| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
c
![]()
KIẾN BẤT NĂNG CẬP From:
"HTT <ho_trungtu@y...>" <ho_trungtu@y...>
HTT
From:
"phamdluan2000 <phamdluan@a...>" <phamdluan@a...>
Dear huynh HTT, KKT: Không biết câu này của ai và xuất xứ từ đâu ? Từ trước đến giờ câu này vẫn là một điều đáng suy nghĩ trong việc tu hành, đó là tại sao chỉ << biết >> thôi không đủ để << đắc đạo >> ? Thời nay con người thông minh hơn thời xưa rất nhiều (cứ nhìn các thế hệ con nít bây giờ lại thêm phương tiện truyền thông sẵn có nên một người có thể thủ đắc rất nhiều kiến thức. Muốn hiểu thấu Phật pháp thời nay không còn khó như xưa, cứ vào mấy website đọc là << nổ con mắt >> luôn ! Tuy nhiên tại sao vẫn không << làm >> được những điều mình << biết >> ??? Tại sao << biết >> và << làm >> không bao giờ đi đôi được ??? Vương Dương Minh ngày xưa cũng đã nghĩ đến chuyện này nên ông mới nói đến << Tri Hành Hợp Nhất >> Theo VDM thì nếu Tri mà không có Hành theo kịp thì cái Tri đó chưa thật sự là Tri ! Thuyết của VDM là << Trí Lương Tri >> và Lương Tri ở đây là cái Tri có Hành theo kịp. Theo KKT thì thật ra vấn đề không khó giải thích nếu nhìn dưới quan điểm sau đây đó là << con người là một sinh vật có 3 trung tâm sinh hoạt << riêng biệt và độc lập >> là: thể xác, tình cảm, tri thức >> Cái gọi là Biết/Kiến/Tri chỉ thuộc về Tri Thức nên không ảnh hưởng gì đến Tình Cảm cả ! Một bằng cớ là đọc Kinh sách biết rằng nổi Sân là không tốt (đây là cái biết của Tri Thức) nhưng thực tế vẫn nổi Sân ! ) (đây là thuộc về Tình Cảm) Bởi vậy mà trong PG mới nói đến một cái << Biết >> siêu việt gọi là Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức là một cái Biết mà khi có nó thì nó << thay đổi toàn diện >> con người mình !!! (tức là phá được << tập khí >> Cái BNBLMD này có lẽ cũng trong cùng một ý với cái Lương Tri của VDM vậỵ KKT PS. Hello anh Tâm Diệu, Trong Thu Vien Hoa Sen còn thiếu Kinh Đại Bát Nhã, bản dịch của HT Thích Trí Tịnh. Quý vị nào thích tu << Huệ >> đọc Kinh này sẽ rất thích vì mở Kinh ra từ trang đầu đến trang cuối chỉ toàn nói đến BNBLMD mà thôi ! Hi anh KKT: Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen sẽ thực hiện công tác đánh máy bộ kinh này và bộ kinh Đại Bát Niết Bàn sau khi hoàn tất hai bộ kinh lớn: Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Đại Bảo Tích (đã hoàn tất 95 phần trăm).
Ban biên tập TVHS trả lời: Bốn chữ “kiến bất năng cập”nằm trong một đoạn kinh văn trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển thứ 2 trong bộ 10 quyển. Nguyên văn chữ Hán như sau: “Thị cố A Nan! nhữ kim đương tri: kiến minh chi thời, kiến phi thị minh; kiến ám chi thời, kiến phi thị ám; kiến không chi thời, kiến phi thị không; kiến tắc chi thời, kiến phi thị tắc; tứ nghĩa thành tựu, nhữ phục ưng tri, kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến; kiến do ly kiến, kiến bất năng cập...” Dịch Nghĩa: Cư sĩ Tăng Phụng Nghi; Dịch giả: Thiền sư Nhẫn Tế: "Cho
nên, Anan, bây giờ ông nên biết rằng :
Bốn nghĩa đó đã thành rồi, ông lại nên biết: khi Thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy đó chẳng phải là Tánh Thấỵ Cái Thấy mà do lìa tướng Thấy, đó là Tánh Thấy Siêu Việt (Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập). "Vậy thì làm sao lại nói các tướng Nhân Duyên, Tự Nhiên hay Hòa Hợp ?" Tông Thông rằng : "Chỗ này Đức Thế Tôn hiển bày Đệ Nhất Nghĩa Đế, cái gọi là Con Đường Bồ Đề Nhiệm Mầụ Kiến và Kiến Duyên đủ năm thứ nghĩa : Sáng, Tối, Hư Không, Ngăn Bít là bốn thứ; Kiến Duyên và Kiến Tinh (cái Thấy) là một thứ Vọng Kiến. Thế Tôn ở chỗ này mà lựa ra cái Kiến Tinh chẳng phải là bốn thứ Sáng, Tối, Không, Bít. Lấy bốn nghĩa này suy ra để rõ được cái Thấy lìa duyên trần mà vẫn tự có. Ngay ở đây lại lựa ra cái Chơn Kiến (Tánh Thấy) soi rõ Kiến Tinh, là cái mà cái Thấy không thể bì kịp. Đây chính là mặt trăng thứ nhất, cho nên cái Thấy vẫn còn là vọng. A ha ! Cái Chơn Kiến còn lìa cả mọi tướng thấy thì chỗ nào có hơi thở, bóng dáng gì để theo đó mà mô phỏng ra nó ? Nói Nhân Duyên, nói Tự Nhiên, nói Hòa Hiệp, há chẳng là hư vọng ư ? Tổ
Bá Trượng hỏi vị tăng :
Đáp
:
Tổ
Trượng rằng :
Đáp
:
Tổ
Trượng nói :
Lại nữa, kinh Bảo Tích nói : --
"PHÁP THÂN chẳng có thể lấy Thấy, Nghe, Hay, Biết
mà tìm cầụ
Bản dịch của Hoà Thượng Duy Lực như sau: - Ta
thuyết những tướng nhân duyên của thế gian chẳng phải
đệ nhất nghĩạ A Nan, ta lại hỏi ngươi: người thế gian
nói "tôi thấy", vậy cho thế nào gọi là thấy, thế nào gọi
là chẳng thấy
Hoà Thượng Duy Lực lược giải: Hai
chữ Kiến Kiến tức là bản kiến tự hiện, chẳng có năng
kiến, sở kiến, Phật đã giải thích kỹ càng trong quyển
nhì này; nếu có năng sở, đều là kiến bệnh đã thành từ
vô thỉ, có năng kiến năng giác đều là bệnh. Vì bản kiến
bản giác chẳng ở trong bệnh mới gọi là kiến kiến, tức
là kiến tánh. Tự tánh chẳng phải sở kiến, nên cũng chẳng
có năng kiến để kiến tự tánh, vậy lúc kiến kiến (Kiến
kiến chi thời), dù nói kiến nhưng chẳng phải là kiến (Kiến
phi thị kiến), vì chẳng có năng kiến và sở kiến, cho nên
nói kiến còn phải lìa kiến (kiến do ly kiến), vì Năng kiến
chẳng thể thấy đến, nên nói Kiến bất năng cập.
Hoà Thượng Thích Chơn Giám Chùa Bích Liên gỉai như sau: Đây là Phật đem bốn cái Sáng, Tối, Sắc, Không mà suy luận cho ông A Nan rõ ràng: vốn cái tánh thấy nó vẫn ly tất cả bốn trần ấy thì đủ biết cái tánh thấy không thuộc về duyên sanh rồi. Cái tánh thấy tuy không thuộc về duyên sanh nhưng còn thuộc về nghiệp thức biến hiện , nghĩa là còn cách với tánh diệu giác một từng, nên Phật mới nhân tiện phá nữa. Đại ý nói rằng: Tánh ở trong cái thấy, kêu là kiến tinh; tánh ly cái thấy ra, có thể thấy được cái thấy, cho nên thấy sáng, thấy tối, thấy sắc, thấy không, mà cái thấy lại chẳng phải là sáng, tối, sắc, không, vì đó là kiến tinh. Vì kiến tinh mà nó còn ly duyên thay, huống chi cái chơn kiến còn thấy được cả kiến tinh, như thế là nó đã xa lìa kiến tinh ra rồi mà kiến tinh cũng không thể theo kịp được, thì há có lẽ nào lấy các pháp hý luận là nhơn duyên, tự nhiên và hoà hiệp ấy mà vọng kể? Chơn kiến là duyên theo cảnh chơn như, lý trí in một, năng sở không chia, cho nên gọi là chơn. Còn kiến tinh là duyên theo cảnh ở ngoài, do nơi nghiệp thức biến hiện, năng sở rõ ràng nên gọi là vọng. Trong lúc cái chơn kiến đã rõ rệt thì quyết không có cái vọng kiến đối lập mà làm ra cái chỗ thấy, cũng như người ngủ mê khi tỉnh thức rồi thì rõ biết cái trước đó là mộng. Nếu đã biết là mộng, thì còn đâu phải là mộng nữa, cho nên nói rằng: Đang lúc chơn kiến thấy vọng kiến thì chơn kiến chẳng phải là vọng kiến. Song phải hiễu rằng: Tại sao hồi trước Phật lại hiển kiến tinh mà không hiển chơn kiến? Vì thể chơn kiến rất tịnh, rất diệu, mà tâm chúng sanh còn trược, còn thô, khó lãnh hội đặng, nên Phật mới mượn kiến tinh mà hiển chơn kiến. Nay
Phật thấy ông A Nan và đại chúng đã khai ngộ được nhiều,
sợ nhận theo kiến tinh mà không rõ thấy được mật ý của
Phật, nên Phật mới trực chỉ chơn kiến không phải là cùng
một thể với kiến tinh. ... Phật khuyên ông A Nan và đại
chúng phải đem hết nghị lực tiến thủ, do nơi con đường
chơn kiến ly kiến của Phật đã khai thị đó mà thẳng tới
địa vị bồ đề... (Trích đoạn:
Chú thích của BBT: Chúng ta nên để ý những từ kép như: tánh thấy, cái thấy, kiến tinh, chơn kiến, kiến kiến, và vọng kiến: Tánh
Thấy = Chơn Kiến
Chữ Kiến Kiến, Hoà thượng Duy Lực giảng rằng: “Có người cho chữ kiến trước là năng, kiến sau là sở, nhưng sự thật thì “Kiến Kiến” là kiến tánh, là cái kiến không có bệnh, nay nếu dùng cái tri kiến có bệnh để thảo luận vấn đề này thì hết kiếp này qua kiếp khác cũng không giải được. Tri kiến của chúng sanh là cái bệnh từ vô thỉ đến nay, do con mắt bệnh mới thấy hoa đốm trên không, cho nên nói “Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do ly kiến, kiến bất năng cập”. Hai chữ Kiến Kiến là tự tánh tự hiện, là kiến tánh, chứ chẳng phải có người dùng cái năng kiến để kiến cái sở kiến. (Duy Lực Ngữ Lục, Thành Hội PG TP Hồ Chí Minh xuất bản 2000, trang 82)
From:
"HTT <ho_trungtu@...>" <ho_trungtu@...>
Nhân đọc thấy một giai thoại thiền liên quan đến Kiến bất năng cập trong Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 của HT Thích Thanh từ, tôi xin có mấy ý sau. Thiền sư Thiệu Long đến tham vấn Viên Ngộ. Viên Ngộ dẫn một câu trong kinh Lăng Nghiêm nói: "Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập", liền đưa tay lên hỏi: "Thấy không?" Sư thưa: "Thấy." Viên Ngộ bảo: "Ðầu lại thêm đầu." Viên Ngộ hỏi tiếp: "Thấy cái gì?" Sư thưa: "Tre dày không ngại nước chảy qua." (Trúc mật bất phòng lưu thủy quá.) Viên Ngộ gật đầu. Ngài Thanh Từ diễn giải "Nguyên văn câu kinh đại khái nói: "Khi thấy được cái bị thấy, cái hay thấy chẳng phải là cái bị thấy, cái hay thấy vẫn xa rời cái bị thấy, cái bị thấy không thể theo kịp". Thiền sư liền đưa tay hỏi: "Thấy không?" Thông thường ai cũng bảo là thấy. Nói thấy, Thiền sư bảo: "Ðầu lại thêm đầu." Tại sao? Nếu chỉ thấy khi cái tay đưa lên, lúc tay không đưa lên là chẳng thấy sao? Muốn nghiệm kỹ là người bị vật chuyển hay đã chuyển vật, Thiền sư hỏi: "Thấy cái gì?" Nếu là người bị vật chuyển như chúng ta, nhất định phải đáp: "Thấy cái tay." Song Thiền sư lại đáp: "Tre dày không ngại nước chảy qua." Tại sao thế? Bởi vì Thiền sư khi thấy vật vẫn không quên tánh thấy của mình, như có tre mà nước vẫn chảy. Quả là người chuyển được vật, nên Viên Ngộ gật đầu. Thế là Thiền sư đã giải thích kinh và ứng dụng kinh một cách tài tình". ( Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20, trang 158 NXB TPHCM ) Chẳng hiểu tại sao ngài Thanh Từ lại dịch "Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập" một cách rắc rối khó hiểu đến vậy mặc dù ngài là người dịch kinh sách vào loại số một cả nước ? Tại sao không dịch : "Cái chuyện thấy ở đời có cái thấy ngoài cái thấy, có cái thấy lại càng xa rời cái thấy, và cái thấy được là cái không thể đến " có phải dễ hiểu hơn không ? Nói câu ấy xong Viên Ngộ mới kiểm tra trình độ sở đắc của Thiệu Long bằng cách đưa tay lên rồi hỏi "Thấy không?". Với cái tâm đã đạt đến vô phân biệt Thiệu Long biết nói có thấy cũng sai mà nói không thấy cũng sai. Với cái tâm vô ngại ngài nói, cũng chẳng suy nghĩ tính toán tài tình gì đâu, ngài nói "Thấy !". Dĩ nhiên là thấy chứ sao không được . Nói không, một là mù hai là rơi vào đoạn diệt. Ngài Thanh Từ trong trường hợp này chắc sẽ nói không ? Vẫn chưa thể khẳng định được sở đắc của Thiệu Long, nên ngài Viên Ngộ mới nói thêm "Ðầu lại thêm đầu" để xem Thiệu Long có còn chấp hữu vi hay không . Thiệu Long nói thình lình như đa số các bậc giác ngộ khác: "Tre dày không ngại nước chảy qua" là để khẳng định rằng tâm mình đã thành khối, kiên cố bất hoại rồi, thử thách thêm phiền ông lão già khọm ạ ! Thật dễ hiểu và rõ ràng, chẳng cần phải tánh thấy, chuyển được vật, hay bị vật chuyển rắc rối khó hiểu. Và ở đây cũng chẳng có gì là giải thích kinh và ứng dụng kinh một cách tài tình cả, các ngài đối thoại với cái tâm vô phân biệt nên ngôn ngữ lúc Có lúc Không, không theo sự phân biệt trên dưới, phải trái của người đời nên đôi chỗ khó hiểu. Thử dẹp cái tâm phân biệt sang một bên ta sẽ thấy mọi chuyện không phải quá khó để hiểu. Tuy vậy , cái cuối cùng, làm cho xong cái sanh tử của đời người thì lại là chuyện khác, chẳng dính dáng gì đến chuyện hiểu cho vui mà chúng ta đang bàn ở đây. Và đến lúc nói được "Gạo trắng rồi chỉ cần cái sàng" như ngài Huệ Năng, hoặc "tre dày không ngại nước chảy qua" như Thiệu Long nói, nói một cách không hề so đo toan tính ứng dụng kinh một cách tài tình mà là tự thân thốt lên bởi tự thân thấy vậy, cảm vậy ; thì đó lại là một chuyện đáng để bỏ cả đời ra đeo đuổi. HTT
|
c
|
|||||||||||||||||||||||