|
|
c
NGŨ UẨN
TRONG BÁT NHÃ TÂM
KINH
Cư
Sĩ Tuệ Minh Đạo NGUYỄN ĐỨC CAN
E-Mail
: ndcan2000@yahoo.com
|
Kinh
Bát Nhã không phải là một bộ kinh to lớn và nhiều quyển
như “Đại Tạng Kinh, Hoa Nghiêm Kinh hay Pháp Hoa Kinh...”
đây chỉ là một bài Kinh Bát Nhã không đầy ba trăm (300)
chữ, ngắn gọn nhưng rất sâu sác và triết lý rộng bao la,
không bút nào tả xiết, bản kinh này không những là phần
cô kết nhất của những tinh hoa trong tư tưởng triết học
Phật Giáo, mà còn trình bày con đường tu tập thực tiễn,
đó là con đường hiện quán, đi vào suối nguồn tuệ giác
– vô thượng ; một con đường duy nhất có thể thoát ly
tất cả khổ đau ngay tại cuộc đời này. Hầu hết các Phật
Tử đều thuộc lòng vì đó là một bài Kinh tụng niệm
hàng ngày. Tuy nhiên, ít người hiểu biết một cách
sâu rộng và thấu triệt được ý nghĩa của từng câu, từng
đoạn trong bài Kinh này.
Để
giúp cho một số Phật Tử hiểu rõ thêm về ý nghĩa
của bản Tâm Kinh này tôi cố gắng sưu tầm và biên soạn
ra đây một câu mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất, hầu góp
phần trong việc phổ biến Phật Pháp, nếu quí vị cao tăng
hoặc trí thức Phật Giáo nào có thêm các dữ kiện hay nhận
xét gì xin chỉ giáo theo địa chỉ E-Mail trên, để tôi học
hỏi thêm.
Trước
hết tôi xin sơ lược về lịch sử Kinh Bát Nhã. Về
mặt lịch sử tư tưởng, kinh Bát Nhã là một bộ kinh đầu
tiền truyền bá tư tưởng Đại thừa (Mahayana), bát nguồn
từ miền nam Ấn Độ, thuộc trung tâm truyền giáo của Đại
chúng bộ (Mahàsamghikà) và biểu tượng trung tâm của kinh
này là Tánh Không (Sùnyata). Về nội dung, Tâm kinh được xem
như là “Trái Tim” của toàn bộ đại Bát Nhã, cũng như
của tư tưởng Phật Giáo được nói ra bởi Tuệ giác Vô
thượng của Phật, nhằm dẫn dắt chúng sinh đi vào thực
tại giải thoát.
Trong
câu đầu tiên của bài “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh”
ta thấy Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật
đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết
khổ ách. Nếu dịch ra tiếng việt ta thấy = Khi tiến sâu
vào nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng (1) Người tỉnh
thức bình yên (2) soi sáng như thật ràng tự tính của 5 hợp
thể (3) đều là không (4) liền thoát ly mọi khổ ách. trong
đoạn trên kỳ này tôi chỉ bàn tới “Ngũ Uẩn” (năm hợp
thể đều là không). Tôi muốn nói tới con người. Tạo Hóa
sinh ra con người đã cấu tạo thành hai phần đó là thể
xác và linh hồn mới thành thực thể của con người
hiện hữu trên thế gian đó là : “NGŨ UẨN”.
Năm
Uẩn là : Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức
uần.
Bây
giờ ta hãy tìm hiểu về Sắc Uẩn (Rupa ajkandha), trước hết
tôi muốn nói tới ý nghĩa của chữ UẨN (skandha) “thuật
ngữ.’ Tiếng Phạn là Tắc-kiện-đà. cách dịch cũ
là Ấm, nghĩa là che lấp, che khuất, ý nói các pháp săùc
tâm che lấp chân lý. Cách dịch mới là UẨN, nghĩa là tích
tập chứa nhóm, ý nói các pháp sắc tâm lớn nhỏ trước
sau tích tập mà tạo ra tự thể, chẳng hạn như Sắc
Uẩn, Tâm Uẩn...(thể xác và linh hồn).
SẮC
UẨN : Sắc uẩn gồm có 4 thể chất đó là : Đất, nước,
gió, lửa,(tứ đại) hay nói cách khác gồm có 4 đại
năng tạo, bốn đại sở tạo, và bốn biểu sắc. Bốn đại
có 2 nghĩa là 4 đại chúng và chấp thọ đại.
1)-Đại
chúng : Bốn đại là đất, nước, gió, lửa. Chúng là hạt
giống. Tất cả sự vật chất đều do 4 đại mà có nên gọi
là chúng, 4 đại cũng như hạt giống. Cây được sinh
ra từ hạt giống. Cũng vậy, bốn đại là cái gốc, từ
đó sinh ra tất cả sự vật khác, vật chất khác, nên gọi
là bốn đại chúng. Gọi tát là bốn đại. Bốn thứ này
có tính chất rộng lớn, hiện diện kháp tất cả vạn vật.nó
có bốn đặc tính :
a)-Sở
ý đại : Chỗ nương rộng lớn; tất cả sắc pháp, mọi sự
vật, mọi hiện tượng đều nhờ có 4 đại mà hiện hữu
và tồn tại.
b)-Thể
đại : Thể của bốn đại là rộng lớn, cũng có thể nói
nó là bản thể của sự vật.
c)-Tướng
đại : Tướng của bốn đại rộng lớn, đó là những biểu
tướng hiện hữu nơi mỗi sự vật khiến ta có thể nhận
thức được. Ví dụ : Đất có biểu tướng là cứng, có
biên giới, có hình tướng rõ ràng. Nước có biểu tượng
là thấm ướt, lưu chuyển. Lửa có biểu tượng là nóng
bức và thiêu đốt. Gió có biểu tượng là cuốn hút và co
giãn, lay động. Tướng của đất là đại địa, tướng của
nước là đại hải, tướng cuả gió là cuồng phong, tướng
của lửa là đại hỏa.
d)-Dụng
đại : Là tác dụng, là hoạt dụng của bốn đại. Đất
: có tác dụng nâng đỏ và chứa nhóm; Nước : có tác dụng
nối kết, nâng đỡ và dung hóa sự vật; Gió : vừa có tác
dụng trưởng dưỡng vừa có tác dụng phá hủy: Như
gió nhẹ làm cây xanh tốt, nẩy nở, hơi thở đều hòa làm
người khỏe mạnh nhưng gió mạnh quá thì sẽ làm cây gẫy
đổ. Lửa :có tác dụng thiêu đốt và làm chuyển hóa tứ
đại lẫn nhău (từ địa chuyển hóa thành thủy phải
nhờ sự nung chẩy của hỏa, như nấu sắt, đồng chảy thành
thể lỏng.
Do
bốn đặc tính của tứ đại ấy mà kinh thường nói đến
đại tam tai tức là ba tai nạn phá hủy lớn : Thủy tai, Hỏa
tai và Phong tai. Bốn đặc tính của Đất, Nước, Gióù, Lửa
có thể nói tóm tắt với các từ là tính chắc cứng, tính
ướt nhuyễn, tính chuyển động, và tính nung nóng (cố thể
là đất, dịch thể là nước, động lực là gió và nhiệt
lực là lửa) hay gọn hơn thì nói là Thể và Lực.
2)-Chấp
Thọ : Nói cho đủ là “chấp vi tự thể linh sanh giác thọ”
. Nói tắt là chấp thọ. Vậy chấp cái gì và thọ cái gì
? Cơ thể của chúng ta được nuôi dưỡng bằng chén
cơm, bình nước hay các chất bột khác như bánh, bún, mì v..v..những
thứ ấy đều là tứ đại cả. Khi chén cơm, bình nước,
cái bánh ...để giữa bàn nó là vật vô tri vô giác,
ai muốn đánh đập gì cũng được. Nhưng khi nó được đưa
vào cơ thể của chúng ta, tứ đại ấy đã biến thành tự
thể của chúng ta, nếu có ai đến vuốt ve, nịnh hót thì
ta thọ vui, đến chửi rủa hay đánh đập thì ta thọ
khổ. Như vậy từ tứ đại mà sanh ra tự thể và tự thể
mà sanh ra có cảm giác, biết vui,biết buồn là giác thọ.
Thuận với nó thì nó vui,(thọ lạc); nghịch với nó thì nó
khổ (thọ khổ) Như thế là “Chấp vi tự thể linh sanh giác
thọ”, nói tắt là chấp thọ. Nói tóm lại khi thân ta thọ
một pháp gì thuận hợp với ta thì ta cảm thọ vui, Thọ pháp
gì trái với ta thì ta cảm thọ khổ, buồn..Vui thì biết vui,
buồn thì biết buồn chứ không so sánh phân biệt gì cả.
3)-Tưởng
: Nhưng đến khi tường thủ tướng ấy thì nó gom lại
tất cả các tướng đã lãnh thọ nó rồi nó đối chiếu,
so sánh, phân biệt, rồi nó sắp đặt lại.
Nếu
không có sự so sánh, phân biệt của tưởng thì tất cả các
Pháp đều bình đẳng như nhău trong một tương quan trùng trùng
duyên khởi ở trong bể pháp giới, không có cái gì tách biệt.
Thế nhưng tưởng đem cắt nó ra, riêng biệt từng phần, sắp
đặt phân biệt ; so sánh pháp này với pháp khác và đặt
tên riêng cho nó. Vì thế` mà có tướng núi, tướng sông,
hoa, lá, cây, cỏ con người con vật v..v..Đó là tác dụng
của Tưởng.
Vì
vậy, ta thấy người có học thức, kiến thức rộng rãi với
người ít học và trình độ hiểu biết kém nó khác nhău
nếu hai loại người này ngồi chung với nhau để thảo luận
một đề tài nào đó thì thật khó có thể hòa hợp được.
Trên đây tôi chỉ phân biệt đơn giản nhưng rõ ràng để
ta có thể thấu hiểu được sự khác biệt của hai chữ
Thọ và Tưởng. Ngay trong kinh dậy người tu thiền quán nên
có một cái tâm luôn luôn sống trong hiện tại. Khi Thọ mà
không đem tưởng vào thi ta mới sống trong hiện tại được.
Thí dụ khi ăn cơm, ta chỉ biết miếng cơm, ta đang nhai trong
miệng là ta đang sống với hiện tại. Còn ta biết so sanh
cơm bây giờ ngon hơn cơm hôm qua hay ngược lại thì đã
có tưởng vào nên sinh ra lắm chuyện khen chê. Con người lúc
sơ sanh sống với tiền ngũ thức nhiều hơn, khi
có tưởng vào mới có ý thức phân biệt, so sanh và đặt
tên cho sự vật ; đó tức là lý trí.
4)-Hành
: Như trên đã nói hành uẩn là thiên lưu, tạo tác. Tạo tác
này lấy “Tư tâm sở” làm chủ yếu. Tư đây là ý chí.
Tưởng mới chỉ là ý nghĩ thôi, còn khi quyết định làm,
quyết định hành động là thuộc về hành thuộc về Tư Tâm
Sở.
5)-Thức
: Là liễu biệt, là nhận thức. Nó khác với vô tri vô giác.
Năm thứ trên đây : Thọ, Tưởng, Hành, Thức là thuộc về
Tâm. Sác Uẩn thuộc về Thân. Thân Tâm hợp lại thành con
người có đủ thể xác và tâm linh. Khi phân tách ra thì gọi
là ngũ uẩn, gom lại thì gọi là danh sác hay sác tâm. Ta nói
sác pháp, tâm pháp hai thứ ấy cũng giống như khi nói về
con người nói chung lại là thể chất và tâm hồn. Cho nên
đây là phần căn bản nhất.
Trong
duy thức học có chia ngũ vị bách pháp (5 vị 100 pháp). Năm
vị là gì ? Là sắc vị, tâm vị, tâm sở vị, tâm bất tương
ưng vị, và vô vi vị, mà 5 vị ấy gồm có 100 pháp, ngũ uẩn
này cũng gồm có 100 pháp. Tuy chỉ có 5 nhưng trong đó gồm
cả 100 pháp. Nếu chi tiết hóa ra thì nó còn rất bao la.
Trên
đây tôi chỉ phân tách đại cương về ngũ uẩn, hầu giúp
cho một số phật tử hiểu rõ về sự cấu tạo nên con người
do hợp thể của năm uẩn ở trên, tất nhiên còn rất nhiều
thiếu sót kính mong quí vị cao minh niệm tình thứ lối và
xin chỉ giáo thêm.
Cư
Sĩ, Nguyễn Đức Can
E-Mail
: ndcan2000@yahoo.com

x |