật ? --- Ðâu có biết tàm chuyên chí nhất mới thành pháp tam muội . Bởi vì chúng sanh trí cạn , niệm nhiều Phật thời không xiết ; nên dùng trí mà không phân nhiều đường , thời tâm thần được ngưng định , nếu khiến tâm nhiều ngả thời công làm phải tán loạn .

Như Ngài Phổ Quang đại sĩ hỏi Phật :" Mười phương đều có c i Phật , vì sao riêng khen c i Tây phương ?

Phật dạy :" Người cõ i Diêm Phù Ðề tâm phần nhiều tạp loạn ; khiến cho kia chuyên tâm về một cảnh , mới đặng vãng sanh ". Do vì các vị Phật đồng một thân pháp-tánh , nên niệm một vị Phật , tức là niệm tất cả các vị Phật .

3---Có người bảo : Mỗi vị Phật đều có thể niệm , sao khơng để cho người kia tự do niệm một vị Phật nào , mà cứ bắt niệm vị Phật A-Di-Ðà kia ?

---Ðâu có biết vị Phật kia cùng các chúng sanh riêng có nhân duyên vậy . Bởi vì danh hiệu Phật kia , người nào cũng đều ưa niệm ; đến nỗi người ác , có khi thoạt nhiên thốt ra tiếng niệm Phật ; nhẫn đến người gặp việc lành bất ngờ thốt lời niệm Phật vui mừng tán thán ; còn người gặp việc ác , cùng trong khi gặp nạn khổ , bỗng nhiên thốt ra tiếng niệm Phật mà thương xót đớn đau . Vì cơ cảm nhân duyên , khơng ai bảo họ , mà họ tự nhiên niệm Phật .

4---Có người bảo : Vì sao không niệm công đức trí huệ , tướng hảo quang minh của Phật , mà chỉ niệm danh hiệu ? 

--Ðâu có biết , ở trong đời mạt pháp này , pháp trì danh rất hợp cơ vì là bất tư nghì . Hợp cơ là : Kinh Văn Thù Bát Nhã nói : " Chúng sanh cơ ngu độn , nếu dạy pháp quán tưởng thì họ khơng biết được , chỉ khiến niệm danh hiệu Phật , tiếng niệm nối nhau thì tự-tiện hơn , dễ được vãng sanh".

Bất tư nghì là : Như văn trước đã nói , chỉ có pháp Nhất-hạnh tam-muội này , thời chẳng những hợp với kẻ độn cơ , mà chỗ thần dụng của nó không lường vậy . Như trong kinh Di Giáo , Phật dạy :"Tâm này kềm chế nóĩ lại một chỗ , thời không việc nào mà chẳng xong ". Nay kinh này bảo buộc tâm vào hiệu Phật , nhẫn đến nhất tâm , thời chỗ thần dụng đâu có thể nghĩ bàn ! ...." ( Trang 338 )

Chú thích của hòa thượng Thích Hành Trụ :
(1) Sớ sao : Sớ là để giải r nghĩa chánh văn của kinh ; Sao là để giải thích lại lời sớ . ( Trang 101 )

(2) Vô sanh nhẫn : Lòng đã an trụ nơi lý vô-sanh vô-diệt , tâm an tịnh , không dao động với nghịch cảnh , từ sơ địa Bồ-tát cho đến bậc
Phật , đều chẳng còn sanh ác tâm , mà sơ địa mới chứng cái danh vô-sanh-nhẫn , bát địa chứng ngộ thể vô-sanh-nhẫn . Tỏ được chân-như thật-tướng , gọi là đắc pháp vô sanh ; tỏ được cái chơn trí vô lậu , gọi là nhẫn , vì khi đã đắc được cái trí ấy , tâm mới nhẫn khả được tất cả hoàn cảnh , mà được tự tại vô ngại , nên gọi là vơ-sanh-nhẫn . ( Trang 106 )

Nam Mơ Thường Tinh Tấn Bồ Tát .
VCT


Subject: [hoasen-1] Về A Di Ðà Kinh Sớ Sao và vài Bài kê. Niệm Phật
Date: Thu, 7 Dec 2000 14:54:45 -0800
From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
To: <hoasen-1@egroups.com>, <vn-buddhism@saigon.com>

Chào quý đạo hữu,

Ðã có thời kỳ rất dài trong Phật giáo Trung Hoa nhiều người chủ trương Thiền Tịnh song tu, Thiền tông chuyển từ tự lực sang tha lực, từ tu Ðịnh sang niệm Phật .(Cũng đáng buồn là lại có thời kỳ gọi là Thiền Ðạo hỗn dung xảy ra ở Trung Hoa, trong đó Thiền Ðịnh thành phương pháp dưỡng sinh như Lão giáo) .

Nhân đây tôi có vài nhận xét về đại sư Châu Hoằng. Ngài người Hàng Châu, sinh vào đời Minh, trước học tham công án "Niệm Phật là ai ?". Theo sách chép, tuy ngài đã tỏ r thiền cơ, nhưng thấy căn lực của người thời mạt pháp yếu kém, nên ngài "chủ trương Tịnh độ, cực lực bác bỏ cuồng thiền " (tri'ch nguyên văn trong sách). Bộ "Phật Thuyết A Di Ðà Kinh Sớ Sao "(xin để ý : tôi viết ...kinh sớ sáo, chứ không viết...sơ' sao kinh) do ngài trước tác với lời dẫn giải thật là uyên áo, tuy hoằng truyền Tịnh Ðộ nhưng không bỏ Thiền tông. Thời trước đó các Tổ Tịnh Ðộ đều không rành lắm về Thiền tông, cho đến đại sư Châu Hoằng là người được chánh truyền tâm ấn từ ngài Tiếu Nham , thuộc dòng Lâm Tế, thì nhiều kiến giải mới theo quan điểm Thiền Tông (Tâm tông) được đưa vào để giải thích pháp môn Tịnh độ tông. Thế nhưng việc làm của đại sư Châu Hoằng cũng không được nhiều nhà Thiền học đương thời băng lòng; họ đã nhiều phen gởi thư gạn hỏị

Ngay vịTổ Tịnh độ thứ sáu là Diên Thọ cũng còn cái nhìn khác hẳn về Thiền, đã có bài kệ như sau :

Có Thiền không Tịnh Dộ
Mười người chín lạc lộ
Ấm cảnh khi hiện ra
Chớp mắt đi theo nó.

Không Thiền, có Tịnh Ðộ
Muôn tu, muôn thoát khổ
Vãng sanh thấy Di Ðà
Lo gì chẳng khai ngộ

Có Thiền , có Tịnh Ðộ
Như thêm sừng mãnh hổ
Hiện đời làm thầy người
Về sau thành Phật, Tổ

Không Thiền không Tịnh Ðộ
Giường sắt, cột đồng lửa
Muôn kiếp lại ngàn đời
Chẳng có nơi nương tựa

Sau đây là vài bài kệ của Thiền sư Triệt Ngộ viết về pháp môn Niệm Phật vãng sanh. Ðiều dược nhấn mạnh ở đây, ngài Triệt Ngộ là một thiền sư nhưng cũng tu pháp môn Tịnh độ, và cái nhìn của ngài giữa Thiền và Tịnh thấy rất quân bình

Hòa

1.
Nhất cú Di Ðà
Ý chỉ như hà
Tri âm thường thiểu
Mộc nhĩ thiên đa .

Nghĩa

Một câu A Di Ðà
Ý chỉ diệu bao nhiêu
Bạn tri âm thường ít
Kẻ tai gỗ riêng nhiều .

2.
Nhất cú Di Ðà
Khai vãng sanh môn
Thi đa phước đức
Phi thiểu thiện căn

Nghĩa:

Một câu A Di Ðà
Mở đường loÁí vãng sanh
Ðó là nhiều phước đức
Chẳng phải ít căn lành

3.
Nhất cú Di Ðà
Thanh tịnh thật tướng
Tuyệt nghị tuyệt tư
Nan danh nan trạng

Nghĩa:

Một câu A Di Ðà
Cảnh thật tướng sạch trong
Tuyệt bàn tuyệt suy nghĩ
Khó nói khó hình dong.

4.
Nhất cú Di Ðà
Viên dung pháp giới
Thục thể toàn chân
Giao la vô ngại

Nghĩa:

Một câu A Di Ðà
Dung thông tròn pháp giới
Soi lặng thể toàn chân
Xen giăng khắp vô ngạị

5.
Nhất cú Di Ðà
Viên mãn Bồ đề
Thiên cánh vô thượng
Vân bất dữ tề

Nghĩa:

Một câu A Di Ðà
Tròn đủ Bồ đề đạo
Ráng mây đều dưới thấp
Lại không có trời cao .

6.
Nhất cú Di Ðà
Ðại Bát Niết Bàn
Nhất luân ming nguyệt
Vạn lý không hàn

Nghĩa:

Một câu A Di Ðà
Là cảnh Ðại Tịch diệt
Muôn dặm trống thanh lương
Chỉ một vầng nhật nguyệt

7.
Nhất cú Di Ðà
Khai Bát Nhã môn
Thập hư vạn pháp
Nhất khẩu bình thôn

Nghĩa:

Một câu A Di Ðà
Mở toang cửa Bát Nhã
Muôn pháp c i thập hư
Một miếng nuốt tất cả


From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com> 
Reply-To: hoasen-1@egroups.com
Subject: [hoasen-1] Chuyện về các Tổ Tịnh Ðộ
Date: Fri, 8 Dec 2000 12:52:56 -0800

Chào quý đạo hữu,

Tông Tịnh Ðộ ở Trung Hoa (và cả VN) không có sự truyền thừa như bên Thiền tông. Sở dĩ có bản ghi các Tổ Tịnh Ðộ là do các tăng tục trong Tịnh Ðộ đời sau họp chọn các vị siêu xuất mà suy tôn. Trước sau từ đại sư Huệ Viễn đời Ngũ Hồ (334 - 416) đến đại sư Ấn Quang thời Trung Hoa Dân quốc , chỉ có 13 vi. Tổđươ.c suy tôn , và không liên tục về niên đạị

Trong các vi. Tổ này có nhiều vị trước vốn là Thiền sư , như Thừa Viễn (tổ thứ 3), Châu Hoằng (tổ thứ 8),...nhưng sau khi ngô. Thiền thì không đi hoằng Thiền mà lại hoằng Tịnh. Theo HT Thiền Tâm thì có ba nguyên do :

1/ Về pháp môn :Thiền Ðốn Ngộ chỉ có lợi cho bậc thượng thượng căn ("Phi thượng thượng căn, thận vật khinh hứa". Theo Tổ ngữ). Còn môn Tịnh độ thì lợi khắp ba căn. Hàng thượng thượng căn có thể một đời ngộ được bản tâm, chứng Niệm Phật tam muội, còn kẻ tốí hạ căn cũng được
đới nghiệp vãng sanh. 

2/ Về Thời cơ : Vì lúc bấy giờ thiền hóa còn thạnh hành, các ngài phải thị hiện phương tiện, trước triệt ngô. Thiền cơ, sau hoằng dương Tịnh độ, mới được người đương thời tín nhiệm tuân hành .

3/ Về cơ duyên : Từ đầu thời Mạt pháp căn cơ người tu hầu hết là hạng trung , hạ , nên phải tùy cơ duyên mà chủ trương Tịnh độ. Nhiều bậc tôn túc trong các tông khác tuy vẫn hoằng dương bổn môn, mà phần nhiều đều quy hướng Tịnh đô. Như ngài Trí Giả tổ tông Thiên Thai nói : " Niệm Phật Tam muội là vua trong các môn tam muội". (Pha'p sư Tam Tạng thuộc tông Thiên thai, và khi đi thỉnh kinh ngài vẫn hành trì pháp Niệm Phật). Thiền sư Châu Yết Liễu nói :" Những vị dưới tông Tào Ðộng đều mật tu Tịnh đô.....". 

Trong một mesg trước tôi có nói Thiền Tịnh Song Tu đã bắt đầu trễ nhất từ thời tổ thứ 6 của Tịnh độ là Diên Thọ (904 - 975), trước đã từng tham học Thiền tông, Thiên Thai tông , và sau soạn ra quyển "Vạn Thiện đồng quy" . Quyển sách này trình bày Cực Lạc không ngoài cảnh "duy tâm tịnh độ" của Phật giáo Ðại Thừa , và phân biệt có hai công hạnh thấp cao để được sanh vào chín phẩm liên hoa ở c i Tịnh độ :

1/ Ðịnh Tâm hay Ðịnh Thiện , là những vị tập quán pháp thành công (như theo kinh Quán Vô Lượng thọ) , hoặc do trì danh Phật hiệu vào được tam muội. Các vị này sẽ sanh về thượng phẩm.
2/ Chuyên tâm hay Tán thiện , là những người chỉ niệm danh hiệu Phật chưa được vào tam muội, hoặc tu các công đức lành khác trợ giúp.

Ngài Diên Thọ cũng có soạn bài kê. Tứ liệu giản, mà trong mesg trước tôi đã trích, chứng tỏ tuy chủ trương "song tu" nhưng ngài nghiêng hẳn về Tịnh độ tông :

Có Thiền không Tịnh độ
Mười người, chín lạc bộ
..................................................
Không Thiền có Tịnh độ
Muôn tu, muôn thoát khổ
.....................................................
Có Thiền Có Tịnh độ
Như thêm sừng mãnh hổ
....................... ...................
Không Thiền không Tịnh độ
..............

Hòa


From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com> Save Address - Block Sender
To: <hoasen-1@egroups.com>, <vn-buddhism@saigon.com> Save Address
Subject: [hoasen-1] Chuyện về Châu Hoằng đại sư và A Di Ðà kinh Sớ Sao
Date: Fri, 8 Dec 2000 15:49:17 -0800

Chào quý đạo hữu,

Chúng ta đã biết đại sư Châu Hoằng trước học đạo với thiền sư Tiểu Nham Nguyệt Tâm (tô? 65 Thiền tông hệ phái Lâm Tế ?), tham câu " Niệm Phật là ai ?". Một hôm đang đi tham cứu, chợt ngộ , làm bài kệ : Hai chục năm qua việc đáng nghi Ngoài ba mươi dặm gặp sao kỳ Ðốt hương liệng kích dường như mộng Ma, Phật tranh suông thị lẫn phi . (HT Thiền Tâm dịch)

Khi đến núi Vân Thê dựng am ở tu thì dân trong vùng gặp kỳ hạn hán đến nài nĩ ngài cầu mưa. Ngài ra am, g mỏ, đi dọc theo bờ ruộng, và niệm Phật . Trời mưa to. Dân chúng vui mừng, cảm ơn công đức cùng nhau dựng chùa, sau có nhiều người nương về, thành cảnh đại tòng lâm.

Có lẽ ngài hoằng hoa' Phật pháp trong bốí cảnh đó, cho nên tuy là thiền sư đã tỏ cơ Thiền , mà ngài chỉ chủ trương Tịnh độ để phù hợp với những người mà trong kinh gọi là thuộc trung và hạ căn. Bộ "Phật thuyết A Di Ðà kinh Sớ Sao"do ngài soạn , được cho là dung hòa cả lý lẫn sự, gồm khắp ba căn (thươ.ng, trung, hạ), với lời dẫn giải rất sâu kín. Ngài đã dùng những ngôn từ, ý niệm của Thiền tông (Tư.Tánh, Tức Tâm Tức Phật...) để giải thích nghĩa kinh riêng của Tịnh Ðộ Có thể đã nhằm hai mục đích. Trước hết giúp những đệ tử quanh ngài hiểu được ý nghĩa sâu nhiệm hơn về kinh phật A Di Ðà bằng kiến giải của Thiền tông ngài đã quen thuộc. Nhưng qua lời chú giải với ngôn từ Thiền ngài còn muốn "mời gọi" những người trong Thiền tông tìm hiểu và quy hướng về Tịnh đô. Cho nên bộ sách đó đã bị nhiều nhà thiền học đương thời "rất không bằng lòng". Có người đã gởi thư tranh luận với ngàị

Thư thứ nhất của Thiền gia tên Tào Lỗ Xuyên viết đại ý :

"1. Gần đây tôi nghe kẻ bảo nhiều kiếp thành Phật , tất là Tiệm chớ không phải Ðốn. Vả Tiệm giáo cũng là Phật dạy, chưa từng không đúng, song dùng Tiệm để bỏ Ðốn giáo phải chăng thật đã sai lầm ? ... Học chúng của ngài chỉ trọng một đức A Di Ðà mà bỏ hết mười lăm vì vương tử, muốn tôn một kinh Tịnh độ, mà bỏ hết ba tạng mười hai phần kinh. Ðó là điều kẻ hèn này không muốn nghe ! ...Râ't mong tôn giả tùy cơ thuyết pháp , khi gặp hàng lợi căn nên nói thượng thừa, để họ ngộ lý viên dung không còn thiên trệ khiến cho đại bàng chim én đều được thích nghẹ"

(Ghi chú của tôi: Ngày xưa họ nói với nhau chan chát mà vẫn lịch sự !).

"2. Trong bô. Di Ðà Sớ Sao tôn giả lại đem kinh Di Ðà sánh với Hoa Nghiêm, điểm ấy tựa hồ chưa thỏa đáng. Ðã thế, có người lại còn nhân đó làm luận đưa cao Tịnh độ, đè nén Hoa Nghiêm khiến cho màu tím sắc chu (đo?) thành lẫn lộn. Mong tôn giả vì căn Tịnh độ nói Tịnh độ, với cơ Hoa Nghiêm nói Hoa Nghiêm, mới thật là lưu thông Phật pháp. "

Ngài Châu Hoằng đáp lại :

"1. ...Nê'u không tự lượng mà bắt chước theo Phật, nay nói pháp này, mai diễn pháp khác, thì thành ra mờ mịt chẳng có sư thừa. Ðó tuy nói là lợi người mà làm cho người lầm lạc." (y' ngài chỉ dạy Tịnh độ, không dạy Thiền hay pháp môn khác)

"2. ...Trong Sớ Sao của tôi chỉ nói: kinh Hoa Nghiêm cực viên, kinh Di đà được một ít phần viên...Va? lại khi nói Hoa Nghiêm đã gồm Tịnh độ, và nói Tịnh độ cũng thông với Hoa Nghiêm...Ngài Long Thọ truyền bá kinh Hoa Nghiêm mà nguyện sanh Cực Lạc.. Những vị bồ tát (như Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ) niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, là căn Tịnh độ hay Hoa Nghiêm". Sau cùng ngài Châu Hoằng mời vị thiền gia đang trang luận : " Nay lão hủ lại muốn mời cư sĩ cùng làm huynh đệ ở Liên bang (nhâ.p hội, nước hoa sen). Mong cư sĩ xét suy, đừng xem tôi là người bên ngoài vậy ".

Thư thứ hai đưa ra sáu điểm "vấn nạn", tôi chỉ ghi lại một vài:

"1. Kinh Lăng Nghiêm trong phần tuyển lựa viên thông, đức Văn Thù đã bác môn Niệm Phật của ngài Thế Chí là vô thường sanh diệt. Vậy ý tôn giả thế nào ".

"3.Bơ?i thế bậc thức đạt đã bảo : Trải nhiều kiếp cần khổ tu hành không bằng một niệm vô sanh pháp nhẫn. Người trí cần vượt khỏi môn quyền hoc. tam thừa, không còn ngã và ngã sở. Nay sự vãng sanh tịnh độ, ta là người hay sanh. Cực Lạc là chỗ sanh về thì năng. sở, người cảnh còn phân biệt r ràng, đâu gọi là cứu cánh ".

"5. ...Thi'nh chúng của ngài từ Hàng Châu vị nào cũng nôn nao cầu về chín phẩm. Nhân khi nói chuyện, tôi vừa đề cập đến thượng thừa thì đều sửng mắt kinh lòng... Nay ngài đã ra ứng thế, mở pháp đường, lên giảng toạ, mà không đủ tác lược của bậc đại nhân, chỉ bắt chước hành động của ông già bà cả ở đầu làng ng xóm?. "

"6. Thế thì việc tôn giả muốn vời tôi làm bạn sen ở nơi Cực Lạc, khác nào bảo kẻ này gánh gai bỏ vàng, đuổi theo vật mà chạy vào mê lộ ? Há chẳng nghe nói : Nếu là chim đại bàng kim suý, mới giương cánh đã vượt cao chín tầng; ngựa Nhiếp ảnh thần câu, vừa cất vó đã lướt ra ngoài vạn dặm " (Ghi chú của tôi: Ngày xưa vẫn có người có cái ngã to quá, bảo người khác ,không phải mình, là sống trong vọng tưởng)

Ngài Châu Hoằng trả lời :

"1...Ðư'c Văn Thù bác Niệm Phật là vô thường, sanh diệt, không viên thông. Thế sao ngài Kiều Trần Như tỏ ngộ hai chữ Khách Trần, có thể gọi là suốt lý vô thường, hợp lẽ bất sanh diệt, lại chẳng được chọn là pháp viên thông ?.Nê'u quả thật đức Quan Âm đổ cao, ngài Thế Chí thi rớt, thì sao cư sĩ chẳng nghe biết điều thí dụ : "cửa rồng chạm trán" là lời kẻ quê mùa miền Ðông dã ở nước Tề " (Ghi chú: Tôi không hiểu thí dụ này)

"3...Xin hỏi cư sĩ đã chứng được vô sanh pháp nhẫn chưa ? Nếu chứng được thì không nên cho rằng : Ta là người hay sanh, Tịnh độ là chỗ sanh về. Bởi Tâm tức là cảnh, ai là người hay sanh? Cảnh tức là tâm, đâu là chỗ được sanh ? Vì không còn thấy năng sở nên tuy vãng sanh mà chưa từng có sanh. Ðó mới thật là chân vô sanh."

"5. Cư sĩ khuyên tôi với căn Hoa Nghiêm thì nói kinh Hoa Nghiêm, với cơ Tịnh độ thì đàm Tịnh đô. Nay những kẻ ấy thuộc về hàng độn căn, chính nên giảng Tịnh độ, sao cư sĩ không tùy bệnh cho thuốc, lại luận thượng thừa với họ làm gì ? Hạng quê mùa nếu Niệm Phật được vãng sanh, sẽ lên ngôi Bất thốí chuyển, cũng đâu nên xem rẻ khinh chệ

"6. Cư sĩ cho rằng việc khuyên niệm Phật cầu sanh Tịnh độ là điên đảo, đuổi theo vật vào mê lộ, là gánh gai bỏ vàng, làm khuất nhục đến mình. Nay lão hủ xin đem lại thí dụ khác thay thế..." (Thi' dụ dài quá tôi không chép lại, chỉ đọc và nghĩ là không thuyết phục nổi con người cư sĩ có cái tâm lực to lớn của loài đại bàng, và ngự a thần).

Hòa Xem 

Tiếp Trang 2


x
Xem Thêm: Pháp Môn Niệm Phật 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap
Xx
Xx