HOÀ
THƯỢNG VÀ CHÚ TIỂU
From:
trinhxuanluc@gmail.com
Trong
lịch sử Phật giáo (?) có vị vừa gác kiếm giang hồ, gặp
Phật pháp, học đạo và ngộ đạo, có vị cả đời tu không
cần đến "trường đời" để học chữ nghĩa gì nhưng vẫn
chứng đạo.
Nếu
đây là sự thật thì quả là vi diệu, vi diệu, hoặc đây
là một "bài giáo lý" để dạy mọi người rằng ai cũng có
thể học đạo và ngộ đạo cho dù người đó xuất thân
từ đâu, thuộc đẳng cấp nào trong mọi xã hội.
Trên
đây là chuyện đời xưa, còn hiện tại thì – Cách đây
vài tuần, trong hệ thống thầy trò Chùa Bảo Sơn tại thị
xã Long Khánh, Đồng Nai có một nhân vật tên Hùng vừa thọ
giới Đại đức. Cách đây vài năm, Hùng là học sinh của
một trường Trung học cơ sở tại địa phương này, Hùng
thuộc dạng học sinh cá biệt, lêu lỏng, game thủ, học 3
năm lớp 9 mà vẫn không đủ tiêu chuẩn dự thi tốt nghiệp
lớp 9 THCS, cuối cùng gia đình phải chuyển Hùng qua học ở
Trung tâm giáo dục thường xuyên, song song cho Hùng "xuất gia"
luôn. Một học sinh lêu lỏng, cá biệt, game thủ sau vài năm
vắng mặt giờ đây trở về là một "vị Đại đức" áo
mão chỉnh chu, thiên hạ phải lễ lạy, tôn kính cho phải
đạo.
Sự
việc này khiến nhiều giáo viên tại địa phương tỏ thái
độ khinh miệt nhân vật chính và hoài nghi về Đạo Phật.
Từ
xưa đến nay, ở VN, có thói quen, khi sinh con mà không có khả
năng nuôi dạy là gởi vào Chùa nương nhờ cuộc sống và
cho xuất giá luôn, hoặc, khi con cái có súc khỏe và tin thần,
trí lực yếu thì cũng gởi vào Chùa và xuất gia luôn. Một
chú tiểu còn quá bé, không hiểu biết gì cả, thẳng thắn
mà nói "chỉ là một đứa trẻ" vậy mà mọi nguời, từ già
đến trẻ phải lể lạy, hoặc, một người thiểu năng mà
trở thành một vị "Thầy thiên hạ" thì thiên hạ sẽ được
thuyết giảng, học hỏi cái gì đây?
Tôi
không biết ngày xưa, thời Đức Phật, tiêu chuẩn để được
xuất gia như thế nào? mà tại VN, mấy trăm năm nay việc xuất
gia để thành Thầy thiên hạ lại được thực hiện một
cách bừa bãi đến vậy.
Hậu
quả, những Chú tiểu ngây thơ, những vị Thầy thiếu trí
tuệ, giới hạnh, . . . mà được mọi người tôn kính, lễ
lạy đã làm cho họ tổn phước trầm trọng và trở thành
một đội ngũ Thầy tu "đáng quan tâm và thanh lọc".
Xã
hội VN cách đây khoảng 20 năm có câu "chuột chạy cùng sào
mới vào sư phạm", tình trạng này diển biến khoảng 10 năm
nhưng VN đã sản sinh ra một đội ngũ thày giáo quá kém về
trình độ chuyên môn lẩn đạo đức (một học sinh kém thì
không thể chỉ sau 4 năm đào luyện mà thành ông Thầy giỏi
được). Hậu quả nền giáo dục VN đã phải như thế nào
chúng ta đã thấy.
Chỉ
10 năm sai lầm trong giáo dục, đào tạo mà VN phải trả giá
cho hệ thống giáo dục yếu kém là rất đáng quan ngại. Trong
khi hàng bao nhiêu trăm năm PGVN sai lầm trong quan niệm tiếp
nhận xuất gia, làm Thầy dạy đạo thì chúng ta khó tưởng
tượng được hậu quả đang như thế nào.
Là
một phật tử, tôi mạn phép đánh động đến quý vị có
tâm huyết, hiểu biết về Phật pháp, Chư vị Tôn túc cần
thẳng thắn nhìn nhận lại vấn đề.
Đề
xuất về tiêu chuẩn xuất gia:
-Tuổi
đời trên 18.
-Trình
độ học vấn: 12/12, tú tài trở lên.
-Trí
lực, thể lực tốt.
-Đã
có quan tâm, nghiên cứu về Phật pháp trước khi xuất gia.
(không biết gí về Phật pháp thì xuất gia theo lý tưởng
gì?).
Tôi
mong những tác giả có nhiều bài viết hoặc bài giảng về
PG như Hoàng Nguyên Nhuận, Nguyễn Đắc Xuân, Minh Mẫn, Bùi
Kha, Thầy Lệ Thọ, Thầy Nhật Từ, Thầy Chân Quang, GS Lê
Mạnh Thát, . . . quan tâm, và khai mở thêm vấn đề này.
TXL.
-Chúng
ta cần xem lại những quy trình, bài Test thọ giới, phải chăng
quá bình thường, để dãi, thiếu đạo lý, thiếu lý tưởng
tu hành?
-Giáo
pháp của Đức Phật thì quá cao siêu, nhưng chỉ để cho các
học giả nghiên cứu, còn hàng loạt mang danh Trưởng tử Như
Lai thì mù tịt.
-Phải
chăng "Cha làm thầy, con đốt sách" là thực trạng tu hành
trong đạo Phật hiện nay?
MỘT
NHU CẦU HOÀN TOÀN HỢP LÝ
From:
Thich Le-Tho: thichletho@yahoo.com
Sự
quan tâm của quí vị về nhân cách của Tu sĩ Phật giáo, cũng
như hướng giáo dục trong nhà Thiền quả là đáng kính trọng.
Bởi những điều ước muốn của chư Phật Tử là được
tiếp xúc với một tu sĩ nào đó thì phải có đủ phẩm chất
đạo đức và học lực, chứ không thể chỉ biết cầu an
hay cầu siêu. Nhưng hiện nay, có thể nói số lượng đào
tạo ra không kịp cho nhu cầu thực tế của xã hội. Ấy vậy
mà còn bị hao hụt do có một số ít bị thối hóa biến chất,
chạy theo vật chất, làm mất đi bản chất “phục vụ chúng
sinh là cúng dường chưa Phật” hay Bậc xuất gia là thầy
của trời và người.
Nếu
tất cả điều lấy những khẩu hiệu đó để sống cho tốt
đạo đẹp đời thì người Phật tử nói riêng và chúng sinh
hạnh phúc biết mấy! Làm gì có chuyện đề nghị thêm 4 tiêu
chuẩn:
Đề
xuất về tiêu chuẩn xuất gia:
-Tuổi
đời trên 18.
-Trình
độ học vấn: 12/12, tú tài trở lên.
-Trí
lực, thể lực tốt.
-Đã
có quan tâm, nghiên cứu về Phật pháp trước khi xuất gia.
(không biết gì về Phật pháp thì xuất gia theo lý tưởng
gì?).
Thực
ra, sự chuẩn hóa trong Tăng đoàn là rất cao. Từ việc chọn
lọc tướng mạo và thân thế, và cho đến trí lực…có thể
nói trên cả tuyệt vời để trước khi thành một vị Đại
Đức, phải được kiểm tra:
1.
Có phải là quan trốn đi tu không?
2.
Có phải là người trốn nợ không?
3.
Ngươi có phải là đầy tớ trốn chủ không?
4.
Ngươi có phải là đàn ông không?
5.
Đàn ông mà có bệnh cùi hủi, ung thư, ghẻ lở, lao phổi,
tiểu đường không?
6.
Tuổi đủ 20 chưa?
7.
Y bát có đủ không?
8.
Cha mẹ có cho phép chưa?
9.
Pháp danh ngươi là gì?
10.
Hòa thượng của ngươi hiệu gì?
Ngoài
ra còn một số câu hỏi phụ trước khi chấp nhận người
xuất gia trở thành thanh viên của Tăng Đoàn (Giáo hội, danh
xưng hiện nay).
- Nhà
ngươi có bị tật nguyền không?
-
Nhà ngươi có phải là Tặc tâm xuất gia không?
-
Có Giết cha không?
-
Có Giết mẹ không?
-
Giết A La Hán không?
-
Có Gây thương tích cho Phật không?
-
Có phải là Phi nhân không?
-
Có phải là Súc sinh không?
-
Có phải là bán nam bán nữ không?
Sau
khi đắc giới, vị tân Tỳ kheo ấy, suốt
thời gian 5 năm đầu phải y chỉ nơi một vị Thượng tọa
Luật sư (vị Tỳ kheo thông hiểu giới luật) để học tập
cho am tường cac bổn phận trách nhiệm cũng như những điều
tác thành tư cách của một Tỳ kheo, tức là am tường các
học giới, hiểu rõ thế nào là danh, chủng, tánh, tướng;
thế nào là khai, giá, trì, phạm; thế nào là khinh trọng và
thông thạo các pháp Yết-ma về lý thuyết cũng như thực hành.
Một trong những bổn phận người xuất gia là tục Phật Thánh
lưu, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức. Muốn thực hiện
bổn phận ấy, vị Tỳ kheo phải có đủ tư cách làm thầy.
Do đó, Phật quy định Tỳ kheo phải đủ 10
hạ, Tỳ kheo ni phải đủ 12
hạ mới được thu nhận đệ tử, độ người xuất gia,
và trước khi độ người xuất gia, phải được Tăng thông
qua với pháp Yết-ma súc chúng. Nếu Tăng thấy chưa đủ tư
cách thâu nhận đệ tử xuất gia, dù người ấy đã đủ
tuổi hạ, thì cũng không được tự tiện độ người xuất
gia. Nếu làm thì phạm Ba-dật-đề .
Dù
bất cứ lúc nào, ở đâu, và dù là theo hệ phái nào. Vi phạm
quy định ấy cũng đồng nghĩa với sự làm tổn thương đến
phẩm chất và quyền lực của Tăng già, đó là dấu hiệu
suy đồi của chánh pháp.
Đấy,
những qui định về một tu sĩ đã có hẳn hòi như vậy từ
thời đức Phật chứ phải đâu một tăng đoàn vô tổ chức.
Vậy
tại sao hiện nay vẫn có những tu sĩ không đủ tiêu chuẩn?
chẳng qua chỉ là cách làm ra sao mà thôi.
Cho
nên thời gian qua có một số bài viết của Hoàng Chương,
Trinh Xuan Luc và Tâm Trụ…tôi rất là đồng tình. Mặc dù
chúng ta biết, cuộc sống bao giờ cũng có 2 mặt-bởi bản
chất của con người là phức tạp. Nhưng sự phức tạp kia
càng gia tăng thì đáng lo ngại lắm chứ! Trước đây, Vua
A-dục đã làm một cuộc thanh lọc nhằm giúp cơ thể của
tăng đoàn trở nên tráng kiện.
Thiết
nghĩ, nếu chính phủ không làm được, thì chính người
Phật tử hãy tẩy chay những ông thầy quan liêu, vô cảm,
thiếu hiểu biết về Phật pháp và phẩm chất đạo đức
của một tu sĩ…nên những
bài viết nói thẳng và không ngại va chạm cũng là thiện
chí rất đáng quí.
18.10.2007
Lệ
Thọ
HÃY
TRỒNG NHIỀU HOA THƠM ĐỂ LẤN ÁT CỎ DẠI
Thich
Le-Tho <thichletho@yahoo.com >
Thật
tình mà nói, điều của quí vị lo không phải chỉ có bây
giờ, mà đời nào cũng có. Tuy nhiên, hiện nay có số đó
đã lan tràn, làm đau đầu những người có trách nhiệm, nó
giống như căn bệnh tham nhũng đang hoành hành bên ngoài. Nếu
không ra sức dẹp nó đi, thì Tham nhũng sẽ là hố chôn chế
độ. Đồng thời, trong giáo pháp không được đề cao phẩm
hạnh và giới đức thì đạo Phật cũng sẽ biến mất khỏi
cuộc đời này.
Những
điều của quí vị thấy và nghe tôi cũng đã được phản
ảnh rất nhiều: "….Quí thầy ở trong chùa nên không hay
biết, chúng con là Phật tử, hàng ngày tiếp xúc với nhiều
thành phần trong xã hội. Nên khi quí thầy cô nào bị khiếm
khuyết về phẩm hạnh, thì họ liền kêu chúng con nói giọng
mĩa mai, thầy của mi đó, tu mà vậy…những câu nói đại
loại như vậy nghe đầy tai, và lúc đó nếu biết độn thổ
thì đã làm vì tuổi nhục và xấu hổ… "
Thưa
quí vị, kính Phật trọng tăng, nhưng phải là những vị tăng
như Phật chứ không thể nào chỉ có hình thức tăng (Tăng
là một tập thể hòa hợp và thanh tịnh) cho nên không thể
"đàn áp" Phật tử là phải tôn kính. Trong khi những vị tăng
khiếm khuyết đó chưa bằng ai thì lấy gì xác định mình
là thầy của Trời và người??? làm thầy của Linh Mục, hay
Mục sư đã khó rồi huống hồ là thầy của vị giáo chủ
của họ???
Hậu
quả để xãy ra càng lúc càng nhiều người thiếu phẩm hạnh
là một phần nào trách nhiệm của chính phủ; bởi họ đã
bao che cho một số quen thân, tạo nên một sự ỷ lại và
từ đó sống buôn thả, không muốn nói là tệ hơn người
thế tục. Nếu có dịp về Đồng Tháp, hỏi xem tỉnh hội
Phật giáo ở đó ra sao? Đến nỗi người ta gọi là "Tứ
Quái" để thay cho câu tứ đỗ tường. Vậy mà vẫn
được chính quyền tỉnh phù phép cho làm những nhiệm vụ
Phó ban thường trực, hoặc chánh thư ký. Văn phòng 2 biết
họ hư đốn, nhưng vẫn phớt lờ chấp nhận cho họ lãnh
đạo, nắm vận mạng Phật giáo tỉnh Đồng Tháp. Chuyện
hết sức lại khôi hài là mấy tháng qua Ban trị sự hoạt
động nhưng không có con dấu??? (Con dấu do nhiệm kỳ trước
giữ, vị họ không muốn những người hư hại nắm giữ con
dấu sẽ làm khổ tăng ni và Phật tử)
Một
tổ chức cấp tỉnh mà như vậy thì có phải là tiếp tay
cho cái xấu ác, bất thiện được dịp lan tràn, gây nên nhũng
nhiễu cho quần chúng và Phật tử? Hành động đó có phải
là đang hủy diệt Đạo Phật không? Đất nước này Việt
Nam và chư Phật tử sẽ sống và tu tập theo cái gì đây?
Và thế hệ tăng ni trẻ sẽ tu học hay bắt chước tiền nhân?
Nêu
lên một vài sự thật đau lòng, để cho thấy sự xuống cấp
của Tăng ni không phải đơn thuần mà cả một chuỗi phản
ứng của xã hội tác động vào.
Một
lần tôi đi sang Đài Loan, vì đôi giày La-hán chật quá, tôi
phải để quay ngoài gót chân, thì liền có một vị Phật
tử đến chấp tay chào và nét mặt nghiêm nghị chỉ vào đôi
giày, mang như thế là làm xấu đi hình ảnh của Tăng sĩ.
Nhân đó tôi vào một cái shop lần lược thử hỏi mua thuốc
lá họ từ chối mà không cần lời lẽ lịch sự và tôi chỉ
sang những thực phẩm mặn, họ nhìn tôi như một con quái
vật! Sau đó tôi xin lỗi và nói chỉ đùa, nhưng họ vẫn
chưa cười nỗi. Hèn gì, Phật giáo Đài Loan, ông thầy nói
ra là như thánh phán!
Tôi
nghĩ, Phật tử Việt Nam ai cũng mạnh dạn làm thế thì sẽ
hạn chế được nhiều vị thầy không đáng kính. Trong luật
cho phép người Phật tử đắc quả Tu đà hoàn được phép
cữ tội của một vị thầy; một giai thoại tại Ấn độ,
chư tăng có những quan điểm bất đồng, ông Cấp-cô-độc
đã "cấm vận"-không cung dưỡng thực phẩm thuốc men…nhờ
vậy mà hòa hợp và thanh tịnh.
Thưa
quí Phật tử, các vị cũng là một trong tứ chúng, nên trách
nhiệm của quí vị gìn giữ Phật pháp và "quyền lợi" phải
được giáo lý hay, vị thầy tốt để thân cận học pháp.
Nên sự lên tiếng của các vị là hành động thiện, giúp
Phật pháp cửu trụ lâu dài. Chứ không, đạo Phật biến
mất khỏi cuộc đời này không phải vì ma vương, tôn giáo
đối nghịch và càng không phải do thể chế chính trị nào,
bởi bằng chứng hiện nay Phật giáo Ấn độ đã bắt đầu
hồi sinh! Đạo Phật là thế, như biển cả bao la, dung chứa
mọi dòng sông. Cũng vậy, giáo lý của Ngài không bao giờ
kỵ Thiên chúa, Tin Lành, Hồi giáo hay Tư bản, cộng hòa, cộng
sản gì hết, tất cả điều là đối tượng cần được
giải thoát giác ngộ. Vì đức Phật tuyên bố, "Ta là Phật
đã thành còn chúng sinh là Phật sẽ thành".
Vài
hàng kính trao đổi cùng quí Vị.
18.10.2007
Lệ
Thọ
Đúng,
Cần
phải hành động, không thể chỉ nói suông. Cần đem ra bàn
thảo thẳng thắn. Quý Thầy (đúng nghĩa) cần phải mạnh
dạn dạy đệ tử của mình, xuất gia và cư sĩ, kịch liệt
bài trừ tệ nạn trong chốn thiền môn. Nếu không vì lợi
ích cá nhân, can đảm thì chúng ta chắc chắn thành công. Tự
chúng ta, Tăng sĩ, cư sĩ PGVN, cần phải hành động, không
thể mong chờ và NN, Chính phủ, GHPGVN (bệ rạc).
1/
Nhà nuớc, Chính phủ cần phải tránh các phe phái chính trị
chỉ trích vì cái cớ "đàn áp tôn giáo, tự do tín ngưỡng"
và chắc gì "họ" thương chúng ta, PG.
2/
GHPGVN đang là phế phẩm của XH thì làm được gì?
Tôi
có quen một anh bạn, khi thấy một người có hình tướng
xuất gia, đang ngồi uống beer với một nhóm thợ xây dựng,
anh này liền chỉ mặt, nói "mày không xứng đáng mang bộ
áo này, cởi ra ngay, đi lao động như mấy ông thợ xây này
còn được con người tôn trọng hơn, . . . ." và một
tên đội lốt, lừa đảo đã hiện nguyên hình.
Đây
là tội "lợi dụng tín nhiệm, lừa đảo, chiếm đoạt
tài sản công dân", phải nghiêm trị như lừa đảo, sản
xuất và buôn bán hàng giả, giựt hụi, trốn nợ vậy.
Ai
dám can đảm như anh này?
hoangchuong911@gmail.com
10-18-2007
11:23:12
CÓ
TÌNH TRẠNG XUẤT GIA "DỄ DÃI"
Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY ?
Trần
Đại Vĩ
Sáu
hạng ngoại đạo này là Ma ba tuần, đến thời mạt Pháp,
xen vào giáo Pháp của ta, phá hoại Già Lam, huỷ báng chính
Pháp của Phật, chê bai những giáo tướng, nghi thức tụng
niệm. Nên, Phật dạy các vị Bồ tát Đại thừa phải đem
nguyện lực, tùy chỗ ứng hiện. Hoặc làm vị Đế vương,
hoặc làm vị Tể quan, hoặc làm vị Trưởng giả, đều ở
mỗi chỗ làm vị Đàn việt để tiêu trừ tà đạo, ủng
hộ chính Pháp.
Vào
website Phattuvietnam.net, thấy Ban biên tập có cho đăng lại
hai bài “Quá dễ dãi trong việc cho xuất gia”
của tác giả Trịnh Xuân Lực và “Không dễ để được
phép xuất gia” của tác giả Thích Lệ Thọ, từ trang
Thư viện hoa sen, chúng tôi thấy, ở đây các tác giả
đã đề cập đến vấn đề có tính chất nóng hổi và “dễ
xảy ra va chạm” của Phật giáo Việt Nam.
Từ
duyên khởi đó, trong bài viết này, chúng tôi có suy nghĩ về
mấy vấn đề sau:
1. Phật tử
tại gia có được bàn đến tư cách
của người
xuất gia hay không?
Thử
trừu tượng hóa, chúng tôi thấy có 3 loại ý kiến trả lời
khác nhau:
Thứ
nhất, Phật tử tại gia không được bàn bạc, đánh
giá, góp ý đến tư cách của người xuất gia.
Quan
niệm này khá phổ biến trong cộng đồng Phật tử tại gia
có mặt bằng tri thức tương đối thấp. Họ cho rằng, các
vị xuất gia “đầu tròn áo vuông”, “linh thiêng”, thuộc
về Tam bảo, là đối tượng không thể nghĩ bàn; nếu nói
đến, nhất là phê phán, góp ý về những cái kém, cái xấu
của các Thầy thì sẽ phạm tội bất kính, mà “kính Phật
thì phải trọng Tăng” (số đông họ đồng nhất Tăng với
cá nhân các nhà sư!); đó là vấn đề nội bộ của các Thầy.
Vả
lại, họ cho rằng, mình đã là gì đâu mà dám góp ý! Cho
nên thái độ tốt nhất là “không thể nghĩ bàn”, vừa
không tổn “công đức” lại yên thân.
Hơn
nữa, một số các Thầy cũng “khuyên răn” Phật tử theo
hướng đó. Họ coi việc Phật tử góp ý hay phê phán các
Thầy là “vạch áo cho người xem lưng”, là không thiện
chí, là “nói xấu” Đạo.
Phải
chăng ở đây, nói sai hay nói đúng về sự thật khách quan
là không quan trọng, mà nếu nói (cho dù sai) nhưng có lợi
thì được coi là “nói tốt”; còn nếu nói (cho dù đúng
sự thật) mà không có lợi thì bị quy là “nói xấu”?
Thứ
hai, Phật tử tại gia được phép bàn bạc, góp ý đến
tư cách của người xuất gia mà không bị coi là phạm giới
luật.
Tôi
loại trừ ý kiến của các đối tượng ác tâm, cơ hội,
giả danh Phật tử để chỉ trích, bôi nhọ, phá hoại hòa
hợp Tăng; hay các đối tượng mắc “sở tri chướng”, có
bản ngã quá to, tự cho mình là giỏi, là chuẩn mực, có quyền
“lên lớp, chỉ dạy”, mà ở đây chỉ đề cập đến các
Phật tử sùng kính Tăng bảo - tức là có thiện chí mà thôi.
Họ
xác định rằng “tứ chúng đồng tu” theo tinh thần “ý
hòa đồng duyệt, kiến hòa đồng giải”; Phật với chúng
sinh còn bình đẳng, huống chi là đồng đạo! Khi đó, họ
chân tình, thẳng thắn góp ý, phê bình cho các Thầy có khuyết
điểm, có sai lầm, mà không quải ngại. Và các Thầy
được góp ý, phê bình cũng hoan hỉ, vô tâm tiếp thu, sửa
chữa. Điều đó có gì là sai trái?
Thứ
ba, Phật tử tại gia không nên đặt ra vấn đề về
tư cách của người xuất gia.
Quan
niệm này thường xuất phát từ những người “dĩ hòa vi
quý” cực đoan. Ta chỉ nên biết đến sự tu tập của ta,
không nên đa sự.
Họ
tách bạch Tăng - Tục một cách cứng nhắc, coi đó là việc
riêng của các Thầy, không nên xía vô, không khéo dẫn tới
va chạm, thêm phiền não, thậm chí rước họa vào thân, v,v.
Những
người viết bài này cho rằng, không có lý gì mà Phật tử
tại gia lại không được bàn bạc, góp ý và phê phán về
tư cách của các Thầy. Ngược lại, họ có bổn phận phải
làm điều đó, nhất là những cư sĩ Bồ tát. Cố nhiên, cần
xác định mục đích của việc làm đó là để thanh tịnh
thế gian trụ trì Tăng bảo và với phương tiện khế lý,
khế cơ. Nghĩa là mục đích phải thật trong sáng và cách
thức tuy cương quyết nhưng cần tế nhị, tùy cảnh, tùy người.
2. Từ lời
cảnh tỉnh của Phật
- “Đức
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ tát rằng: … nếu muốn
cầu được bậc Phật, phải y theo các điều sau đây:
Thứ
nhất, phải trì trai giữ giới làm nền tảng,
Thứ
hai, phải tìm minh sư chỉ dạy công phu,
Thứ
ba, phải biết Tâm Tính rốt ráo tỏ rõ,
Thứ
tư, phải làm các phúc lành giúp cho gốc Đạo được sung
túc,
Thứ
năm, Phải kết duyên lành cho gốc lành mỗi ngày mỗi thêm
lớn,
Thứ
sáu, biết rõ nhân quả đừng có vọng động,
Thứ
bảy, trừ phá tà ma, xa lìa ngoại đạo…”.
- “Đức
Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi: Trong thế gian có nhiều
tà sư, ngoại đạo chẳng biết việc lành dữ nhân quả ra
sao. Chẳng hiểu sự ứng hiện của luân hồi quả báo. Tâm
cứ điên cuồng, tin theo tà kiến, tôn thờ Thần Quỷ, làm
theo giáo Pháp tà mị, phỉnh gạt người đời, giết hại
biết bao nhiêu trâu, dê, lợn, ngựa, v.v. Tham ăn rượu thịt,
bày đặt gọi là cúng tế Trời, Đất, Quỷ, Thần để cầu
phúc, cầu thọ, trấn giữ nhà cửa, thân mệnh. Lấy cớ dâng
quỷ, thần, ăn lường của người. Lại thêm vẽ bùa, niệm
chú truyền dạy người khác, nói gạt rằng: “bùa chú này
có công năng cứu độ người sinh về cõi Trời”.
Bởi
ham muốn tài vật của người, để nuôi dưỡng thân sống.
Đều do tà kiến sinh ra. Như giết mạng mà cứu được mạng,
thì các bậc vương hầu thường sống đời đời không
chết. Như vẽ bùa, niệm chú mà cứu độ được người thành
Đạo, thì thầy Tà được lên Trời hết. Có lẽ nào lại
được như vậy. Trong đời người mê tín những tà mị, cùng
nhau mà dẫn vào địa ngục…
- “Bồ
tát Văn Thù hỏi Phật: Sao gọi là Lục sư ngoại đạo?
Đức
Phật dạy: Khi ta nhập diệt rồi, có nhiều thứ Ma
ba tuần xen vào trong Pháp ta.
- Ở
chùa, cạo đầu, mặc áo Phật, chung lộn với người đời,
ăn thịt uống rượu, nhơ bẩn đất Phật. Đấy là ngoại
đạo thứ nhất.
- Còn
có người dắt vợ, đem con vào chùa. Học theo tà thuật cho
là để truyền lại cho đệ tử. Ăn thịt uống rượu. Cũng
đi làm chay, tụng kinh cho người. Không phải ông thầy, không
phải người tục. Đó là ngoại đạo thứ hai.
- Còn
có những người tà, trên thì không có thầy truyền, dưới
thì không có thầy chứng, bị ma quỷ ám ảnh, mê muội. Trí
biết bậy bạ, cho là thông minh. Chẳng có công tu, tự xưng
thành đạo. Bên ngoài làm giống theo Phật, trong tâm làm việc
tà mị, phỉnh gạt người đời, theo vào đường tà, diệt
hạt giống Trí của Phật. Đấy là ngoại đạo thứ ba.
- Lại
có người làm theo việc hữu hình, học phép hữu vi, vẽ bùa,
thỉnh chú, đuổi quỷ, sai thần, phỉnh gạt người đời.
Ác kiến càng nhiều thì chính kiến của Phật càng bị tiêu
diệt. Đây là ngoại đạo thứ tư.
- Còn
có người y theo việc tốt xấu, học theo chiêm quẻ, bàn luận
cát hung, xem bói xem tướng, nói trước những điều họa phúc,
dối chúng gạt người, tiêu diệt con mắt chính Pháp của
Phật. Đây là ngoại đạo thứ năm.
- Lại
có người sửa soạn hình tướng, bụng trống lòng cao. Mình
không có tài năng mà lòng tự cao, cho mình là giỏi, chưa có
chứng ngộ nói là đã chứng, đã ngộ. Học được một
hai câu nói của Phật, cho mình đã thấu lý. Chẳng ăn dầu,
muối, trà, quả, tương, dấm. Chấp theo tà tướng, dối gạt
người không trí. Chẳng cần xem Kinh, niệm Phật. Chẳng cần
làm Phúc tham Thiền. Chẳng cần xuất gia thụ giới. Chẳng
cần tìm Thầy học Đạo. Dám đem sắc thân uyển giả này
mà ví cùng Phật không khác. Lừa gạt người không biết
vào nơi hắc ám. Dứt đoạn căn lành, tiêu diệt hạt giống
Trí Tuệ. Hay chấp trược những sự khờ khạo, ngu si. Đây
là ngoại đạo thứ sáu.
Sáu
hạng ngoại đạo này là Ma ba tuần, đến thời mạt Pháp,
xen vào giáo Pháp của ta, phá hoại Già Lam, huỷ báng chính
Pháp của Phật, chê bai những giáo tướng, nghi thức tụng
niệm.
Nên,
Phật dạy các vị Bồ tát Đại thừa phải đem nguyện lực,
tùy chỗ ứng hiện. Hoặc làm vị Đế vương, hoặc làm vị
Tể quan, hoặc làm vị Trưởng giả, đều ở mỗi chỗ làm
vị Đàn việt để tiêu trừ tà đạo, ủng hộ chính Pháp,
không cho tà ma tự tiện quấy phá, y theo lời Phật dạy. Đây
mới là Đệ tử của Phật. Còn như thuận theo tà là đồng
với Ma ba tuần ngoại đạo, huỷ báng Pháp Đại thừa, đọa
vào Địa ngục như tên bắn.
Hễ
đã mất thân người, muôn kiếp khó trở lại được”.
- “Bồ
tát Văn Thù hỏi Phật: Hoặc có Thiện nam Tín nữ căn
tính chậm tối, phúc đức ít ỏi, tuy tin Phật tu hành mà
lòng không tỏ sáng. Cái công phu chưa xong, làm sao độ được
người ?
Đức
Phật dạy: Căn tính tuy là chậm tối mà có tín tâm
bền chắc chân thật, chẳng bỏ trai giới, thường thường
phát nguyện sám hối, cái tội lỗi trước chẳng dám sai lầm.
Đến khi tai nạn nghiệp chướng được tiêu diệt hết, lòng
nguyện đủ rồi thì có Tuệ tính phát ra, hiện tiền được
sáng suốt tỏ ngộ, thấy Tính thành Phật”.
- “Bồ
tát Văn Thù hỏi Phật: Có người khi còn nhỏ tạo
nhiều nghiệp ác, già rồi mới tu có được thành Phật không?
Đức
Phật dạy: Biển khổ không bờ bến. Nếu quay đầu
lại thì thấy bờ kia ở phía sau lưng. Nếu như có người
hồi tâm phát nguyện tu hành, bỏ điều trái theo điều phải,
cải ác làm lành, trường trai giữ giới, học hỏi chính Pháp.
Bất kỳ già trẻ đều thành Phật đạo”.
- “Bồ
tát Văn Thù hỏi Phật: Hoặc có Thiện nam Tín nữ một
đời ăn chay giữ giới luật, gieo trồng căn lành. Đến già
sa ngã, bỏ ăn chay, phạm cấm giới, sau bị quả báo gì?
Đức
Phật dạy: Những chúng sinh như vậy, tuy có căn lành
mà không có nguyện lực lớn, không có chính tri kiến, xa lìa
thầy bạn, quên hết công lao tu hành khi trước, trở lại
bị lục tặc lôi kéo, cướp đoạt công đức tu hành, tâm
sinh điên đảo, không thành Phật đạo…
Hễ
mất thân người, muôn kiếp khó trở lại được”.
(Theo
“Phật thuyết Đại thừa Kim Cương Kinh Luận”)
3. Đến thực
tế nhiều trăn trở
Phật
giáo nước ta đã có lịch sử trên dưới 2.000 năm. Phật
tử Việt Nam ngày nay hoàn toàn có thể tự hào về điều
ấy, trong đó có niềm hãnh diện chính đáng về tầng tầng
lớp lớp các thế hệ Tăng già - đội ngũ các nhà sư đã
và đang hành đạo, “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa quần
sinh”.
Tăng
già Việt Nam ngày nay là sự kế thừa chính thống và xứng
đáng của bao đời lịch đại Tổ sư. Trong nội hàm của
khái niệm Phật giáo Việt Nam đương đại, về thông số
có tới gần 4 vạn Tăng Ni trong nước và hàng nghìn Tăng Ni
đang hành đạo trên thế giới; có tới hơn 1 vạn ngôi chùa
trong nước và hàng trăm ngôi chùa Việt ở nước ngoài, có
tới hàng chục triệu Phật tử tại gia.
Với
một số lượng như thế, đòi hỏi một sự thuần túy về
chất là điều không tưởng. Hơn nữa sự phức tạp, đa dạng,
muôn màu, muôn vẻ của thế gian này, dù muốn hay không muốn,
cũng xâm nhập vào đội ngũ những người xuất gia, cả mặt
sáng và mặt tối của nó.
Có
thể khẳng định rằng, đội ngũ Tăng già Việt nam ngày nay
là rất đông đảo, hùng hậu và thanh tịnh.
Song
trong đội ngũ những người xuất gia ngày nay, cũng như bao
đời trước và cũng là điều bình thường theo luật nhân
quả, còn có một bộ phận tu sĩ, nhất là những người mới
thọ giới xuất gia chưa đủ oai nghi, tế hạnh và trí tuệ
mà lạm tham gia vào Tăng đoàn.
Đó
là những hạt sạn, thậm chí là ung nhọt trong cơ thể cộng
chúng Tăng già ngày nay.
Bản
chất của Tăng bảo là thanh tịnh và hòa hợp. Đối với
Tăng đoàn thế gian thì sự thanh tịnh và hòa hợp ấy mang
khuôn mặt và dáng dấp của thế gian, vì việc đời thì còn
đa đoan và các Thầy thì còn đang trong quá trình chuyển Phàm
sang Thánh.
Đạo
Phật là Đạo của từ bi, bình đẳng, trí tuệ…, do vậy
cổng chùa luôn là rộng mở, hay nói đúng hơn là không có
cửa, không có loại trừ một ai. Hết thảy mọi hạng người:
sang hèn, giàu nghèo, hiền ngu, tốt xấu, trai gái, già trẻ,
tàn tật, phi nhân, v,v, đều có thể đến với Đạo Phật.
Họ
không đến đó thì ai đến đó? Nơi đó không đón họ, không
dành cho họ thì đón ai và dành cho ai?
Chúng
ta sẽ không xứng là Phật tử khi thấy khó chịu, bài bác,
xua đuổi… những người ăn mày, bệnh hoạn, tàn tật, dốt
nát, điên rồ… ra khỏi cửa chùa một cách tàn nhẫn và
vô cảm.
Trong
số họ, có một số người tá túc thường xuyên ở chùa,
là người nhà chùa, chấp tác, ăn ngủ ở chùa. Nhưng họ
đâu phải là người xuất gia.
Điều
chúng tôi muốn lưu ý ở đây là có một số người chưa
đủ tư cách mà bằng con đường nào đó đã len chân được
vào hàng ngũ các nhà sư, gia nhập Tăng bảo thế gian, trở
thành hạt sạn, thành ung nhọt trong chốn Thiền môn.
Ai
cũng biết “chiếc áo không làm nên thầy tu” nhưng đã là
thầy tu thì phải có chiếc áo đặc trưng cho tôn giáo của
mình. Quần chúng thế gian dựa vào đó mà phân biệt Tăng
- Tục.
Hiện
nay ở nước ta có một số (không phải là ít?) các “Thầy”
đã thụ đại giới Tỷ khiêu, dự vào hàng “Thiên nhân sư”
mà tư cách, phẩm chất không có đủ (ở mức tối thiểu
cho phép), làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh nhà sư. Chân
dung của họ tạm được phác họa như sau:
Về
trình độ hiểu biết: các vị ấy thường có nền
tảng tri thức phổ thông rất thấp, có khi chưa tốt nghiệp
lớp 12, hoặc có thì là bổ túc hay đỗ vớt.
Khi
vào chùa, họ không muốn hoặc không có điều kiện “dùi
mài kinh sử”. Thời gian trôi đi, cửa trí bị bịt lấp,
nhìn thấy sách, nghe thấy học là toát mồ hôi. Gắng gượng
lắm thì thuộc lòng được một hai bài Cảnh sách, Thỉnh
chuông và mấy trang Kinh nhật tụng. Còn để hiểu sâu thì
chắc khó vì đọc còn chữ nọ xọ chữ kia.
Một
mẩu chuyện thật 100%, có vị Ni sư ở Đông Anh - Hà Nội,
khi nói chuyện với khách du lịch đến thăm chùa Cổ Loa, đã
rất tự tin mà nói rằng: “thời Đức Phật còn sống,
cách đây mấy vạn năm, ở Ấn Độ có cái đạo của Bà
Na Môn, bà ấy giỏi lắm, là đàn bà mà sai bảo được cả
đất nước, ….” Du khách tròn mắt thán phục!
Những
trường hợp tương tự như thế không phải là ít! Điều
đó không phải là khôi hài mà là sự thật lo buồn. U tối
và mê tín là rất gần nhau!
Về
công phu tu tập: người xuất gia là người khác thế
tục. “Xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất
tam giới gia”. Xưa đã thế, nay và mãi mãi về sau
vẫn thế.
Người
xuất gia có thể còn là học giả, văn sĩ, nhà tổ chức,
nhà xây dựng, nhà giáo, v,v, nhưng trước hết và sau cùng
phải là hành giả. Nghĩa là việc hạ thủ công phu tu tập,
hành trì Tam vô lậu học Giới - Định - Tuệ theo con đường
Văn - Tư - Tu là bắt buộc và đó là cái làm nên tư cách
người xuất gia.
Ngày
nay, ở nước ta, chúng ta càng tự hào và tin tưởng nhiều
vì đang có bao nhiêu hành giả nỗ lực ngày đêm tu tập, hạ
thủ công phu theo chính giáo, thì càng phân vân, trăn trở vì
cũng còn không ít chư vị giải đãi, buông lung.
Họ
coi việc đã được thụ Tỷ khiêu giới, đã học xong trường
cơ bản hay Học viện Phật giáo là “qua cầu thoát nạn rồi”.
Bây giờ là đến lúc “làm ăn”: cầu cúng (thậm chí đồng
bóng), năng lập đàn chay, lôi kéo Phật tử, khuyến hóa họ
“cúng dàng”, tích lũy tiền bạc, xây dựng chùa cảnh thật
to lớn, vừa là để hấp dẫn Phật tử, vừa là để “an
cư lạc nghiệp”.
Cá
biệt có vị (do có phúc báo lớn, được trụ trì ở chùa
cảnh đắc địa, nhiều bổng lộc, có nhiều đệ tử tại
gia là các nhà tài chủ giàu có) phấn đấu trở thành “phú
tăng”. Họ dễ không làm chủ được mình, bị lối sống
hưởng lạc lôi cuốn. Họ bất chấp nhân quả, giới luật,
sử dụng tịnh tài của tín thí thập phương vào những việc
“phi pháp”: ăn, uống, mặc, ở, xe cộ, điện thoại, đồ
dùng cá nhân… thật cầu kỳ, thật sang, thật đắt, thật
xịn, “sành điệu”… Họ bất chấp lời cảnh tỉnh rằng,
“Lộc của Phật thì có gai, tịnh tài của thập phương thì
có móc!”.
Họ
ngụy biện rằng, thời đại phát triển thì phải “tùy duyên”,
đó chỉ là “phương tiện”, còn tu là ở Tâm. Hơn nữa,
“Phật tử họ cứ cúng dàng thì làm sao mà từ chối được.
Mình không muốn thụ hưởng nhưng đành phải nhận, chẳng
lẽ từ chối? Thôi thì phải nhận để chứng minh công đức
cho họ!”
Dẫu
vẫn biết rằng, nhà Phật không yêu nghèo và ghét giàu; người
tu phải nương theo thế tục. Nhưng, ai cũng biết, “thiểu
dục, tri túc” là căn bản của người tu hành. Nếu không
khéo, nhà chùa có thể bị biến tướng thành một gia đình
thế tục. Khi đó là sư mà không phải là người xuất gia.
Có
một số vị coi cuộc đời tu hành như là một quá trình “câu
giờ”. Thời gian cứ trôi đi. Mỗi năm họ có thêm một tuổi
đời, một tuổi đạo. Rồi đến hẹn lại lên, mấy chốc
mà họ chẳng được tấn phong lên các ngôi vị giáo phẩm
cao cấp. Ai dám bảo họ không tu hành?
Nhưng
dù sao, các chức danh đó cũng chỉ là các danh vị thế gian.
Với người tu hành, điều quan trọng là nhân quả vẫn rõ
ràng, không hề sai khác!
4. Thử tìm
nguyên nhân
Thứ
nhất, việc lựa chọn “đầu vào” chưa đảm bảo
về chất lượng.
Vẫn
biết, cửa Phật là bình đẳng và là người bình thường
thì ai ai cũng có thể tu hành theo đạo Phật. Nhưng để trở
thành một vị Sư - “bậc Thầy của Trời và Người”, thì
như giáo luật đã quy định một cách đầy đủ, chi tiết,
nghiêm ngặt - không hề đơn giản và xuê xoa.
Thế
mà trong những năm vừa qua, không ít trường hợp, có các
vị chưa chín muồi, chưa hội tụ đủ các điều kiện tối
thiểu mà vẫn lọt được “cửa ải” một cách ngoạn mục
để thụ được Đại giới, cho dù có thi cử, có khảo hạch.
Có
thể do nể nang, do quan niệm “thôi thì phiên phiến, rồi
đào tạo sau”. Cũng có thể do sốt ruột vì “thực tế
đang thiếu các Thầy quá!” Tình trạng chiếu cố, đỗ vớt,
lấy cho đủ số không phải là không có.
Đâu
đó có tình trạng chư Tăng yết ma tác Pháp truyền giới không
thành tựu, giới tử không có đủ điều kiện để đắc
giới, mà vẫn được coi là hợp pháp!
Thế
là, trong số các vị Sư, có cả “vị kém chất lượng”,
kiến thức phổ thông và giáo lý không đảm bảo ở mức
tối thiểu; tư cách hành giả và nghi quỹ Thiền môn chưa
đủ oai nghi, thậm chí có vị đồng bóng, ẻo lả mà cũng
được “giám khảo” làm ngơ - “từ bi” chấp nhận.
Việc
thụ giới vội để lấy tuổi, tính tuổi không phải là hiếm.
Điều đó có thể xuất phát từ quan niệm sai lầm cho rằng,
thụ giới sớm thì tranh thủ được thời gian để đi học,
đi hạ; rồi sau này được tấn phong giáo phẩm sớm, kèm
theo đó phải chăng là danh và lợi?
Thế
là tình trạng chín gượng, chín ép trong số các Thầy, vô
hình dung đã góp phần vào tình trạng “chất lượng đáng
báo động” trong giới xuất gia ngày nay.
Nếu
chúng ta thử tìm hiểu việc lựa chọn, xét tuyển, khảo sát,
đào tạo, tu tập, truyền chức Linh mục bên Công giáo, thì
có thể thấy được một số đối chiếu và gợi ý đáng
suy nghĩ đối với việc truyền Đại giới của Phật giáo
ngày nay.
Thứ
hai, Công tác đào tạo và hướng dẫn tu tập cho các
nhà sư chưa ngang tầm với thời đại và yêu cầu của giáo
luật.
Sau
năm 1981, lần lượt các trường Phật học thuộc GHPGVN được
mở ra và đi vào đào tạo, từ sơ cấp đến sau đại học.
Thành tựu ban đầu là rất lớn, rất đáng ghi nhận, nhưng
bất cập thì cũng còn không ít. Ngày nay thử thống kê lại
xem, số lượng các vị học xong, đi ứng cơ khắp nơi có
bao nhiêu phần được thành tựu và bao nhiêu phần bị thui
chột?
Nhưng
điều chắc chắn rằng, những vị thành tựu ngày nay, phần
lớn nằm trong số Tăng Ni sinh xuất sắc thời còn đang tu
học trên các Phật học đường.
Dù
muốn hay không thì hệ thống đào tạo thế tục bên ngoài
xã hội cũng có ảnh hưởng (cả tích cực và tiêu cực) đến
các trường Phật học. Liệu có tình trạng gian lận trong
thi cử không? Liệu có tình trạng xuê xoa hạ thấp tiêu chuẩn
đánh giá không? Liệu có tình trạng chạy theo thành tích,
văn bằng không? v,v. Khó có thể nói là tuyệt đối không
có được!
Tình
trạng các vị sư trẻ ít trau giồi nội điển mà chạy theo
thế học, không muốn làm hành giả mà muốn làm học giả,
có thể nói là đang lan tràn.
Rồi
tình trạng in ấn, phát hành “loạn” sách báo và băng đĩa
của một số vị sư có “hảo tướng”, “lợi khẩu”,
“giỏi xào xáo”, không phải là không nhức nhối. Họ biện
minh rằng mượn phương tiện để hoằng pháp, nhưng ở đó
khó có thể che dấu nổi động cơ “lăng xê”, “tạo thương
hiệu”, “sao”, đầy mùi danh lợi cá nhân.
“Trước
thư lập ngôn” ở thế gian vốn không phải là việc của
người sơ học. Huống nữa, trong nhà Phật, các Tổ luôn răn
rằng, đăng đàn thuyết pháp, chưa nói đến việc lớn như
viết sách, dịch kinh, là việc phải cực kỳ thận trọng,
phải rất dè dặt, nếu sơ sẩy thì hậu quả khôn lường.
Có bậc đại sư, chỉ trả lời “liều” một câu mà còn
bị đọa 500 kiếp làm hồ ly. Tích cổ đó, là Phật tử mấy
ai không biết?
Sẽ
là rất đáng trân trọng khi học cái đó, có văn bằng đó
một cách quang minh chính đại, làm phương tiện để phục
vụ Đạo pháp.
Nhưng
sẽ là đáng xấu hổ khi “giả học” cái đó, có “giả
văn bằng” đó để trang điểm cho bản thân, tăng trưởng
bản ngã, cầu danh, cầu lợi trong đạo ngoài đời.
Thứ
ba, cơ chế sàng lọc, làm thanh tịnh đội ngũ những
người xuất gia còn nhiều lúng túng.
Có
nhiều vị, mà tăng chúng và Phật tử xung quanh biết rõ là
kém phẩm hạnh và trí tuệ, vẫn ung dung làm Thầy mà không
sao cả! Nếu có thì chỉ là chuyện xì xào mà thôi. Và thế
là những vị kém tư cách đó đương nhiên tồn tại ở ngôi
vị đang có. Họ coi, và thực tế, chùa là của họ: hộ khẩu
chính chủ ở chùa, họ đã góp công xây dựng, kiến thiết
nhà chùa…Vậy thì ai làm gì được họ? Họ gần như là
“sư tự do”, không cần thuộc về tổ chức nào cả. Ai
đó đụng vào họ là “to chuyện”. Nan giải thay!
Thứ
tư, Các thầy còn trẻ mà đã sớm xa rời đời sống
cộng trụ, thiếu sự ước thúc, giáo dục của Tăng chúng.
Vấn
đề này khá phổ biến ở miền Bắc, gọi là “cho ra ở
chùa riêng”. Một sư một chùa, thậm chí vài chùa, khi công
hạnh chưa cao thì nguy hiểm biết chừng nào? Các thầy “thích”
được sớm ra ở chùa riêng, để được “tự do tự tại”,
sớm được cọ sát, để sớm trưởng thành - với tư cách
là con người trần tục! Sự khẳng định đầu tiên của
nhiều vị là hưng công xây, sửa chùa chiền. Nhưng thực tế
cho thấy, các công trình xây dựng đó, phần lớn ít giá trị
tâm linh. Đức nhỏ thì khó ở ngôi cao cũng là điều dễ
hiểu.
Đồng
nhất công lao lo toan chật vật xây dựng là công phu tu hành
của người xuất gia là điều đáng sợ. Trong lúc tuổi đang
xuân, sức đang khỏe, chí đang hăng, nếu dồn năng lực đó
vào tu tập thì sẽ thành tựu thuận duyên biết bao!
Trong
lịch sử Phật giáo, chư Tổ cũng có kiến tạo chùa cảnh,
nhưng, nếu không nhầm thì, tất cả các vị đều làm các
việc đó, sau khi đã hạ thủ công phu trong nhiều năm khổ
luyện. Cho nên, các công trình được kiến tạo có giá trị
rất lâu bền và đặc sắc. Phải chăng đó là “y phục xứng
kỳ đức” vậy.
Thứ
năm, thiếu sự giám hộ của xã hội nói chung và các
chúng tại gia nói riêng.
Trong
lịch sử Phật giáo, đã có không ít trang viết về các sự
kiện mà ở đó Quốc vương, triều đình đã phải dùng biện
pháp mạnh để thanh lọc đội ngũ những người xuất gia.
Những người không đủ tư cách qua khảo thí, thẩm tra, bị
buộc phải hoàn tục, ra khỏi tự viện hoặc nếu được
ở lại thì chỉ là người chấp tác, không được dự vào
hàng Tam bảo.
Có
thể, trong thời gian qua, do hậu quả của chiến tranh và sự
cực đoan về tư tưởng, cho nên ở nước ta, nhất là ở
miền Bắc, số lượng chư Tăng quá ít ỏi, chùa chiền tan
hoang… Cho nên, “cứ có người ở chùa là tốt rồi!”.
Sớm tối đèn hương, có câu kinh câu kệ cho vui cảnh, cho
ấm cúng làng mạc, v,v.
Cố
nhiên, điều đó, trong tình cảnh đó là rất đáng quý. Nhưng
ngày nay, nếu chỉ như thế thì không đủ và không được.
Có lẽ đây cũng là một nguyên nhân để dẫn đến hệ quả
là xã hội và Phật tử tại gia quá dễ dãi chấp nhận các
vị sư chưa đủ tư cách, để rồi việc truyền bá chính
pháp gặp nhiều trở ngại.
Có
thể ở đây đề cập đến chuyện đó, nhiều vị sẽ coi
rằng đó là “phá đạo”, nhưng thử hỏi có tổ chức,
đoàn thể nào, trong quá trình tồn tại và phát triển của
mình mà không cần thanh lọc, loại bỏ ung nhọt?
5. Mấy kiến
nghị
Thứ
nhất, GHPGVN và Ban Tôn giáo Chính phủ sớm đầu tư
nghiên cứu làm sao để đảm bảo về chất lượng nhân sự
đầu vào - giới tử khi tiến hành thủ tục cho thụ giới,
nhất là Đại giới Tỷ khiêu.
Trừ
các giới tử xuất chúng được ấn chứng bởi các bậc trưởng
lão, còn lại để thọ Đại giới, nhất thiết các giới
tử phải có thời gian tu tập có hướng dẫn trong chùa, ít
nhất có 3 năm là Sa di, v,v.
Hơn
nữa, các tiêu chuẩn đã được chế trong giới luật cần
được thực hiện sít sao. Không thể châm chước, chiếu cố
được. Không được thụ giới sớm, thụ giới ép để tranh
thủ thời gian.
Cần
có cơ chế làm sao để giám sát, ước thúc các vị tân Tỷ
khiêu. Nên chăng, cứ sau 1 năm, cần khảo thí và kiểm tra
lại trình độ và tư cách của người mới thọ Đại giới
dưới 10 năm. Nên có cơ chế làm sao để có thể thanh lọc,
loại bỏ được các vị “lục sư ngoại đạo” ra khỏi
Tăng chúng.
Thứ
hai, Nâng cao chất lượng đào tạo và tu tập ở tất
cả các cấp học.
Nên
có những công trình nghiên cứu làm sao để có thể kế thừa
được các tinh hoa đào tạo của chư Tổ trong quá khứ ở
các Tổ đình truyền thống.
Nên
rất tỉnh táo và cảnh giác, không khéo trường Phật giáo
bị biến thành trường thế tục lúc nào không biết.
Trong
đào tạo nên “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Việc thi cử,
nhất là đầu vào và đặc biệt là đầu ra cần thật nghiêm
túc. Không nhất thiết phải tốt nghiệp 100%.
Người
xuất gia, coi danh, lợi là “giặc”, cho nên không để trào
lưu chạy theo thành tích (giả), văn bằng (giả) làm hoen ố
của Thiền. Những danh hiệu học vị (Ths, TS…) không thể
đặt ngang với các giáo phẩm (ĐĐ, TT, HT). Sự “oai” ở
đây là không cần thiết, thậm chí phản cảm với cả đương
sự và người nghe.
Thứ
ba, có cơ chế, chế tài không cho phép các vị tân Tỷ
khiêu xa rời đời sống cộng trụ của Tăng.
Những
vị chưa đủ 30 tuổi đời và 6 tuổi hạ (chẳng hạn) thì
chưa được phép ra ở chùa riêng, dưới bất cứ hình thức
nào, kể cả danh nghĩa là đi trông chùa cho sư phụ. Và việc
thu nhận đệ tử cũng vậy. Trong thời gian qua, một số nơi,
một số Thầy đã “lách” giáo luật để thu nhận đệ
tử “phi pháp”.
Thứ
tư, Cần tạo ra cơ chế giám hộ của xã hội và các
chúng Phật tử tại gia đối với các Thầy, đặc biệt là
các vị Tân tỷ khiêu.
Làm
sao để các Thầy có thể tinh tiến tu tập, trau giồi đạo
hạnh, trí huệ, trì nhiếp tam nghiệp thân khẩu ý, đầy đủ
oai nghi tế hạnh, xứng đáng là trưởng tử Như Lai, đúng
trong hàng ngũ Tăng già - bậc Thầy của Trời và người./.
Hướng
tới kỷ niệm ngày Quán Thế Âm Bồ tát xuất gia, 19/9/ Đinh
Hợi
Trần
Đại Vĩ
(http://www.phattuvietnam.net/)
10-25-2007
10:23:34