Monday,
September 02, 2002
Lầm
Xin
kể quí vị nghe câu chuyện ngây thơ của tôi.
Vài
tuần trước, tôi chở gia đình người bạn phương xa dạo
Little Saigon, ghé vào khu thương xa Phước Lộc Thọ. Đậu xe
ở sân sau xong, tôi tà tà đi vào gần tới cửa thương xá
thì thấy một nhà sư áo vàng chừng khoảng 30 tới 40 tuổi
đang đứng khất thực. Thấy hay hay nhân có máy ảnh tôi chụp
ổng vài tấm hình. Nhà sư mặc áo khá mới, đi chân đất,
đứng nghiêm chỉnh bất động, mắt nhìn xuống, thật là
đúng sách vở. Tôi tò mó đứng nhìn một hồi. Ông đi qua
bà đi lại khá đông nhưng chẳng thấy ai ngó tới nhà sư.
Lúc nầy cũng đã 11 giờ trưa, tôi thấy chẳng ai cho gì, nghĩ
cũng lạ, không lẽ mình lầm,cứ tưởng đời nay thiên hạ
mến mộ Phật pháp. Chờ một hồi chợt nghỉ bụng thôi thì
đi vào thương xá mua cho ông sư cái gì để ăn kẻo quá ngọ
tội nghiệp ổng, dầu gì mình cũng mắc nợ ổng mấy tấm
hình mà. Vào quầy bánh trái, bụng phân vân không biết mua
gì, chỉ e mình mua phải món có đồ mặn trong đó (thí dụ
dùng mở súc vật đề làm bánh) là diều không nên, dầu rằng
ổng có ăn vào cũng không phạm giới ăn chay vì ổng đâu
có biết. Cuối cùng tôi mua cây bánh in $1.25 đem ra mở bình
bác ông sư đang ôm và định bỏ bánh vào. Tôi chợt thấy
mình lầm, tưởng ông sư nhìn xuống đất cách phía trứoc
chừng 3 thước (giới luật bảo vậy mà), nhưng ổng nhìn
cái xấp chi nhỏ nhỏ như xấp "bùa" của thí sinh đem vào
trong phòng thi đang cầm trong hai ngón tay ôm bình bác, chẳng
biết đó là kinh kệ hay viết cái chi trong đó. Mà tôi cũng
học chưa tới là đứng khất thực như vậy thì có được
đọc kinh hay đầu óc được nghỉ lẩn quẩn chăng, để hỏi
thiện tri thức sau. Nhưng khi nhìn vào bình bác tôi mới tá
hoả, gần nửa bình là đô la giấy, hình như đa số là 1
đồng đô la, nếu nhìn kỷ coi kỳ quá tuy tôi hơi tò mò (bắt
gặp quả tang là tâm chưa thanh tịnh). Ngoài đô la xanh, chẳng
thấy thực phẫm gì. Tay cầm phong bánh thấy ngở ngàng, nghĩ
bụng món nầy đâu còn xứng với nhà sư nửa, trong bụng
lại nghĩ hay mình ăn thay vì cho ổng, tôi thấy nó cũng ngon
mới mua biếu ổng (lại bắt gặp là còn tham ăn, chưa tu được
đâu, ủa mà tôi đâu có tu). Thôi thì cứ bỏ đại vào bình
bác cho xong, lở mở bình bác ra rồi.
Tới
đây mà hết chuyện thì vô duyên quá. Tôi vào thương xá với
mấy người bạn đi loanh quanh một lúc lại ra cửa, tò mò
nhìn lại nhà sư, ông vẫn đứng yên ngay ngắn, nhưng lần
nầy thấy có một nhóm người mở bình bác bỏ vào, không
phải thực phẫm mà là đô la, rồi xá nhà sư một cái. Quả
là các vị nầy tân tiến và thức thời hơn tôi. Tôi lại
phân vân không biết các vị nầy bỏ tiền vào bình bác là
muốn giúp nhà sư có thực phẫm để sống, hay là họ đang
đầu tư như người ta chơi stock high tech mấy năm trước,
một vốn mang về cả triệu tiền lời. Người sau cùng là
một cô khá trẻ mở bình bác bỏ tiền vào rồi xá.
Từ
xa tôi thấy cổ lấy phong bánh in ra khỏi bình bác và xăm
xăm đi lại gốc cây. Khi cổ vừa định bỏ phong bánh xuống
gốc cây gần cửa thì tôi cũng vừa ra tới, còn xa vội nói
:"Cô đưa cho tôi đi". Cổ cầm phong bánh đưa tôi. Không lẽ
ông già ăn mặc đúng kiểu "Việt Nam ngày xưa" nầy lại đi
xin ăn, mà tội nghiệp thiệt, nếu không vậy sao lại xin phong
bánh. Cô gái nói ông sư nhờ tôi bỏ bánh ở đây, lát nửa
ổng về ổng sẽ lấy. Lại lầm lần nửa. Không phải nhà
sư bảo bỏ thùng rác. Cho rồi không lẽ lấy lại, mà liệu
ổng có thèm ăn cái bánh nầy như tôi không. Ờ mà sao phải
đem bánh bỏ vô gốc cây y như bỏ thùng rác, sao nhà sư không
giữ nó trong bình bác... Quí vị trả lời giùm, tới nay tôi
không đoán ra nỗi.
Tôi
kể lại thì thằng con tôi bảo có lần nó cho một nhà sư
khất thực đứng ở cửa chợ, khi mở bình bác ra nó thấy
gần đầy đô la. Chắc nó cho tiền, nó đâu có đọc kinh
điển lỗi thời như tôi mà cúng dường thực phẫm và biết
là sư khất thực đâu được giữ tiền. Trong vòng có một
tiếng đồng hồ mà tôi lầm tới mấy lần, vậy ra tôi không
những đã ngây thơ mà còn lạc hậu nửa. Thời buổi nầy
đâu phải như hồi một ngàn năm trước mà còn cúng dường
thực phẫm và còn lo sợ quá ngọ sư phải nhịn đói tới
ngày hôm sau. Tôi đúng là “ông từ giữ tàng kinh các” như
các bằng hữu gọi. Cuối cùng đó chỉ là chuyện trước
cửa chợ, chẳng ăn chịu chi với qúi vị sư khất thực đâu
nghe, xin đừng gôm lại chung như gôm đủa thì chắc là tôi
phải chịu thêm khẩu nghiệp.
Ít
hàng gởi quí vị đọc cho vui, xin đừng rầy tôi làm nhàm
tai qúi vị. (HCD)
NỘI
DUNG BÀI PHÁT THANH SỐ 29
KHẤT
THỰC
Thưa
quý thính giả,
Ban
biên tập Thư Viện Hoa Sen chúng tôi nhận được thư của
một thính gỉa, nội dung như sau: “Trong một dịp về thăm
quê nhà gần đây, tôi thấy có một vị Sư đứng khất thực
tại trước cửa Đông chợ Bến Thành và vào một dịp khác
ghé thăm khu Little Saigon, miền Nam California, tôi cũng thấy
có một vị Sư áo vàng đứng khất thực trước cổng sau
thương xá Phước Lộc Thọ. Tôi không biết đường lối
khất thực của nhà Phật như thế nào? Khất thực có
phải là đi xin ăn hay đi xin tiền vì tôi thấy có người
bỏ tiền vào bình bát? Xin vui lòng giảng giải cho tôi biết
về pháp khất thực của nhà Phật như thế nào.”
Thưa
quý thính giả,
Việc
đầu tiên của đức Phật sau khi giác ngộ là thành lập Tăng
đoàn gồm những đệ tử xuất gia theo Ngài, những hiền nhân
nay đây mai đó, những người từ bỏ tất cả để học Phật
pháp và hoằng dương giáo lý giải thoát. Họ sống bằng cách
đi
khất thực từ nhà này đến nhà khác, và sở hữu của họ
không có gì ngoài ba chiếc áo và một cái bình bát. Danh từ
khất sĩ có từ đó. Khất Sĩ có nghĩa là khất
thực và khất pháp, tức là xin vật thực của người đời
để nuôi thân và xin Pháp của Phật để tu hành nuôi tâm.
Từ ban đầu, họ không phải là những nhà tu khổ hạnh tự
hành xác để sám hối và không xem lối sống đơn giản tự
nó là cứu cánh mà chỉ là phương tiện để giải thoát những
phiền toái hàng ngày hầu có thể tập trung toàn lực vào
công việc quan trọng duy nhất là đạt giác ngộ cho mình và
giúp ích cho người.
Khất
thực có nghĩa là xin ăn. Cách nuôi thân một cách
chân chính do Phật dạy cho những đệ tử xuất gia. Đó
là thực hành chính mạng thanh tịnh. Tưởng cũng nên
nói thêm ở đây là tu sĩ của một số tôn giáo khác ở xã
hội Ấn Ðộ thời đức Phật còn tại thế, thường dùng
những phương tiện không chính đáng để mưu sinh, bởi lẽ
những công việc ấy nhẹ nhàng, dễ làm, không khó nhọc như
các nghề coi bói toán, xem tinh tú, bùa chú, xem ngày xấu, giờ
tốt, xem phong thổ, địa lý, xây nhà, đào ao, v…v... Ðức
Phật nhận thấy đây là điều không thể chấp nhận và không
phải là việc làm của người tu sĩ Phật giáo, không phải
là hành chánh mệnh thanh tịnh.
Đi
khất thực còn gọi là đi bình bát hay trì bát. Chữ
Bát có nghĩa là đồ dùng để chứa đựng các thực phẩm
chỉ đủ vừa sức ăn cho một người. Bình bát là loại bình
được làm bằng đá, bằng sành, bằng đất sét nung thật
chín rồi tráng men bên trong cho khỏi rỉ nước, chứ không
được làm bằng vàng bạc hay tất cả những kim khí quý,
... Nếu dùng bằng kim khí quý thì không đúng phẩm hạnh của
người xuất gia. Các vị đã phát tâm xuất gia tức là
tập hạnh xả bỏ tất cả, kể cả thân mạng nếu cần và
đúng với chánh pháp, nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân
cầu đạo. Ở các nước theo Nam Tông Phật giáo, chư
Tăng đi khất thực nên thường dùng bình bát. Các nước theo
Bắc Tông Phật giáo thì không đi khất thực nên chỉ dùng
bình bát trong ba tháng an cư kiết hạ, có nơi còn ba tháng
kiết đông nữa; đồng thời, thỉnh thoảng có quý thí chủ
phát tâm cúng dường trai tăng thì cũng dùng bình bát để
cúng Phật trước khi thọ trai.
Chuyến
đi khất thực bao giờ cũng diễn ra vào buổi sáng và chấm
dứt trước giờ ngọ tức trước lúc mặt trời đứng bóng.
Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm, không đứng trước
cửa chợ mà đi theo thứ tự, từ nhà này sang nhà khác, không
phân biệt, mắt nhìn xuống và yên lặng đứng đợi trước
mỗi cửa nhà để xem thức ăn có được đặt vào bình bát
không. Các thí chủ chỉ cúng dường những thức ăn đã được
nấu sẵn, không cúng dường các vật liệu chưa làm thành
món ăn, như cúng cơm chứ không cúng gạo, cúng món rau xào
chứ không cúng bó rau chưa nấu chín. Nếu chưa đủ dùng,
chư vị tiếp tục đi theo hàng dọc đến nhà bên cạnh nhưng
không
được quá bảy nhà. Chư vị không được phép bỏ
sót nhà nào, hoặc dành ưu tiên cho phố xá ở các thị trấn
phồn thịnh, các gia chủ giàu hay nghèo đều phải được
tạo cơ hội đồng đều để gieo trồng phước duyên, cũng
không muốn gây cảm tưởng là chư vị ham thích những khu
phố giàu có vì thức ăn ngon hơn.
Khất
thực xong, các vị trở về tịnh xá để ăn trước khi mặt
trời đứng bóng. Đây là bữa ăn duy nhất trong ngày.
Thông thường thức ăn được phân ra làm bốn phần: một
phần nhường lại cho các bạn đồng tu nếu thấy họ không
có hay có ít, một phần san sẻ cho người nghèo, một phần
dành cho loại chúng sinh không phải là người nhưng sống chung
với người và cuối cùng còn lại là phần mình dùng.
Khi thọ dụng thức ăn các vị Tỷ kheo xem như là việc uống
thuốc để duy trì sự sống mà tu hành, ngon không ham, dở
không bỏ. Thọ dụng cúng phẩm của người đời vừa khỏi
đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ
thiện niệm của họ. Sau bữa ăn, các vị rửa bát, xếp gọn
các y, ngơi nghỉ trong chốc lát, liền lại đến một gốc
cây hay căn nhà trống, hay tịnh thất ngồi thiền định như
hành Tứ niệm xứ hay niệm hơi thở vào, hơi thở ra.
Hằng
năm, chư Tăng ni an cư vào ba tháng mùa mưa. Tất cả trở về
sống chung trong các tịnh xá lớn. Trong thời gian này, chư
Tăng không đi khất thực, đã có thiện nam, tín nữ, đến
tịnh xá "để bát" và lo tứ sự cúng dường. Cứ đến ngày
lễ Bố-tát vào ngày trăng tròn và ngày đầu trăng, chúng
Tỳ kheo cùng sống trong một vùng phải tập họp lại một
chỗ gọi là giới trường để tụng đọc Giới bổn Ba La
Đề Mộc Xoa. Chư Ni thì có đại diện đến xin lãnh giới
ở chư Tăng và trở về tịnh xá riêng của Ni để tụng đọc
Giới bổn Ni. Ngoài ba tháng an cư, chư Tăng được tung
ra khắp các phương hướng, đi đến các trú xứ khác nhau,
trong các quốc độ, vừa khất thực để độ nhật, vừa
thuyết pháp độ sinh, và vừa nỗ lực tinh cần tiếp tục
hành Thiền để đoạn trừ tham sân si.
Thưa
quý thính giả,
Pháp
Khất thực do Phật truyền cho các đệ tử xuất gia phù hợp
với nguyên lý Trung đạo, tức là tránh xa hai cực đoan:
Thứ nhất là tránh xa sự sung sướng thái quá qua việc ăn
thực phẩm do người đời cúng dường để vào trong bình
bát mà không dùng đũa ngọc, chén ngà, bàn cao, ghế đẹp
với thức ăn mỹ vị, và thứ hai là tránh xa sự khổ hạnh
thái quá qua chiếc bát đựng đồ ăn vừa đủ dùng, không
giống như phái tu khổ hạnh lượm trái cây, lượm đồ ăn
dư thừa mà ăn.
Theo
Kinh Phật, sự xin ăn của tu sĩ đem lại lợi ích cho mình
và cho chúng sinh:
Đối
với vị Tỳ kheo khất thực thì có năm điều lợi ích:
(1)
tâm trí được rảnh rang, ít phiền não,
(2)
không
bận rộn tâm và thân để kiếm kế sinh nhai,
(3)
đoạn trừ tâm kiêu căng ngã mạn,
(4)
đoạn trừ lòng tham, không thể tham ăn ngon và ăn nhiều vì
ai cho gì ăn nấy, không thể chọn lựa, thức ăn chỉ đầy
bát chớ không nhiều hơn nữa, tránh khỏi sự thâu trữ vật
thực tiền của và
(5)
có nhiều thì giờ tu hành.
Ngoài
lợi ích cho riêng mình, vị Tỳ kheo khất thực còn mang lại
ba
điều lợi ích cho chúng sinh như:
(1)
tạo cơ duyên cho người bố thí đoạn trừ lòng tham, tức
là tạo phước duyên cho họ,
(2)
tạo cơ duyên giáo hoá chúng sinh, và
(3)
Nêu gương sống giản dị làm cho người đời bớt tham đắm
của cải.
Theo
Kinh Phật, trước khi lên đường khất thực vị khất
sĩ nguyện rằng: “Nguyện cho các vị Khất gỉa thảy đều
được no đủ và nguyện cho các thí chủ thảy đều được
phước báu vô lượng. Như nay tôi được món ăn là dùng
để điều trị cái thân độc hại này, để tu tập thiện
pháp, lợi ích cho thí chủ.”
Trong
khi đi khất thực, vị khất sĩ giữ tâm bình đẳng:
theo thứ tự nhà của dân chúng mà xin ăn, không chỉ đến
xin nơi nhà giầu, cũng không chỉ xin nơi nhà nghèo. Có
lần đức Phật quở Tôn gỉa Ca Diếp bỏ nhà giầu mà xin
nhà nghèo, quở Tôn gỉa Tu Bồ Đề bỏ nhà nghèo mà xin nhà
giầu. Vì trước đó Tôn Giả Ca Diếp nghĩ rằng "người
nghèo thật đáng thương, ít phước, nếu không gieo trồng
phước lành cho họ thì đời sau lại càng khổ hơn, nên đến
đó xin để nhờ đó họ bố thí cúng dường mà được phước
về sau". Trái lại, Tôn giả Tu-Bồ-đề lại cho rằng:
"Người giàu, nếu đời nay không gieo trồng phước lành
thì đời sau lại nghèo khổ." Mỗi vị đều trình bày
lý do của mình, Đức Phật mới quở trách các vị ấy là
bậc A-la-hán có tâm phân biệt, không bình đẳng. Khi
đi vị Khất sĩ không ngó qua ngó lại, không được mở miệng
nói chuyện, đi hết bảy nhà nếu không ai cúng dường cũng
phải trở về với bát không và không ăn ngày hôm đó.
Khi đi khất thực, vị khất sĩ cũng không được để ý xem
mình được cái gì, và cũng không được thỏa mãn cũng như
bất mãn. Nếu một người đàn bà cúng dường đồ ăn,
vị Khất sĩ không được nói, nhìn hay quan sát người
ấy đẹp hay xấu. Đồ ăn cúng dường cho Khất sĩ không
phải luôn luôn nhiều hay ngon lành, hay tinh khiết. Các
chuyến đi khất thực đôi lúc cũng có thể gây nên những
xáo trộn tình cảm cho các Tỳ-kheo trẻ vì đa số thí chủ
là đàn bà con gái. Do đó, việc tự điều phục thân tâm
phải được tăng cường là điều rất cần thiết trong lúc
khất thực, như đức Phật đã nhấn mạnh: “chỉ khi
nào thân tâm được điều phục, thực hành chánh niệm và
phòng hộ các căn thì mới đi vào làng khất thực".
Thưa
quý thính giả,
Ngày
nay, tại một số quốc gia theo truyền thống Phật giáo
Nam Tông như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và
một phần của miền Nam Việt Nam chư Tăng vẫn tiếp tục
theo truyền thống khất thực này. Ở Trung Hoa, Triều
Tiên và Tây Tạng truyền thống khất thực dường như đã
hoàn toàn biến mất. Dưới Triều nhà Đường ở Trung
Hoa, một tông phái đặc biệt, Luật Tông, được thành lập
với mục đích làm sống lại truyền thống khất thực xưa,
và đem ra thực hành những giới luật nghiêm ngặt của Luật
Tạng. Dưới triều đại nhà Tống, các Thiền Sư thực
hành khất thực và sự thực hành này còn tồn tại nơi những
Thiền Sư Nhật Bản. Tuy nhiên ở Nhật Bản, khất thực
không phải là nguồn sinh sống chính mà chỉ là một sự tập
luyện kỷ luật cho những vị sơ tu hay là một cách lạc quyên
vào những dịp đặc biệt và cho những mục đích từ thiện.
Đối với Phật giáo phương Tây, vì hoàn cảnh xã hội không
giống như hoàn cảnh các quốc gia phương Đông, nên pháp Khất
thực khó thực hiện. Đa số các Tăng ni không đi khất
thực nên các nhu cầu ăn uống đều do các Phật tử tại
gia cúng dường.
Riêng
tại Việt Nam hình ảnh các vị tăng áo vàng đi khất thực
không còn nhiều nữa bởi nhiều lý do không hay cho lắm, trong
đó có những vị Sư giả đi khất thực! Thật là buồn khi
chính Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam phải ra thông tư giới
hạn nghiêm ngặt việc khất thực để bảo vệ danh dự của
tăng đoàn nhất là tăng đoàn của hệ phái Khất sĩ và Phật
giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam. Ðối với hệ phái Khất sĩ
và Nam tông, sau ngày 1.5.2001, nếu vị nào vẫn muốn giữ hạnh
khất thực thì phải xin phép với giáo hội và sẽ được
giáo hội cấp gấy chứng nhận cùng với phù hiệu đàng hoàng.
Các
vị này phải hành trì đúng chánh pháp, đúng luật qui định
của giới khất sĩ, tức là chỉ đi khất thực từ 8 giờ
đến 10 giờ sáng. Sau 10 giờ sáng là phải trở về trú
xứ. Chỉ được thọ nhận vật thực, không được nhận
tiền bạc. Về hành trang chỉ gồm có một chiếc bình
bát duy nhất, không được mang theo túi hay đãy. Ðối
với Ni giới, khi đi khất thực, phải đi từ hai vị trở
lên, không được đi một mình riêng lẻ.
Nói
tóm lại, vì nhu cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải
được giản dị, thực phẩm phải được xem như là
dược thực, vì thế Tăng đoàn thời Đức Phật phải đi
khất thực. Khất thực là chính sách thực hành giáo pháp,
là truyền thống của chư Phật. Các thầy Tỳ kheo phải giữ
tâm
bình đẳng mà đi khất thực từng nhà, không phân biệt
giầu nghèo sang hèn để tạo cho đủ mọi tầng lớp dân chúng
đều có cơ duyên thực hành hạnh bố thí cầu phước, nhân
dịp đó quý thầy nói pháp khuyên dạy mọi người tu hành.
Khi đi không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện,
luôn điều phục thân tâm trong chánh niệm, đi theo thứ lớp:
Nếu hàng Phật tử thỉnh thọ trai thì không cần theo thứ
lớp, cứ đi thẳng đến nhà thí chủ thỉnh mình. Còn khất
thực phải theo thứ lớp. Ai cho gì ăn nấy, không được
phân biệt thức ăn tốt xấu, ngon dở, chay mặn, không được
qui định người thí chủ phải cúng dường như thế nào,
mà là tùy điều kiện khả năng và phát tâm của thí chủ.
Đó mới gọi là trí không phân biệt. Cũng vậy khi ăn
thì phải trộn các món ăn với nhau để không còn phân biệt
món này với món khác, món ngon món dở và không phân biệt
mùi vị. Mục đích để không còn luyến ái mùi vị thơm ngon,
mà chỉ cần ăn để nuôi sống xác thân mà tu hành giải thoát.
Ban
Biên Tập
www.thuvienhoasen.org
(Bài
này đã được phát thanh ngày 27 tháng 8 trên làn sóng AM 1480
LSR tại Nam California và 28 tháng 8, 2005 trên Làn Sóng AM
1520 (KYND) &
AM 880 (KJOJ) tại Houston Texas)
From:
Tran204@a...
Date:
Thu Aug 1, 2002 1:08 pm
Subject:
Những chiếc áo vàng ngoài cỗng chợ
Trong
cuộc du hành về VN vừa qua, khi đi "tham quan" 4 cửa Ðông,
Tây, Nam, Bắc của chợ Bến Thành. Ngoài những người nghèo
đói, tật nguyền, ăn xin, tôi còn thấy có nhiều vị sư sãi,
với những chiếc áo vàng ,tay ôm bình bát..Nhưng các vị này
không xin thực phẩm mà chỉ đưa bình bát ra xin ...tiền, nhìn
vào đôi mắt liếc dọc rồi liếc ngang của các vị trông
rât ư là ..."mánh mung".Ðến ngay bây giờ tôi cũng chưa hiểu
rõ các vị này là ai ,thật hay ..giả?
Xin
các đạo hữu cho vài ý kiến.
Đức
Trần
From:
Tinh Thuy <tinhthuy2@y...>
Date:
Thu Aug 1, 2002 7:08 pm
Subject:
Khất Thực Phi Pháp Phi Thời
Theo
báo Giác Ngộ cho biết đây là một trong vài “vấn nạn”
bên ngoài cửa chùa và đang được giáo hội tìm cách khắc
phục. Chúng ta hãy nghe kể:
“Chúng
tôi có mặt tại chùa Vĩnh Nghiêm, ngôi chùa trung tâm của
TP. HCM, cùng những dòng người đầu tiên đi viếng chùa (vào
dịp đầu năm) thì gặp ngay một nhóm “giả dạng tu sĩ”
đã có mặt từ trước, mặc áo vàng đứng thành dãy chắn
ngang trước cổng chùa. Mỗi vị ngoài việc bưng một
bình bát “thiệt bự” trước mặt, còn có một túi đãy
khá to khoác bên hông. Không cần tiếp xúc trực tiếp,
chỉ cần nhìn cách khoác áo và giờ xuất hiện của các “giả
sư”, chúng tôi cũng biết đây là một nhóm khất thực....
Nhưng điều chúng tôi chú ý trong đoàn “3 người” lại
có một chú bé để chỏm, cái bình bát khá bự trong khi lại
phải đi cuối cùng nên chú bé trở thành mục tiêu của chúng
tôi. Không đợi nhà sư đi đầu nói hết câu: :”Xin
thí chủ ban phước”, tôi đã bỏ vào bình bát tiền “cúng
dường”, tôi cung kính chắp tay: “Dạ thưa, thầy cư ngụ
ở chùa nào vậy?” Vị sư đang trong nét mặt hân
hoan vừa nhận tiền “cúng dường” bỗng nghiêm mặt ngay
và chắp tay trước ngực, niệm Phật.
Nhìn
vẻ niệm Phật thành kính của “sư giả”, chúng tôi hiểu
ngay đây là một cách từ chối trả lời khá tinh tế của
các vị khất thực “giả”. Anh bạn tôi quay sang hỏi
chú bé tóc để chỏm (chú tiểu, chú điệu) “Chú ở chùa
nào?”. Vẫn nụ cười vô tư của trẻ con, chú tiểu trả
lời: “Ở cùng với cha đằng trước đó...”
Sau
khi mục kích được cảnh “khất thực cha, khất thực
con” ở trước chùa Vĩnh Nghiêm, chúng tôi đến chùa Ngọc
Hoàng nằm trên đường Mai Thị Lựu Q.
Ðập
vào mắt chúng là một nhóm “giả Sư Ni” đang khất thực”,
nhưng điều chúng tôi ngạc nhiên là nhóm “giả Sư Ni” này
có được các phương tiện pháp lý trang bị cho việc khất
thực...dỏm của mình. Mỗi vị giả Sư Ni ngoài việc
trang bị một áo vàng đúng cách, bình bát trước mặt
mỗi vị còn có một giấy chứng nhận Tăng Ni do Ban Tăng Sự
Trung Ương cấp. Trong chứng nhận có cả hình và dấu
mộc đỏ chót.
Ðây
là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy cảnh “khất thực
dỏm” có trang bị giấy chứng nhận (giả thật chưa biết)....
“ (Giác Ngộ 55 14.2.2001)
Hai
tháng sau cũng báo Giác Ngộ (64 18.4.2001), phỏng vấn Hòa
Thượng Thích Tắc Thành, Trưởng Ban Kiểm Tăng thành hội
Phật Giáo HCM về tệ nạn giả danh tu sĩ khất thực phi pháp
này và được hòa thượng cho biết như sau:
“Về
thành phần giả danh tu sĩ Phật giáo, khất thực phi pháp phi
thời, mặc dù gặp nhiều trường hợp khó khăn phức tạp,
nhưng trong tất cả khả năng, chúng tôi đã mở rộng cơ cấu
nhân sự xuống các quận huyện. Cụ thể là vị Chánh
Ðại Diện hay Ủy Viên Ban Ðại Diện sẽ kiêm nhiệm Trưởng
Tiểu Ban Kiểm Tăng quận, huyện và là ủy viên Ban Kiểm Tăng
Thành Hội, có quyền hoạt động kiểm tăng không những trên
địa
bàn mình quản lý mà cả quận huyện khác trong TP. HCM.
Việc làm này đã mang lại một số kết quả nhất định.
Sắp tới Ban Kiểm Tăng Thành Hội sẽ có một buổi họp với
Ban Ðại Diện Phật Giáo quận huyện và sẽ mời tất cả
những vị giả danh tu sĩ PG hành nghề khất thực trong từng
địa phương đến, yêu cầu họ làm cam kết không giả danh
tu sĩ Phật giáo, hành nghề khất thực phi pháp phi thời nữa.
Trong trường hợp họ không chấp hành đến dự họp, sau ba
lần gửi giấy mời, BTS THPG TP. HCM sẽ kết hợp với Ban Tôn
Giáo (nhà nước), chính quyền và công an địa phương can thiệp.
Ðối
với hệ phái Khất sĩ và Nam tông, sau ngày 1.5.2001, nếu vị
nào vẫn muốn giữ hạnh khất thực thì phải xin phép với
Thành Hội và sẽ được Thành Hội cấp gấy chứng nhận
hạnh Ðầu Ðà cùng với phù hiệu đàng hoàng. Các vị
này phải hành trì đúng chánh pháp, đúng luật qui định của
giới khất sĩ, tức là chỉ đi khất thực từ 8 giờ đến
10 giờ sáng. Sau 10 giờ sáng là phải trở về trú xứ.
Không được nhận tiền. Về hành trang chỉ gồm có một
chiếc bình bát duy nhất, không được mang theo túi hay đãy.
Ðối với Ni giới, khi đi khất thực, phải đi từ hai vị
trở lên, không được đi một mình riêng lẻ.
Ðể
công tác kiểm tăng có hiệu quả sâu rộng, Ban Kiểm Tăng
đã kiến nghị với Ban Hoằng Pháp trung ương và Thành Phố
là trong các buổi giảng Phật Pháp, các lớp Bát Quan Trai,
và các buổi học giáo lý, các vị giảng sư nên thêm vào
chương trình từ 15 đến 30 phút để giải thích cho các
Phật tử rõ khất thực thế nào là đúng chánh pháp, thế
nào là phi pháp phi thời. Cúng dường thế nào là có
phước, thế nào là có tội....”
Và
đến hôm nay, hơn một năm sau, đạo hữu Trần về thăm quê
hương thấy cảnh trên vẫn còn, nên người viết không ngại
công đánh máy, đưa vấn đề “khất thực phi pháp phi
thời” ra, để hy vọng Ban Kiểm Tăng Thành Hội Phật
Giáo TP. HCM. nghe được tiếng nói từ hải ngoại. Thật
ra ở hải ngoại cũng có tình trạng khất thực, tại trước
một trung tâm thương mại người Việt ở quận Cam, nhưng
không biết rõ có phải là “phi pháp” không, vì xứ này
là xứ tự do, các tổ chức Phật Giáo không có ban kiểm tăng,
hoặc có nhưng có quá nhiều tổ chức Phật Giáo. Còn
phi thời, người viết thấy tận mắt là đã quá 12 giờ trưa
mà vị tu sĩ Phật giáo này vẫn còn đứng dưới ánh
nắng gay gắt của tháng Sáu mùa Hè và nghĩ rằng vị
này đang hành hạnh Ðầu Ðà.
Kính
trình,
Tịnh
Thủy
Xem
Tiếp Phần Thảo Luận Liên Quan Ðến:
Hạnh Ðầu Ðà: Trang 02