THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Nhân Ðọc "Toàn Tập Minh Châu Hương Hải"

From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
Reply-To: hoasen-1@egroups.com
To: <hoasen-1@egroups.com>, <vn-buddhism@saigon.com> Save Address
Subject: [hoasen-1] To^ng Ti.nh ddo^. o+? VN va` thie^`n su+ Hu+o+ng Ha?i
Date: Sat, 9 Dec 2000 22:36:41 -0800

Chào quý đạo hữu,

Thư viện Hoa Sen vừa giới thiệu Toàn Tập Minh Châu Hương Hải của Lê Mạnh Thát. Ở Chương III, phần Nội Dung Thơ Văn, tôi đọc thấy có nhiều điểm thú vị , liên quan với một số vấn đề được nói đến trên diễn đàn mấy hôm nay. Như thiền sư Hương Hải cũng truyền dạy Tịnh Ðộ, dịch nhiều kinh sách Tịnh độ ra quốc âm (tiê'ng Việt), trong đó có bộ "Phật thuyết A Di Ðà kinh Sớ sao" được dịch là Giải Di Ðà kinh. Tài liệu cũng cho biết Tịnh độ có mặt rất sớm ở nước ta, trước kia đã tưởng chỉ từ đời nhà Lý trở về sau nàỵ

Tôi trích lại một đoạn giới thiệu tư tưởng mới lạ của Hương Hải về Thiền và Tịnh độ

Hòa

2.Về quan điểm thiền Phật giáo Bản thân Minh Châu Hương Hải là một vị thiền sư, và với pháp danh Minh Châu, ông thuộc về Thiền phái Lâm Tế dòng Trí Bảng Ðột Không, với bài kệ truyền pháp như ta đã thấy ở trên. Tuy thế, qua bảng liệt kê các tác phẩm kê trước, ta thấy ông tỏ ra quan tâm và quán xuyến các kinh điển của các trường phái khác nhau trong Phật giáo. Không những ông dịch kinh Kim Cang, mà còn dịch cả kinh Pháp Hoa, kinh Di Ðà, kinh Vô lượng thọ, kinh Ðịa tạng v.v...Ngoài ra, còn có Giải Sa di giới luật, lại viết Nghi thức cúng Phật Dược sư, cúng Cửu phẩm v.v...điều này chứng tỏ một lần nữa Minh Châu Hương Hải đã nằm trong dòng chủ lưu của thiền Phật giáo Việt Nam, không bị ảnh hưởng nhiều của các dòng thiền Trung quốc. Nói khác đi, một trong những nét khác biệt giữa thiền Trung Quốc và thiền Việt Nam ngay từ đầu cho đến những phát hiện về sau là không loại bỏ việc học và tụng niệm các kinh điển Phật giáo, trong khi vẫn tự nhận mình là tu học theo thiền. Trong lịch sử thiền tông Trung Quốc ta hầu như không bao gi gặp một vị tổ nào vừa là thiền sư lại vừa là dịch giả.Nhưng vị tổ thiền đầu tiên của Việt Nam là Tỳ Ni Ða Lưu Chi là người dịch các kinh Tượng đầu tinh xá, Báo nghiệp sai biệt v.v...Rồi các vị thiền sư Việt Nam về sau như Pháp Thuận (925-990) viết Bồ tát hiệu sám hối văn, Viên Chiếu (999-1090) viết Tán viên giác kinh, Thập nhi. Bồ tát hạnh tu chứng đạo tràng và Dược sư thập nhị nguyện văn [Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản TpHCM, 1999, tr.194, 195, 250, 252, 262], Pháp Loa (1284-1330) đã viết Pháp Hoa kinh khoa sớ, Niết bàn đại kinh khoa sớ, Kim Cang trưng đà la ni kinh khoa chú, Bát nhã tâm kinh khoa sớ v.v...truyền thống thiền học Việt Nam như vậy có một dấu ấn sâu đậm, tác động lên những ngưi Phật giáo thiền tông Việt Nam về sau. Minh Châu Hương Hải đã kế thừa truyền thống này và phát huy nó lên một điểm cao mới, đó là chính thức giải quyết các kinh điển ấy ra bằng tiếng Việt mà ta hiện tìm thấy . Những người Phật giáo thiền tông Việt Nam như vậy không đi đến cực đoan coi mọi kinh giáo là không phản ánh đầy đủ tư tưởng cốt l i của Ðức Phật, và chỉ có việc truyền tâm ấn mới phản ảnh trọn vẹn, như đã ít nhiều xuất hiện trong lịch sử thiền tông Trung Quốc.

Trong lịch sử Phật giáo thiền tông Việt Nam, mọi kinh điển đều được đánh giá cao, nhưng được học tập và nghiên cứu với một nhận thức thiền tông. Cho nên Minh Châu Hương Hải đã viết các bản giải thích bằng tiếng Việt về những kinh điển tiêu chuẩn Phật giáo, từ Di Ðà cho đến Kim Cang, từ Pháp Hoa cho đến Dược Sư, đây là một nét đặc trưng ta cần chú ý đến khi nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam. .. Thực tế tư tưởng tịnh độ và thực tiễn tịnh độ xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước ta. Ngay từ những năm 425, Ðàm Hoằng đã từ mi"n Bắc Trung quốc đến chuyên tu pháp môn tịnh độ tại chùa Tiên Sơn ở Bắc Ninh, đến thi Lý tín ngưỡng A di đà phát trin mạnh. Có những ngôi chùa thi"n chỉ thờ tượng Ðức Phật A di đà mà thôi, cụ thể là chùa Viên Quang của thiền sư Giác Hải mà may mắn tấm bia nhan đề "Viên Quang tự bi minh tịnh tự" do Dĩnh Ðạt viết vào năm Thiên phù duệ vũ thứ ba (1122) hiện đã tìm thấy:"Thê' là thợ thuyền họp lại như mây, gỗ đá chất cao như núi, búa rìu đẽo gọt mà hoa' ra cung tri; vàng biếc điểm tô mà trở nên điền báo. Tọa giữa là Giáo chủ Di Ðà mắt xanh mày trắng lung linh, kế bên vẽ hình thượng nhân trụ thế, thân gầy mi đậm sờ sờ... "Rồi đến Trần Nhân Tông khi viết Cư trần lạc đạo phủ, cũng không quên căn dặn :
Tịnh độ là lòng trong sạch
Chớ còn ng hỏi đến Tây phương
Di Ðà là tính sáng soi
Mựa phải nhọc tìm về Cực lạc

Chính trong truyền thống tư tưởng tịnh độ như thế, mà Minh Châu Hương Hải đã cho dịch giải Phật thuyết A di đà kinh sớ sao, mà Hương Hải thiền sư ngữ lục gọi là Giải Di Ðà kinh và Giải Vô lượng thọ kinh. Nói tóm lại, khi thích giải các kinh điển, Minh Châu Hương Hải đã tiếp thu các tư tưởng truyền thống thiền Việt Nam để tạo cho các bản thích giải này một sắc diện mới trong nhận thức kinh điển của những người Phật giáo thiền tông nước ta. Ðiều đáng tiếc là ngày nay các bản thích giải như Giải Ðịa Tạng kinh hay Giải Phật Tổ tam kinh vẫn chưa được tìm ra. Cho nên, ta chưa thể lý hội hết cách xử lý của Hương Hải như thế nào đối với các tín ngưỡng như tín ngưỡng Ðịa Tạng. Cũng thế, đối với tín ngưỡng Dược Sư do chưa tìm được Soạn cúng Dược sư, ta không biết ông đã có quan niệm gì về Ðức Phật này với tư cách là một thiền sư. Ðiểm nổi bật vẫn là xuất phát từ cái nền Phật giáo quyền năng hình thànhvào những thế kỷ đầu của sự có mặt Phật giáo tại nước ta, những người Phật giáo thiền tông về sau, trong đó có cả Minh Châu Hương Hải, đã xây dựng cho mình một dòng thiền dân tộc, vừa kết hợp tinh hoa của Phật giáo thế giới, vừa phát huy những mặt tích cực của nền Phật giáo quyền năng đó .

Nội dung tư tưởng thiền của Minh Châu Hương Hải, do thế, không phải tản mạn, như nhan đề những tác phẩm thích giải kinh điển của ông để lại. Trái lại, nó có tính nhất quán, nhất quán ở chỗ vì chủ trương "sự giữ tiệm tu" và "hằng rèn giới hạnh công phu"những người tu thiền theo quan điểm Minh Châu Hương Hải có thể thực hành một số những pháp môn khác nhau ngoài những lối tu, công án hay mặc chiếu, mà thiền Trung quốc đã đề rạ và nó cũng nhất quán ở chỗ nó đã xuất phát từ truyền thống thiền tông Việt Nam mà vào thời ông đã có một bề dày lịch sử trên cả ngàn năm, và đã hình thành một số quan điểm và phương pháp tu hành không phải hoàn toàn rập khuôn theo quan điểm phương pháp tu thiền của Trung quốc. Chính trong xu thế này mà Minh Châu Hương Hải đã phát biểu ý kiến của mình bằng thơ và văn tiếng Việt mà hiện tại ta đã tìm thấy 4 tác phẩm đã nói ở trên .


From: Ratngudot@aol.com 
Reply-To: hoasen-1@egroups.com
To: hoasen-1@egroups.com Save Address
Subject: [hoasen-1] Ðo.c sa'ch
Date: Sun, 10 Dec 2000 10:33:10 EST

..... "...thân gầy mi đậm sờ sờ... "Rồi đến Trần Nhân Tông khi viết Cư trần lạc đạo phủ, cũng không quên căn dặn :
Tịnh độ là lòng trong sạch
Chớ còn ng hỏi đến Tây phương
Di Ðà là tính sáng soi
Mựa phải nhọc tìm về Cực lạc
Chính trong truyền thống tư tưởng tịnh độ như thế, mà Minh Châu Hương Hải đã cho dịch giải Phật thuyết A di đà kinh sớ sao, mà Hương Hải thiền sư ngữ lục gọi là Giải Di Ðà kinh và Giải Vô lượng thọ kinh. Nói tóm lại, khi thích giải các kinh điển, Minh Châu Hương Hải đã tiếp thu các tư tưởng truyền thống thiền Việt Nam để tạo cho các bản thích giải này một sắc diện mới trong nhận thức kinh điển của những người Phật giáo thiền tông nước ta...."

Kính thưa quý đạo hữu ,

Vì mắt tôi rất yếu , nếu nhìn lâu trên màn ảnh , mắt sẽ mờ tịt , không còn thấy r chữ nữa . Cho nên nhân đây , xin cảm ơn đạo hữu Hòa đã trích từ sách Toàn Tập Minh Châu Hương Hải của tác giả Lê Mạnh Thát , nhờ vậy , tôi đã được đọc một đoạn .

Tôi có vài thắc mắc , xin đem ra đây để chúng ta cùng thảo luận , xin quý đạo hữu hoan hỷ :

1---Về sự khác biệt giữa các thiền sư Việt Nam và Trung Hoa qua sự dịch kinh điển , có thể vì nếu thiền sư Trung Hoa muốn làm công việc " dịch kinh " , họ phải là những người rất giỏi chữ Phạn , để dịch những kinh sách chưa được lưu truyền , từ chữ Phạn qua chữ Hán. Những kinh sách đã được lưu truyền thì đã là chữ Hán , do các ngài Cưu Ma La Thập , Huyền Trang ...vân vân ...và nhiều dịch giả khác , dịch xong rồi , người dân Trung Quốc dĩ nhiên là hiểu được chữ Hán , vì là chữ của nước họ , nên không còn cần dịch ra thứ tiếng nào khác nữa . Nhưng , về phía các thiền sư Việt Nam thì lại khác , chữ Hán không phải là quốc ngữ của chúng ta , cho nên các thiền sư Việt Nam , nếu muốn hành bồ tát đạo , muốn cho dân chúng biết con đường giải thoát do đức Bổn Sư Thế Tôn đã tìm ra , các ngài phải dịch kinh từ chữ Hán thành chữ Việt để giúp những người không hiểu được chữ Hán .
2---Viết rằng :
..."...Những người Phật giáo thiền tông Việt nam như vậy không đi đến cực đoan coi mọi kinh giáo là không phản ánh đầy đủ tư tưởng cốt l i của đức Phật , và chỉ có việc truyền tâm ấn mới phản ảnh trọn vẹn , như đã ít nhiều xuất hiện trong lịch sử thiền tông Trung quốc ..."...(trong bài đã dẫn).

Xin góp ý :
---Ðức Phật đã nói rằng kinh sách là ngón tay để chỉ mặt trăng . Các hành giả Trung Hoa khi bước vào cửa thiền , phần lớn đã là những tu sĩ lâu năm , đã " văn" , " tư " kinh sách nhuần nhuyễn , đã nghiên cứu ngón tay kỹ lưỡng rồi . Nay các vị đó cần phải bỏ ngón tay xuống để " tu " để " vào mặt trăng " . Kinh sách như bản đồ . Người lái xe cần có bản đồ chỉ đường để nghiên cứu , nhưng không thể vừa cầm bản đồ vừa lái xe ! Kinh giáo phản ánh đầy đủ " tư tưởng cốt l i " chứ , nếu không , thì các thiền sư đã không có đủ niềm tin để mà buông bỏ đời sống hiện tại , buớc lên con đường gian nan , cô đơn , hành trì miên mật như gà ấp trứng vài ba chục năm ! Nhưng kinh giáo chỉ phản ánh đầy đủ " tư tưởng cốt l i " thôi , kinh giáo không thể thay thế hành giả " hành-thâm bát-nhã ba-la-mật " để " chiếu kiến ngũ uẩn giai không , độ nhất thiết khổ ách " được . Nếu nói rằng các thiền sư TrungHoa coi nhẹ kinh sách , tôi e rằng oan cho chư thiền sư Trung Hoa !

3---Viết rằng :
..." ...Ðiểm nổi bật vẫn là xuất phát từ cái nền Phật giáo quyền năng ......vừa phát huy những mặt tích cực của nền Phật giáo quyền
năng đó.."...

Xin thưa :
---Có những tôn giáo tự cho rằng giáo chủ của họ có quyền năng , có thể ban thưởng hoặc trừng phạt những người tin hoặc không tin . Có người thắc mắc rằng :" Nếu thế , giáo chủ đó không có lòng từ bi , vì nếu có quyền năng thay đổi cục diện như vậy , sao nỡ nhẫn tâm để những cảnh khốn khổ , tàn bạo , phi luân xảy ra đầy dẫy trên thế giới ? " Vậy đề cao một nền "Phật giáo quyền năng " có thật là mục tiêu của đạo Phật không ? Nếu mỗi người Phật tử đều tin sâu nhân quả, có lẽ giúp ích nhiều cho họ trên con đường tu hành , và là căn bản đạo đức trong đời sống tương đối này .

4---Muốn hiểu quan điểm của ngài Trần Nhân Tông về Tịnh Ðộ , có lẽ chúng ta nên đọc lại bài kệ của ngài ( trong bài trích dẫn ):

" Tịnh Ðộ là lòng trong sạch
Chớ còn ng.. (?) hỏi đến Tây phương
Di Ðà là tính sáng soi
Mựa phải nhọc tìm về Cực lạc ..."

Kính chúc quý đạo hữu thân tâm an lạc .

Ratngudot


From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com> 
Reply-To: hoasen-1@egroups.com
To: <hoasen-1@egroups.com>, <vn-buddhism@saigon.com> Save Address
Subject: [hoasen-1] Tho+ Thie^`n cu?a TS Hu+o+ng Ha?i
Date: Sun, 10 Dec 2000 16:33:33 -0800

Chào quý đạo hữu,

Hôm trước tôi đã có post một bài kệ của thiền sư Hương Hải (1628-1715) :

Kệ

Tầm ngưu tu phỏng tích
Học đạo quý vô tâm
Tích tại ngưu hoàn tại
Vô tâm đạo dị tầm .

Nghĩa :

Tìm trâu nên theo dấu
Học đạo quý vô tâm
Dấu còn trâu còn đó
Vô tâm đạo dễ tầm .

Vô Tâm là tư tưởng Thiền nổi bật trong thơ của thiền sư Hương Hải, và đã đước ngài diễn tả trong như sau :
" Phàm người ta phần nhiều vì sự cho nên làm ngăn chận lý, vì cảnh mà ngăn chận tâm, muốn trốn chạy cảnh để tìm sự an tâm, quên sự giữ lý, mà không biết rằng chính tâm của họ ngăn chận cảnh , lý của họ ngăn chận sư. Nếu họ biết làm cho tâm không thì tự nhiên cảnh cũng không, làm cho lý lặng thì tự nhiên sự cũng lặng, cảnh không còn chế ngự được tự tâm nữa ".

Trong một bài thơ dài của ông có hai câu :

"Phiền não nhân tâm cố hữu
Vô tâm phiền não hà cư "
(Phiền não do tâm mà có
Vô tâm phiền não ở đâu )

Vô tâm ở đây không phải là sự hững hờ , thiếu lưu tâm, chú ý, mà là cái thấy sáng suốt không mắc kẹt bởi tư kiến, tư dục, không bị khuynh hướng nhị nguyên điều khiển. Ðốí với cái thấy "vô tâm" ấy thì không còn có sự phân biệt giữa chủ thể và đốí tượng, tâm và cảnh, có và không, chân và vọng. Hình ảnh đẹp nhất về vô tâm là hình ảnh mà Hương Hải trình bày cho vua Lê Dụ Tông nghe, khi vua hỏi về thâm ý của đạo
Phật :

" Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm ".

( Nhạn bay ngang trời
Bóng chìm đầm lạnh
Nhạn không có ý để lại dấu tích
Nước không có ý lưu giữ bóng hình ).

(Viê't theo Việt Nam Phật giáo Sử Luận của Nguyễn Lang )

Hòa


Ðọc Thêm: Bài "Ảnh Trầm Hàn Thủy" chú giải một pháp thoại giữa Thiền Sư Hương Hải (1628-1715), dòng Trúc Lâm, và vua Lê Dụ Tông. Bài này chỉ pháp cho hàng thượng căn (Vài Chú Giải Về Thiền Ðốn Ngộ của Nguyên Giác Phan Tấn hải).
 


x

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap
Xx
Xx