| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
c
![]()
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
Chào quý đạo hữu, Thư viện Hoa Sen vừa giới thiệu Toàn Tập Minh Châu Hương Hải của Lê Mạnh Thát. Ở Chương III, phần Nội Dung Thơ Văn, tôi đọc thấy có nhiều điểm thú vị , liên quan với một số vấn đề được nói đến trên diễn đàn mấy hôm nay. Như thiền sư Hương Hải cũng truyền dạy Tịnh Ðộ, dịch nhiều kinh sách Tịnh độ ra quốc âm (tiê'ng Việt), trong đó có bộ "Phật thuyết A Di Ðà kinh Sớ sao" được dịch là Giải Di Ðà kinh. Tài liệu cũng cho biết Tịnh độ có mặt rất sớm ở nước ta, trước kia đã tưởng chỉ từ đời nhà Lý trở về sau nàỵ Tôi trích lại một đoạn giới thiệu tư tưởng mới lạ của Hương Hải về Thiền và Tịnh độ Hòa 2.Về quan điểm thiền Phật giáo Bản thân Minh Châu Hương Hải là một vị thiền sư, và với pháp danh Minh Châu, ông thuộc về Thiền phái Lâm Tế dòng Trí Bảng Ðột Không, với bài kệ truyền pháp như ta đã thấy ở trên. Tuy thế, qua bảng liệt kê các tác phẩm kê trước, ta thấy ông tỏ ra quan tâm và quán xuyến các kinh điển của các trường phái khác nhau trong Phật giáo. Không những ông dịch kinh Kim Cang, mà còn dịch cả kinh Pháp Hoa, kinh Di Ðà, kinh Vô lượng thọ, kinh Ðịa tạng v.v...Ngoài ra, còn có Giải Sa di giới luật, lại viết Nghi thức cúng Phật Dược sư, cúng Cửu phẩm v.v...điều này chứng tỏ một lần nữa Minh Châu Hương Hải đã nằm trong dòng chủ lưu của thiền Phật giáo Việt Nam, không bị ảnh hưởng nhiều của các dòng thiền Trung quốc. Nói khác đi, một trong những nét khác biệt giữa thiền Trung Quốc và thiền Việt Nam ngay từ đầu cho đến những phát hiện về sau là không loại bỏ việc học và tụng niệm các kinh điển Phật giáo, trong khi vẫn tự nhận mình là tu học theo thiền. Trong lịch sử thiền tông Trung Quốc ta hầu như không bao gi gặp một vị tổ nào vừa là thiền sư lại vừa là dịch giả.Nhưng vị tổ thiền đầu tiên của Việt Nam là Tỳ Ni Ða Lưu Chi là người dịch các kinh Tượng đầu tinh xá, Báo nghiệp sai biệt v.v...Rồi các vị thiền sư Việt Nam về sau như Pháp Thuận (925-990) viết Bồ tát hiệu sám hối văn, Viên Chiếu (999-1090) viết Tán viên giác kinh, Thập nhi. Bồ tát hạnh tu chứng đạo tràng và Dược sư thập nhị nguyện văn [Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản TpHCM, 1999, tr.194, 195, 250, 252, 262], Pháp Loa (1284-1330) đã viết Pháp Hoa kinh khoa sớ, Niết bàn đại kinh khoa sớ, Kim Cang trưng đà la ni kinh khoa chú, Bát nhã tâm kinh khoa sớ v.v...truyền thống thiền học Việt Nam như vậy có một dấu ấn sâu đậm, tác động lên những ngưi Phật giáo thiền tông Việt Nam về sau. Minh Châu Hương Hải đã kế thừa truyền thống này và phát huy nó lên một điểm cao mới, đó là chính thức giải quyết các kinh điển ấy ra bằng tiếng Việt mà ta hiện tìm thấy . Những người Phật giáo thiền tông Việt Nam như vậy không đi đến cực đoan coi mọi kinh giáo là không phản ánh đầy đủ tư tưởng cốt l i của Ðức Phật, và chỉ có việc truyền tâm ấn mới phản ảnh trọn vẹn, như đã ít nhiều xuất hiện trong lịch sử thiền tông Trung Quốc. Trong lịch sử
Phật giáo thiền tông Việt Nam, mọi kinh điển đều được
đánh giá cao, nhưng được học tập và nghiên cứu với một
nhận thức thiền tông. Cho nên Minh Châu Hương Hải đã viết
các bản giải thích bằng tiếng Việt về những kinh điển
tiêu chuẩn Phật giáo, từ Di Ðà cho đến Kim Cang, từ Pháp
Hoa cho đến Dược Sư, đây là một nét đặc trưng ta cần
chú ý đến khi nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam. ..
Thực tế tư tưởng tịnh độ và thực tiễn tịnh độ xuất
hiện rất sớm trong lịch sử nước ta. Ngay từ những năm
425, Ðàm Hoằng đã từ mi"n Bắc Trung quốc đến chuyên tu
pháp môn tịnh độ tại chùa Tiên Sơn ở Bắc Ninh, đến thi
Lý tín ngưỡng A di đà phát trin mạnh. Có những ngôi chùa
thi"n chỉ thờ tượng Ðức Phật A di đà mà thôi, cụ thể
là chùa Viên Quang của thiền sư Giác Hải mà may mắn tấm
bia nhan đề "Viên Quang tự bi minh tịnh tự" do Dĩnh Ðạt viết
vào năm Thiên phù duệ vũ thứ ba (1122) hiện đã tìm thấy:"Thê'
là thợ thuyền họp lại như mây, gỗ đá chất cao như núi,
búa rìu đẽo gọt mà hoa' ra cung tri; vàng biếc điểm tô mà
trở nên điền báo. Tọa giữa là Giáo chủ Di Ðà mắt xanh
mày trắng lung linh, kế bên vẽ hình thượng nhân trụ thế,
thân gầy mi đậm sờ sờ... "Rồi đến Trần Nhân Tông khi
viết Cư trần lạc đạo phủ, cũng không quên căn dặn :
Chính trong truyền thống tư tưởng tịnh độ như thế, mà Minh Châu Hương Hải đã cho dịch giải Phật thuyết A di đà kinh sớ sao, mà Hương Hải thiền sư ngữ lục gọi là Giải Di Ðà kinh và Giải Vô lượng thọ kinh. Nói tóm lại, khi thích giải các kinh điển, Minh Châu Hương Hải đã tiếp thu các tư tưởng truyền thống thiền Việt Nam để tạo cho các bản thích giải này một sắc diện mới trong nhận thức kinh điển của những người Phật giáo thiền tông nước ta. Ðiều đáng tiếc là ngày nay các bản thích giải như Giải Ðịa Tạng kinh hay Giải Phật Tổ tam kinh vẫn chưa được tìm ra. Cho nên, ta chưa thể lý hội hết cách xử lý của Hương Hải như thế nào đối với các tín ngưỡng như tín ngưỡng Ðịa Tạng. Cũng thế, đối với tín ngưỡng Dược Sư do chưa tìm được Soạn cúng Dược sư, ta không biết ông đã có quan niệm gì về Ðức Phật này với tư cách là một thiền sư. Ðiểm nổi bật vẫn là xuất phát từ cái nền Phật giáo quyền năng hình thànhvào những thế kỷ đầu của sự có mặt Phật giáo tại nước ta, những người Phật giáo thiền tông về sau, trong đó có cả Minh Châu Hương Hải, đã xây dựng cho mình một dòng thiền dân tộc, vừa kết hợp tinh hoa của Phật giáo thế giới, vừa phát huy những mặt tích cực của nền Phật giáo quyền năng đó . Nội dung tư tưởng thiền của Minh Châu Hương Hải, do thế, không phải tản mạn, như nhan đề những tác phẩm thích giải kinh điển của ông để lại. Trái lại, nó có tính nhất quán, nhất quán ở chỗ vì chủ trương "sự giữ tiệm tu" và "hằng rèn giới hạnh công phu"những người tu thiền theo quan điểm Minh Châu Hương Hải có thể thực hành một số những pháp môn khác nhau ngoài những lối tu, công án hay mặc chiếu, mà thiền Trung quốc đã đề rạ và nó cũng nhất quán ở chỗ nó đã xuất phát từ truyền thống thiền tông Việt Nam mà vào thời ông đã có một bề dày lịch sử trên cả ngàn năm, và đã hình thành một số quan điểm và phương pháp tu hành không phải hoàn toàn rập khuôn theo quan điểm phương pháp tu thiền của Trung quốc. Chính trong xu thế này mà Minh Châu Hương Hải đã phát biểu ý kiến của mình bằng thơ và văn tiếng Việt mà hiện tại ta đã tìm thấy 4 tác phẩm đã nói ở trên .
From:
Ratngudot@aol.com
.....
"...thân gầy mi đậm sờ sờ... "Rồi đến Trần Nhân Tông
khi viết Cư trần lạc đạo phủ, cũng không quên căn dặn
:
Kính thưa quý đạo hữu , Vì mắt tôi rất yếu , nếu nhìn lâu trên màn ảnh , mắt sẽ mờ tịt , không còn thấy r chữ nữa . Cho nên nhân đây , xin cảm ơn đạo hữu Hòa đã trích từ sách Toàn Tập Minh Châu Hương Hải của tác giả Lê Mạnh Thát , nhờ vậy , tôi đã được đọc một đoạn . Tôi có vài thắc mắc , xin đem ra đây để chúng ta cùng thảo luận , xin quý đạo hữu hoan hỷ : 1---Về sự khác
biệt giữa các thiền sư Việt Nam và Trung Hoa qua sự dịch
kinh điển , có thể vì nếu thiền sư Trung Hoa muốn làm công
việc " dịch kinh " , họ phải là những người rất giỏi
chữ Phạn , để dịch những kinh sách chưa được lưu truyền
, từ chữ Phạn qua chữ Hán. Những kinh sách đã được lưu
truyền thì đã là chữ Hán , do các ngài Cưu Ma La Thập , Huyền
Trang ...vân vân ...và nhiều dịch giả khác , dịch xong rồi
, người dân Trung Quốc dĩ nhiên là hiểu được chữ Hán
, vì là chữ của nước họ , nên không còn cần dịch ra thứ
tiếng nào khác nữa . Nhưng , về phía các thiền sư Việt
Nam thì lại khác , chữ Hán không phải là quốc ngữ của
chúng ta , cho nên các thiền sư Việt Nam , nếu muốn hành bồ
tát đạo , muốn cho dân chúng biết con đường giải thoát
do đức Bổn Sư Thế Tôn đã tìm ra , các ngài phải dịch
kinh từ chữ Hán thành chữ Việt để giúp những người không
hiểu được chữ Hán .
Xin góp ý :
3---Viết rằng
:
Xin thưa :
4---Muốn hiểu quan điểm của ngài Trần Nhân Tông về Tịnh Ðộ , có lẽ chúng ta nên đọc lại bài kệ của ngài ( trong bài trích dẫn ): " Tịnh Ðộ là
lòng trong sạch
Kính chúc quý đạo hữu thân tâm an lạc . Ratngudot
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
Chào quý đạo hữu, Hôm trước tôi đã có post một bài kệ của thiền sư Hương Hải (1628-1715) : Kệ Tầm ngưu tu phỏng
tích
Nghĩa : Tìm trâu nên theo
dấu
Vô Tâm là tư
tưởng Thiền nổi bật trong thơ của thiền sư Hương Hải,
và đã đước ngài diễn tả trong như sau :
Trong một bài thơ dài của ông có hai câu : "Phiền não nhân
tâm cố hữu
Vô tâm ở đây
không phải là sự hững hờ , thiếu lưu tâm, chú ý, mà là
cái thấy sáng suốt không mắc kẹt bởi tư kiến, tư dục,
không bị khuynh hướng nhị nguyên điều khiển. Ðốí với
cái thấy "vô tâm" ấy thì không còn có sự phân biệt giữa
chủ thể và đốí tượng, tâm và cảnh, có và không, chân
và vọng. Hình ảnh đẹp nhất về vô tâm là hình ảnh mà
Hương Hải trình bày cho vua Lê Dụ Tông nghe, khi vua hỏi về
thâm ý của đạo
" Nhạn quá trường
không
( Nhạn bay ngang
trời
(Viê't theo Việt Nam Phật giáo Sử Luận của Nguyễn Lang ) Hòa
Ðọc Thêm: Bài "Ảnh Trầm Hàn Thủy" chú giải một pháp thoại giữa Thiền Sư Hương Hải (1628-1715), dòng Trúc Lâm, và vua Lê Dụ Tông. Bài này chỉ pháp cho hàng thượng căn (Vài Chú Giải Về Thiền Ðốn Ngộ của Nguyên Giác Phan Tấn hải). |
c
|
|||||||||||||||||||||||