From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Fri Aug 2, 2002 5:32 am
Subject:
RE: [hoasen-1] Re: vấn đề “khất thực phi pháp phi thời”
Có
lần vào buổi chiều (đã lâu) , tôi đi vào cổng sau khu Phước
Lộc Thọ, thấy có mội vị sư đứng dưới cơn mưa nhỏ,
hai tay ôm bình bát, đấp y vàng sậm đã bị ướt nhiềụ
Tôi co' cúng dường và nhắc vị sư đó là trời đang mưa,
nên bước vào trong vài bước để tránh mưạ Nhưng vị đó
im lặng như không quan tâm. Vậy nói như d/h Tịnh Thủy có
thể đang hành hạnh đầu đà ?
Hòa
From:
Tamthien@ạ..
Date:
Fri Aug 2, 2002 3:53 am
Subject:
Xin cho biết về hạnh Ðầu Ðà
Thưa
quý đạo hữu,
Xin
quý đạo hư~u giảng nghĩa giúp tôi hạnh Ðầu Ðà là hạnh
gì, cần tu như thế nào ? Xin cám ơn quý đạo hữu .
Tâm
Thiện
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Fri Aug 2, 2002 6:39 am
Subject:
RE: [hoasen-1] Xin cho biết về hạnh Ðầu Ðà
Chào
d/h Tam Thien,
Ðáng
lẽ người nhiều kinh sách là d/h Tịnh Thủy trả lời câu
hỏi về "đầu đà" , nhưng tôi lỡ bắt chước dùng từ này
, xin liên đới chịu trách nhiệm gõ chữ :
Ðầu
Ðà là phương tiện tu khổ hạnh được đức Thích Ca Mâu
ni cho phép. Pháp tu này giúp hành giả giảm tốÃ đa những
nhu cầu của đời sống, tăng trưởng ý chí, và rũ sạch
ba điều tham trước về quần áo, đồ ăn, nhà ở.
Ngài
Phật Âm (Nam tông) kể 13 hạnh đầu đà trong Thanh Tịnh Ðạo
:
1/
Mặc y phục rách vá
2/
Mặc y phục ba phần (áo tam y)
3/
Khất thực để sống
4/
Không bỏ nhà nào
5/
Ăn mỗi ngày một lần
6/
Ăn chỉ một phần
7/
Không ăn tàn thực
8/
Ở rừng
9/
Ở gốc cây
10/
Ở giữa trời
11/
Ở nghĩa địa
12/
Ngủ đâu cũng được
13/
Ngồi không nằm
Nhưng
theo thuyết của ngài Tịnh Ảnh Nam sơn (Bắc tông)thì chỉ
có 12 điều, đại khái như trên (nếu có yêu cầu tôi sẽ
chép lại thuyết này). Tương truyền vua Trần Nhân Tông sau
khi xuất gia đã tu theo hạnh đầu đà và vì vậy ngài cũng
được mang danh hiệu là Trúc Lâm đầu đà.
Nhưng
hình như không phải giữ đầy đủ 13 điều trên mới là
theo hạnh đầu đà. Thế tục cũng thường gọi các nhà sư
đi khất thực là đầu đà.
Hòa
From:
Tinh Thuy <tinhthuy2@ỵ..>
Date:
Fri Aug 2, 2002 3:49 pm
Subject:
RE: [hoasen-1] Xin cho biết về hạnh Ðầu Ðà
Chào
huynh Hòa, Tâm Thiện và ca’c huynh tỷ
Xin
cảm ơn huynh Hòa đã trả lời huynh Tâm Thiện giùm. Về
hạnh Ðầu Ðà, TT chỉ biê’t sơ qua là một phe’p tu khổ
hạnh, không cực đoan, không e’p xa’c vơ’i mục đi’ch
để giải thoa’t thân và tâm ra khỏi phiền nãọ Phe’p
tu này đã co’ từ thời Ðư’c Phật và một đại đệ tử
Phật là ngài Ca Diê’p tu theo hạnh tu nàỵ Ở Việt
Nam ta, khoảng năm 1300, vua Trần Nhân Tông, sau khi nhường ngôi
vua cho con đã lên nu’i Yên Tử tu theo hạnh Ðầu Ðà và tự
lâ’y danh hiệu là “Hương Vân Ðầu Ðà”. Sau đo’ ngài
Hương Vân trở thành Sơ Tổ thiền pha’i Tru’c Lâm.
Hạnh
tu Ðầu Ðà bao gồm 13 phe’p tu khổ hạnh như huynh Hòa đã
co’ lie^.t kê theo thuyê’t Nam Tông trong Thanh Tịnh Ðạọ
Co’ sa’ch còn gọi là Thập nhị đầu đà. Mong huynh
Hòa cho biê’t thêm thuyết thập nhị hạnh này của ngài Tịnh
Ảnh Nam sơn (Bắc tông).
Ki’nh
chu’c ca’c huynh tỷ một cuô’i tuần an lạc thảnh thơị
Ki’nh,
Tịnh
Thủy
From:
Tamthien@ạ..
Date:
Fri Aug 2, 2002 4:58 am
Subject:
RE: [hoasen-1] Xin cho biết về hạnh Ðầu Ðà
Thưa
đạo hữu Hòa và quý đạo hữu,
Xin
cảm ơn đạo hữu Hòa đã mau chóng giảng giải giúp tôi .
Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng giới luật nhà Phật thường ghi rõ
ràng, chi tiết, và người thọ giới, phát nguyện, thường
thi hành rất nghiêm túc, không có chuyện du di thoải mái như
luật pháp thế gian, cho nên tôi không nghĩ rằng chỉ riêng
một chuyện đi khất thực đã được coi như đang tu hạnh
đầu đà, nếu theo như đạo hữu chỉ dẫn, hạnh đầu đà
đã được quy định với 13 điều như kể trên.Tôi cũng nhớ
mài mại có ddọc đâu đó rằng khi ngài Ma Ha Ca Diếp đã
già rồi mà vẫn còn theo hạnh này, đức Phật có khuyên ngài
nên ngưng, để giảm bớt sự khổ hạnh, nhưng ngài không
tuân theo, vẫn giữ hạnh đầu đà. Như vậy, ha.nh đầu đà
phải có những sự chịu đựng gian khổ lắm, mới khiến
cho đức Phật thương xót người đệ tử già mà khuyên như
thế, chứ nếu chỉ vì cái chuyện mỗi ngày đi khất thực
một lần cho đủ một bình bát cơm thì cũng không đến nỗi
gian khổ lắm.
Một
lần nữa, xin cảm ơn sự tận tâm của đạo hữu Hòa, và
ước mong nếu có đạo hữu nào biết có điều gì khác hơn
nữa thì xin cho tôi được học hỏi .
Xin
đa tạ,
Tâm
Thiện
From:
Tamthien@ạ..
Date:
Fri Aug 2, 2002 10:31 pm
Subject:
Re: [hoasen-1] Xin cho biết về hạnh Ðầu Ðà
Thưa
đạo hữu Hòa và quý đạo hữu,
Về
câu :
<<
Ðể trả lời d/h Tam Thien, thì trong sách có ghi thêm như sau
: "Phép tu hành của các vị đầu đà tuy có 12 loại, nhưng
phần nhiều chú ý nhất vào một hạnh khất thực mà thôi
" . >>
...
tôi xin phép được không đồng ý . Trong thời đức Phật
tại thế, TẤT CẢ tăng ni đều đi khất thực theo đúng pháp,
như nhau, trừ trường hợp bất khả kháng, nhưng đặc biệt
khác các vị kia là ngài Ma Ha Ca Diếp tu theo hạnh đầu đà.
Ðó là lý do khiến cho tôi khởi tâm muốn học hỏi điều
đặc biệt khác của hạnh này so với những tu sĩ thường,
thưa đạo hữu .
Ðạo
hữu có thể phát tâm cho tôi biết câu đó là một điều
bổ túc cho qui định của hạnh đầu đà, hay chỉ là ý kiến
riêng của soạn giả cuốn sách, được không ạ?
Xin
cảm ơn đạo hữu .
Kính,
Tâm
Thiện
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Fri Aug 2, 2002 7:51 pm
Subject:
RE: [hoasen-1] Xin cho biết về hạnh Ðầu Ðà
Chào
d/h Tịnh Thủy,
Tôi
thấy trong sách có chép lại như sau về "Thập Nhị Ðầu Ðà"
(mà khi d/h TT đã có tên gọi này tức là có sẵn sách sao
lại bảo tôi phải làm việc gõ chữ :-) ) :
1/
Phẩn tảo y : Mặc áo nạp y, thu+' áo người ta bỏ đi, nhặt
giặt sạch rồi khâu lạị
2/
Ðãn tam y : tứ c chỉ mặc ba loại áo Tăng già lê, Uất đa
la, và An Ðà hội mà thôị
3/
Khất thực : tự mình đi khất thực, chớ không nhận đồ
ăn cu?a người khác mời đãi, hay của nhà sư khác.
4/
Trước hay đúng ngọ chỉ ăn bữa chính một lần, không ăn
sau ngọ, ăn lần thứ haị Nhưng được ăn thêm bánh trái,
gọi là tiểu thực.
5/
Nhất tạo thực: Ngoài bữa chính ăn một lần vào trước
ngọ hay đúng ngọ, không ăn bữa Tiểu thực nữạ (điều
4 và 5 như có mâu thuẫn).
6/
Nhất sủy thực: một vốc ăn. Tức chỉ a (n cơm, thức ăn
đựng trong một chiếc bình bát của mình, hết thì thôi, không
ăn thêm.
7/
A La nhã xứ : Ở chỗ đồng không mông quạnh, xa nơi dân cự
8/
Trủng gian tọa : ở nơi mồ mả, nghĩa điạ.
9/
Thụ hạ tọa : ở nơi gốc câỵ
10/
Lộ địa tọa : ở nơi trống trải không cần có bóng cây
chẹ
11/
Tùy tọa : chỗ nào có cỏ mọc thì ở, không cứ phải dưới
bóng câỵ
12/
Thường tọa bất ngọa : thường ngồi kiết già chớ không
nằm.
Ðể
trả lời d/h Tam Thien, thì trong sách có ghi thêm như sau :
"Phép
tu hành của các vị đầu đà tuy có 12 loại, nhưng phần nhiều
chú ý nhất vào một hạnh khất thực mà thôi " .
Hòa
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Sat Aug 3, 2002 2:21 am
Subject:
RE: [hoasen-1] Xin cho biết về hạnh Ðầu Ðà
Chào
d/h Tâm Thiện,
Tôi
chép lại câu đạo hữu thắc mắc bên dưới bài viết "Thập
Nhị Ðầu Ðà" từ trong sách. Hôm qua tôi nhớ ó viết "thế
tục gọi sư khất thực là đầu đà".
Nên
đây là nói về truyền thống "hạnh đầu đà" ở Trung Hoạ
Không biết chắc là ở Ấn Ðộ như thế nàọ Ở Trung quốc,
nhiều vị sư được gọi là đầu đà, theo cách "thế tục
gọi ", tôi cho thật sự chỉ vì họ đi khất thực thôị
Chúng ta nhớ là Trung Hoa có khi hậu ôn đới, nghĩa là đêm
và mùa đông rất lạnh, khó có chuyện ai sống được lâu
ngày ở ngoài trời, dưới gốc cây, hay trong nghĩa địạ
Cho nên chắc chắn giới hạnh đầu đà khi đem qua TQ đã có
sự thay đổi linh động, cho được "khế cơ ". Ðây cũng là
một lý do tại sao các bộ phái "Tiểu Thừa" (tôi không viết
Nam Tông vì không phải Nam tông) đã truyền qua Trung quốc rất
sớm, trước hơn Ðại Thừa, và thành lập được hai tông
phái cũng có danh là Câu Xá tông và Thành Thực tông, nhưng
sau này cả hai không thể tồn tại được. Thật khó tưởng
tượng các tăng ni có thể đi khất thực vào mùa đông giá
buốt.
Hòa
From:
Tinh Thuy <tinhthuy2@y...>
Date:
Sat Aug 3, 2002 3:20 am
Subject:
Re: Xin Cho Bie^'t Ha.nh Tu Ðầu Ðà
Chào
các huynh tỷ,
Tịnh
Thủy trích đoạn dưới đây từ cuốn Thập Ðại Ðệ Tử
do Hòa thượng Tinh Vân biên soạn, Việt dịch Như Ðức, nói
về ngài Ðại Ca Diếp – Ðầu Ðà Ðệ Nhất, để các huynh
tỷ biết thêm về sự tu tập khổ hạnh đầu đà của ngài:
ƯA
TU KHỔ HẠNH
Ðại
Ca Diếp một bề ưa thích tu tập khổ hạnh đầu đà.
Nói về sự tu tập của tôn giả, từ trẻ cho đến tuổi
già, không kể tình hình ra sao, hoặc là mọi người ân cần
nói thế nào, tôn giả không hề từ bỏ khổ hạnh.
Phàm
người tu khổ hạnh đầu đà phải đủ mười hạnh:
1.
Cần chọn nơi vắng vẻ.
2.
Chỉ sống bằng cách khất thực.
3.
Thường ở một chỗ.
4.
Ngày ăn một bữa.
5.
Khất thực không chọn lựa.
6.
Chỉ có ba y, bình bát, tọa cụ.
7.
Thường ngồi tư duy.
8.
Thường tịnh tọa chỗ trống.
9.
Mặc y phấn tảo.
10.
Thường ở nơi gò mả.
Sinh
hoạt của một vị đầu đà cần phải đơn giản và thanh
tịnh như thế.
........
ÐỨC
PHẬT CHIA NỬA TÒA
Tôn
giả niên lạp càng ngày càng cao, đối với việc khổ hạnh
đầu đà càng lúc càng tinh cần.
Một
hôm đức Phật không thể nhìn thấy tôn giả tuổi cao lớn
mà cứ sống dầu dãi nắng mưa, ngày đêm phong sương gió
như vậy, nên muốn khuyên tôn giả bớt khổ hạnh. Lúc ấy
bánh xe pháp dừng trụ tại giảng đường Lộc Mẫu, đức
Thế Tôn cho gọi đại Ca Diếp. Tôn Giả mặc y bá nạp,
râu tóc ra dài, chậm chạp đi đến, các tân tỳ kheo ở đấy
không biết tôn giả, thấy hình dáng lôi thôi của tôn giả
đều tỏ ý khinh rẻ, có người còn định bước tới ngăn
cản không cho đến gần Thế Tôn.
Phật
biết ý đại chúng, liền từ xa gọi tôn giả :
- Ðại
Ca Diếp ! ông đến đó ư! ta còn chừa phân nửa tòa ở đây,
ông hãy mau mau đến ngồi.
Các
tỳ kheo trẻ tuổi nghe Phật nói giật mình không dè ông tỳ
kheo già đó la øtôn giảù Ðại Ca Diếp danh chấn tông môn.
Tôn giả đảnh lễ Phật xong, lui lại vài bước và bạch
:
-
Bạch Thế Tôn ! con là đệ tử của ngài, con thật chẳng
dám ngồi tại tòa dành riêng cho Thếá Tôn
Lúc
ấy, đức Phật nói cho đại chúng rõ oai lực vô biên của
đại Ca Diếp, lịch trình tu tập của tôn giả tương đồng
với Thế Tôn. Ðời nay nếu không gặp Phật, tôn giảû cũng
có thể giác ngộ, chứng quả vị La hán Ðộc Giác.
Qua
sự việc trên, có thể thấy đức Phật quý trọng tôn giả
đến thế nào, thậm chí đối đãi như khách, biểu lộï
địa vị trọng yếu của tôn giả trong giáo đoàn.
Ðức
Phật bảo Tôn giả không nên tiếp tục khổ hạnh, hãy bỏ
bớt y thô nặng nề, mặc y nhẹ của tín thí cúng dường
để tịnh dưỡng tuổi già, không nên mệt nhọc quá độ
như thế.
Nhưng
dù cho đến đức Phật ủy lạo đến đâu, Tôn giả cũng
chẳng thay đổi cách tu, tôn giả thưa với Phật:
-
Bạch Thế Tôn! hạnh đầu đà đối với con chẳng phải là
khổ nhọc, trái lại rất an lạc, con không bị lo lắng ưu
phiền về thức ăn, y phục, không màng sự đắc thất trên
nhân gian, con chỉ cảm thấy một sự tự do thanh tịnh thôi.
Ðương
nhiên có người phê bình lối sống của con nặng về tự
lợi, còn như các tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên,
Phú Lâu Na, Ca Chiên Diên thì thay Phật làm nhiệm vụ tuyên
dương chân lý, không sợ khó khăn, chẳng tiếc thân mạng,
cổ động bánh xe pháp, ủng hộ chúng sanh thấm nhuần pháp
vị, đồng được pháp lạc. Về phần con, tuy không đủ
nhiệt tình vì người vì pháp, nhưng con không hề quên ơn
Thế tôn, cũng vì muốn báo ân Phật, con mới tu học hạnh
khổ đầu đà. Vì chúng sinh cần cứu độ, hoàn toàn
nương vào sự hoằng pháp của tăng đoàn. Các tỳ kheo
bố giáo là bậc thần pháp sư của tín đồ, cũng phải kiện
toàn tự thân các vị, mới có thể đảm đương công tác
cao quý ấy. Còn bổn thân của tăng đoàn kiện toàn như
thế nào? đương nhiên chỉ có theo sinh hoạt nghiêm túc để
bồi dưỡng đức hạnh cho chính mình. Môn khổ hạnh
đầu đà trong Phật Pháp cũng là một phương pháp sinh hoạt
nghiêm túc, tập quen được lối sống ấy mới có thể khắc
khổ, nhẫn nại, kham nhẫn đạm bạc, nhất tâm nhất đức
vì pháp vì chúng sanh! bạch Thế Tôn! con vì muốn trực tiếp
củng cố tăng đoàn, gián tiếp làm lợi ích chúng sanh, nên
luôn luôn nguyện xả bỏ khổ hạnh, xin Thế Tôn lượng thứ
cho tính cách chấp trước của đệ tử.
Phật
nghe xong, rất hoan hỷ, Ngài nhìn Ðại Ca Diếp, lại nhìn các
tỳ kheo, và nói:
- Rất
tốt! Tỳ kheo các ông có nghe lời trưởng lão Ðại Ca Diếp
vừa nói không? Tương lai chánh pháp của ta bị hủy diệt,
không phải do thiên ma ngoại đạo phá hoại, mà vị sự hủ
bại tan nát của tăng đoàn! Ðại Ca Diếp nói rất đúng,
muốn hoằng dương Phật Pháp, để ánh sáng chân lý mãi mãi
chiếu sáng thế gian, điều trước tiên là phải củng cố
tăng đoàn. Muốn củng cố tăng đoàn phải sinh hoạt
nghiêm túc, người như Ðại Ca Diếp mới có thể phụ trách
chủ trì chánh pháp của ta!
Này
Ca Diếp! ông cứ tiến tu đạo nghiệp, ta không ép ông, ông
cứ theo ý nguyện của mình. Khi nào ông muốn gặp ta,
cứ tùy thời mà đến.
Ðức
Phật và Ðại Ca Diếp, tuy là hai mà tâm chỉ một, thầy trò
thông cảm nhau. Ðức Phật đãi Ca Diếp như khách như
bằng hữu, nhưng tôn giả không quên lễ nghĩa, dùng tư cách
đồ đệ mà đáp lại, khiến cho mối tương giao sư đệ càng
thêm thâm sâu, nồng hậu.
Chúng
ta nghe nói đến đức Phật hoặc các vị La Hán, đều tưởng
tượng rằng các vị ấy lạnh lùng nghiêm nghị như cây khô,
đá lạnh, đối với thế gian chẳng lưu chút tình cảm nào,
thật ra không phải thế, các vị ấy đã biến đổi nhân
tình tạp nhiễm thành một thứ tình cảm tự nhiên cao thượng,
gọi đó là từ bi. Hạt giống từ bi nảy mầm từ cây
trí tuệ, như đá nam châm thu hút chúng sanh, khiến chúng sanh
sớm chiều gần gũi tiếp cận được nhân cách cao thượng
ấm áp ấy, liền sửa đổi tập khí của mình.
Trong
chốn rừng rậm um tùm của miền nhiệt đới, cây sa la trổ
hoa bát ngát, những ngày hạ nhiệt, đông hàn, những đêm
trăng sáng trải ánh vàng trên vòm lá xanh, trong chốn cư trú
thanh tịnh vắng vẻ ấy, Ðại Ca Diếp đã tu tập hàng năm,
hàng năm qua đền đặn, dầu cho mười năm cũng như một ngày,
cái phong tư cao cả của bậc thánh đệ tử như còn phảng
phất đâu đây.