|
|
c
From:
Hoang Lien-Tam <hoanglientam@y...>
Date:
Mon Dec 9, 2002 3:27 pm
Subject:
Co^ng a'n Ba' Tru+o+.ng Da~ Ho^`
Chào
đạo hữu Thanh Trí Hải,
So
sánh với bản tiếng Anh thì bản Việt dịch của vị Cư sĩ
mà đạo hữu đề cập đến không có gì sai. Dịch
giả đã tôn trọng nguyên tác Anh ngữ khi chuyển ngữ.
Tuy nhiên, sau khi đối chiếu với bản chữ Hán của quyển
Vô Môn Quan, chúng tôi thấy văn bản tiếng Anh không phản
ảnh đúng và do đó chúng tôi chỉ y cứ vào bản dịch
quyển Vô Môn Quan từ chữ Hán của Giáo sư Trần Tuấn Mẫn
và bản dịch cũng từ chữ Hán của Hoà thượng Thích Duy
Lực làm nền tảng.
Cũng
một câu hỏi “Người đại tu hành còn lọt vào nhân quả
không ?” một vị Sư trả lời “không lọt vào nhân
quả (bất lạc nhân quả)” bị đoạ làm thân chồn hoang
năm trăm kiếp và một vi Sư khác đáp “nhân quả rõ ràng
(bất muội nhân quả)” làm khai ngộ cho người hỏi.
Vậy tại sao chỉ trả lời sai một chữ đã phải đoạ làm
thân chồn năm trăm kiếp?
Trước
hết chúng ta phải định nghĩa thuật ngữ: “người đại
tu hành”. Rất dễ hiểu, người đại tu hành là
người tuân theo nghĩa lý của Phật đã giảng trong kinh điển
mà tu tập và thi hành. Người đại tu hành không phải
là người đã giác ngộ, chỉ là người đang trong tiến
trình tu tập để đến giác ngộ. Thuật ngữ này ám
chỉ các vị đại tỳ kheo, là những vị xuất gia lâu năm
có đức cao, tuổi lớn.
Vậy
mục đích của các vị đại tu hành là gì? chính là để
giác ngộ giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Giải
thoát là hội nhập bản thể tuyệt đối xưa nay vốn
sẵn có. Trong cảnh giới tuyệt đối này, lẽ dĩ nhiên,
chẳng có tương đối, tất cả đều là tuyệt đối, không
sanh tử, không thiện ác, không tốt xấu, không giầu nghèo,
không đối đãi, không cấu tịnh, không tội phước, và lẽ
dĩ nhiên tuyệt đối là bất nhị, là không hai, nhân cũng
không và quả cũng không. Cho nên, như định nghĩa trên,
người
đại tu hành chưa phải là người giác ngộ giải thoát, nên
vẫn còn bị chi phối bởi luật nhân quả trong thế giới
tương đối. Ngược lại, kẻ đã giác ngộ làm gì
còn bị luật nhân quả chi phối. Vì nói người đại
tu hành không lọt vào nhân quả, tức là phủ nhận luật
nhân quả trong thế giới hiện tượng tương đối, nên
phải gánh hậu qủa không lường được, cũng do luật này
chi phối.
Có
người cho rằng bậc giác ngộ như đức Phật vẫn còn bị
nhân quả. Họ viện dẫn chính đức Phật kể Ngài bị
nhức đầu ba ngày do một kiếp xưa đã gõ đầu con cá.
Ngài kể về câu chuyện “Vua Lưu Ly giết chết cả tộc Thích
Ca” như sau:
“Vì
đời trước chủng tộc Thích Ca sống trong một làng đánh
cá, tiền thân vua Lưu Ly là con cá lớn, binh sĩ là cá con trong
một ao lớn, dân làng ấy xả hết nước ao và bắt con cá
lớn và các cá con để ăn, duy chỉ có một đứa bé không
bắt không ăn mà chỉ gỏ ba cái vào đầu cá lớn . Đến
đời Phật Thích Ca thành Phật rồi, vẫn phải bị nhức đầu
ba hôm.”
Đó
là muốn thể hiện vấn đề nhân quả không thể tránh, nên
Phật phải phương tiện tuỳ thuận chúng sinh để độ.
Trong kinh khác Phật nói : “Nói ta bị nhức đầu ấy
chỉ là phương tiện mà thôi, thật tế thì ta có bị nhức
đầu đâu !” Cũng như chuyện đức Phật ăn gạo
lúa ngựa ba tháng là Ngài dùng sức phương tiện độ chúng
sinh, chớ chẳng phải là nghiệp báo “Đức Phật
vì giáo hoá các chúng sinh chẳng biết nghiệp báo.., chẳng
tin nghiệp báo..., nên thị hiện nhân duyên nghiệp báo
chứ Như Lai thiệt không có nghiệp báo.” ....(Kinh Đại
Bảo Tích Phẩm Thứ 38 Tập 6).
TrÂn
trọng,
Hoàng
Liên Tâm
From:
thanhtri hai <thanhtrihai@y...>
Date:
Sun Dec 8, 2002 11:13 am
Subject:
Công án Bá Trượng Dã Hồ
Chào
các đạo hữu,
Tôi
được đọc cuốn sách Zen Flesh - Zen Bones của Paul Reps - Nhà
xuất bản The Charles E. Tuttle Company, Tokyo; Lần thứ nhất:
1957, lần thứ sáu: 1963. Trong đó có công án Con Trồn
của Tổ Bá Trượng, được một vị cư sĩ chuyển dịch ra
Việt ngữ như sau:
<<Cứ
mỗi lần Bá Trượng thuyết pháp, một ông lão đến nghe mà
tăng chúng không hề thấy. Khi buổi giảng chấm dứt tăng
chúng rời chỗ thì ông lão cũng ra về. Nhưng một ngày kia
ông lão lại ở lại, Bá Trượng hỏi: "Ông là ai?" Ông lão
trả lời: "Tôi không phải là người, nhưng tôi vốn là người
khi Đức Phật Kashapa còn tại thế. Tôi là một thiền sư
tu tại núi này. Bấy giờ, một trong những đệ tử của tôi
hỏi rằng một người đã giác ngộ thì có còn chịu luật
nhân quả không. Tôi trả lời: ‘Kẽ giác ngộ không
còn chịu luật nhân quả nữa.’ Vì câu trả lời này,
do còn vướng mắc với tuyệt đối, mà tôi đã biến thành
con chồn hơn năm trăm kiếp rồi, và tôi vẫn còn là chồn.
Xin ngài hóa độ cho tôi bằng pháp ngôn của ngài để tôi
thoát khỏi kiếp chồn? Bây giờ tôi xin hỏi ngài: Kẽ đã
giác ngộ thì có còn chịu luật nhân quả không?"
Bá
Trượng bảo: "Kẽ đã giác ngộ là một người vẫn chịu
luật nhân quả."
Sau
câu ấy, ông lão thoắt ngộ. >>
Thuật
ngữ <<Giác Ngộ>> được vị cư sĩ này dịch từ chữ
<<The enlightened man>> trong bản Anh ngữ. (trang 91, công án
số 2 Vô Môn Quan)
Tôi
rất thắc mắc về câu <<Kẽ đã giác ngộ là một
người vẫn chịu luật nhân quả.>> và vẫn không thoả
mãn khi nghe một vị sư cũng giảng là bậc giác ngộ cũng
vẫn bị chi phối bởi luật nhân quả. Vì vậy tôi xin
ghi ra đây cái nghi của tôi để xin các đạo hữu góp ý,
biết đâu các đạo hữu có thể giải toả được nỗi thắc
mắc này. Xin cảm ơn các đạo hữu trước.
Kính,
Thanh
Trí Hải
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@ẹ..>
Date:
Tue Dec 10, 2002 7:21 am
Subject:
RE: [hoasen-1] Công án Bá Trượng Dã Hồ
Chào
quý đạo hữu,
Bài
của d/h Hoàng Liên Tâm viết rất công phu và đầy đủ,
tôi chỉ xin góp thêm vài ý ở một điểm.
Trước
hết, chúng ta cũng nên lưu ý là trong nguyên bản Hán
văn, vấn đề nhân quả này được đặt cho "bậc đại tu
hành". Những vị này, nếu là Thiền Tông, thì có thể đạt
đến mức độ tu chứng như Kiến Tánh, Liễu Ngộ, Chứng
Ngộ (Satori), chớ chưa phải Giác Ngộ, Giải thoát .Thật ra
theo truyền thống Nam Tông hay Bắc Tông thì mức độ đạt
đạo cũng có cao thấp khác nhau rất nhiều, và ở các đệ
tử Phật cũng ít thấy nói đạt đến quả vị Giác Ngộ
viên mãn hay thành Phật. Thường chuyện kể về các ngài
chỉ dừng lại ở bậc A La Hán hay Bồ Tát.
Theo
Trí Độ Luận và sự phân chia của ngài Trí Giả (tông Thiên
Thai ) thì bậc thang tiến tới Giác Ngộ trọn vẹn có
mười tầng tu chứng.
1.
Càn Tuệ địa (trí tuệ khô cạn) : trí tuệ còn khô
cạn vì chưa thấm nhuần dòng nước của Phật pháp.
2.
Tánh địa (thấy Tánh) : hành giả bắt đầu thấy được
Phật tánh nơi tự thân mình.
3.
Bát Nhẫn địa An trú tâm nơi Tám sự quán ngộ thuộc Dục
giới , Sắc giới và Vô sắc giớị.
4.
Kiến địa :Han`h giả chứng ngộ chân lý "tứ diệu đế ",
tâm ý hoàn toàn tự do, không còn bị kiềm tỏa bởi tà kiến.
5.
Bạc địa (gần kề): hành giả diệt trừ được phần lớn
những phiền não căn bản của cõi Dục.
6.
Ly dục địa (rời khỏi cõi dục): hành giả diệt trừ hoàn
toàn phiền não gốc rễ của cõi Dục, cho nên vĩnh viễn không
còn tái sinh vào cõi Dục nữạ
7.
Dĩ biện địa (đã hoàn tất): tương đương với A La Hán,
quả vị cao nhất của Thanh Văn thừạ
8.
Bích Chi Phật địa (Duyên giác): , giác ngộ và thoát khỏi
vòng sinh tử luân hồi của Duyên Giác thừạ
9.
Bồ Tát địa : A La Hán và Bích Chi Phật là những địa vi
giác ngộ, nhưng chưa trọn vẹn. Muốn đạt được quả vị
viên mãn, han`h giả phải phát tâm tu tập hạnh Bồ Tát.
10.
Phật địa : Chứng đắc quả vị giác ngộ cao quý tột bực,
và hoàn toàn giải thoát.
Bồ
Tát điạ lại còn chia ra làm mười bậc cao thấp khác nhaụ
Vì
có nhiều mức độ thành tựu cao thấp trên đường tu chứng,
cho nên rất khó nói phải đến bậc nào thì sẽ không còn
"bất lạc nhân quả" (không rơi vào luật nhân quả) . Thiển
nghĩ có lẽ phải là bậc "Ly Dục điạ" trở lên, vì từ
đó đã diệt trừ được phiền não của cõi Dục và không
còn tái sinh vào cõi Dục nữạ Nhưng khi nói tới Nhân Quả
và Nghiệp báo, thì vẫn phải nhớ là có những quả phúc
và thiện nghiệp, mà một bậc "đại tu hành" , ngay cả các
bồ tát, trong sự nghiệp tự độ và độ sinh chắc chắn
cũng nhận lãnh những quả lành đó, dù không mong cầu theo
ý hướng vô nguyện.. Những điều họ làm từ trí tuệ
và tâm đại bi không thể tạo ra quả xấu được. Và
tôi nghĩ luật nhân quả vẫn còn tác động ở họ, nhưng
với ý nghĩa tích cực.
Ngoài
ra, kinh sách có kể lại nhiều mầm nhân bất thiện từ một
kiếp xa xôi trong quá khứ vẫn còn tác động lên các
bậc đại tu hành và cũng có thể đưa đến những nghiệp
quả rất xấu ở hiện kiếp. Thử kể trường hợp của
nhị tổ Huệ Khả. Ngài tên là Thần Quang, sau khi đắc pháp
với sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma ngài đi giáo hoá nhiều nơi,
nhưng cuốm đời bị kẻ ghen ghét vu cáo là truyền bá
tà đạo, nên ngài bị bắt và bị xử tử vào năm 593. Theo
truyền thuyết, chính ngài BD Đạt Ma cũng bị kẻ ganh tỵ
bỏ thuốc độc mà chết (nhưng đây vẫn là truyền thuyết
không kiểm chứng được, khác với chuyện thật về ngài
Huệ Khả).
Hòa
From:
Thi Do" <tdo@ectr.org
Date:
Tue, 1 Jul 2003 14:11:17 -0700
To:banbientap@thuvienhoasen.org
Subject:
Cong An Bach Truong Da Ho
Kinh
goi
Ban
Bien Tap Thu Vien Hoa Sen,
Toi
doc bai cong an "Bach Truong Da Ho" cua cac dao huu trinh bay trong phan
Dien Dan Phat Phap cua Thu Vien, toi nhan thay diem quan trong trong cong
an nay la "bac Dai Tu Hanh" ma trong nhung bai viet co khi ghi la "ke giac
ngo" (the enlightened man). Toi co duoc co hoi tim hieu hoc hoi ve viec
nay thi duoc day la bac Dai Tu Hanh la nhung vi van con nam trong phap
gioi tuong doi, ma o trong tuong doi thi con o trong "nhi bien"; cho nen
ho van con anh huong boi luat nhan qua, nhung dieu quan trong la ho "khong
lam nhan qua" (bat muoi nhan qua). Con danh tu "ke giac ngo" trong cong
an nay, thi toi nghi la ban bang Anh Ngu da viet khong dung voi chu "bac
Dai Tu Hanh" ma trong nhieu sach thien da ghi chep.
Day
chi la nhung dieu toi hoc hoi duoc tu su tham van voi cac thay va cac dao
huu, chu ban than toi von la nguoi ngu xuan hoc hanh ve Phat phap rat gioi
han, khong biet tra loi viec nay. Vay xin goi den Thu Vien Hoa Sen, neu
quy vi thay tot, xin chia xe voi cac dao huu. Xin loi viet khong danh dau,
vi toi khong co chuong trinh tieng Viet trong may.
Kinh
thu
Thi
Date:
Fri, 16 Sep 2005 21:27:59 -0700 (PDT)
From:
"a o" <thientinhthienvuong@yahoo.com>
Subject:
Công Án Bá Tượng Dã Hồ
To:
banbientap@thuvienhoasen.org
Trong
công án này, đối với cụm từ " bậc đại tu hành" thì như
các Phật tử đã thảo luận khá triệt để, tôi không có
gì để bàn thêm. Nhưng ở cụm từ " kẻ giác ngộ", theo chỗ
hiểu của tôi, thì làm gì có cái gọi là "kẻ giác ngộ".
Như
đã biết, Đức Thích ca được xưng tụng là Phật đà, tiếng
phạn nghĩa là bậc giác ngộ. Nhưng thực sự có cái gì trên
thế gian tương đối này được gọi là thật sự giác ngộ
không.
Phật
ở nơi tâm chứng tuyệt đối, không có giác ngộ hay không
giác ngộ, không có tỉnh hay mê, không có phiền não vô minh
hay bồ đề giải thoát.
Bản
thân thân Phật và danh xưng Phật cũng chỉ là phương tiện.
Kinh Pháp Hoa nói Phật vốn đã thành đạo từ lâu, nhưng vì
muốn độ chúng sinh nên phương tiện thị hiện ra vô số
thân Phật, vô số danh hiệu : thị hiện làm thái tử, đi
tu, giác ngộ thành đạo và thuyết pháp giải thoát, Rồi cũng
vì chúng sinh mà thị hiện Niết Bàn. Tất cả những việc
kể trên đều là nhân quả tương đối, có bắt đầu có
kết thúc, có cơ duyên, có điều kiện, có quá trình. Rõ ràng
Phật Thích ca lịch sử có sinh ra và có diệt mất, có tu hành
và có thành đạo, có thuyết pháp và có Niết bàn. Nhưng đây
là cái có của thế gian, còn ở nơi Chân Như, thì vốn chẳng
có sinh diệt, chẳng có thuyết pháp, chẳng có Niết Bàn, chẳng
có tu hành, chẳng có thành đạo. (Nghĩa "chẳng có" này cũng
là phương tiện).
Kinh
Pháp Hoa giúp hành giả thay đổi cái nhận thức hời hợt
về một Đức Phật lịch sử có hình tướng, có tu hành,
có giác ngộ, và sống một đời sống nhân quả sinh diệt,
mà đi sâu vào bản thể, gặp được đức Phật Bổn Môn
không sinh không diệt, lìa nhân quả, siêu việt nhân quả,
siêu việt không gian thời gian. (Phẩm 16 và 21 thuộc bổn môn).
Đây là thật nghĩa khó tin mà kinh Pháp Hoa hiển bày. Là pháp
giải thoát thật nghĩa, thoát ly hình tướng. Nếu hiểu nghĩa
này của Pháp Hoa thì có thể hiểu được công án đang nói
ở đây.
"Nghiệp
hiểu theo nghĩa thường là Nhân Quả, nhưng dưới nhãn quang
vô sai biệt thì Nghiệp tức Phi Nghiệp. Do đó, giữa người
mê và người ngộ, nghiệp không tác động như nhaụ Nghĩa
là người mê chưa được tâm chứng, không ngớt kêu gào nặng
mang nghiệp ách. Trong khi người ngộ vẫn có nghiệp như ai,
nhưng mang thì có mà cảm thấy nặng thì không, vì họ hoàn
toàn vô ý thức (về nghiệp). Vậy Ngộ không có nghĩa là
vứt bỏ hết nghiệp, mà chính là tự tại vô ngại đối
với nghiệp, cũng như đối với phi nghiệp." (trích Hoa nguyên:
Suzuki)
Kim
cương nói: "ai chấp thấy hình tướng thì không thấy Như
Lai". Quả thật, chỉ nhìn vào ông Phật Thích ca bằng xương
bằng thịt, có 32 tướng tốt, thọ nhận quả báo hình tướng
mà cho rằng đấy là kẻ giác ngộ thì quả sai lầm. Vì chỉ
thấy được cái tướng sinh diệt bên ngoài, mà quên đi Đức
Phật bản thể trùm khắp không gian thời gian, tràm đầy khắp
nơi, chính là chân tánh của tất cả pháp. Chân tánh này mới
thực sự là giải thoát và giác ngộ, chân tánh này không
chịu luật nhân quả chi phối, Tại sao ? Tại nó là chân tánh
của chính nhân quả. Chân tánh thì tự nó đạt giác ngộ
và giải thoát, chứ không có một cá nhân ai đó có thể đạt
được giải thoát cả.
Nếu
có cái gọi là thật sự giác ngộ thì ắt có cái gọi là
thật sư mê lầm, như thế thì làm sao chuyển mê khải ngộ
được. Mê là mê, ngộ là ngộ rạch ròi rồi còn gì. Nhưng
vì mê không thật là mê, ngộ không thật là ngộ, nên mới
có mê, có ngộ, và có chuyển mê khải ngộ. Và do đó ngộ
là danh từ phương tiện thành lập. Vốn dĩ Bồ tát không
thấy có người giác ngộ và có người được cứu độ...
Kim cương cũng nói: Bồ tát không thấy mình là Bồ tát...
Bồ tát độ vô số chúng sinh, thành tựu vô sô pháp mà không
thấy có chúng sinh nào được độ, không thấy có pháp nào
được thành tựu. Vì trong chân tánh tự nó thị hiện thành
tựu như vậy.
Trong
lĩnh vực tương đối, thì còn có chúng sinh, còn có Phật,
Bồ tát, trong con mắt người chưa giác ngộ còn thấy giữa
Phật và chúng sinh có khác biệt, còn phân chia mê với ngộ.
Nhưng ở nơi con mắt đã giác ngộ thì làm gì có Phật và
chúng sinh nào, làm gì có danh từ "kẻ giác ngộ", làm gì có
chúng sinh đang mê, làm gì có ai bị trầm luân nhân quả, làm
gì có ai đắc Niết Bàn. Tâm kinh Bát nhã viết: "Vô sắc thanh....
Vô lão tử diệc vô lão tử tận.... vô khổ tập diệt đạo.
Vô trí, diệc vô đắc, thị vô sở đắc cố." ( không có
hình tướng...không có hoại diệt,( không có sinh diệt), không
có giác ngộ hay sự đạt đến giác ngộ, vì chẳng có ai
để đạt được, (chẳng có ngã thể độc lập nào thật
sự đạt được))
Như
vậy, nhìn với nhãn quan bản thể thì chẳng có cái gọi là
"kẻ giác ngộ", và cũng chẳng có "kẻ chịu nhân quả".
Trong
tâm còn đặt ra vấn đề giải thoát và chịu nhân quả, còn
chứa câu hỏi nghi ngờ về giải thoát và chịu nhân quả,
còn nghĩ rằng có người thật sư giải thoát và chịu nhân
quả, thì tức trong tâm vẫn còn bị ràng buộc (bởi mấy
khái niệm sai biệt này), tức ý thức chưa quán triệt đầy
đủ tinh thần giải thoát.
Ý
nghĩa của công án này là loại bỏ mối nghi ngờ về nhân
quả và giải thoát. Thiền tông thường dùng công án để
loại bỏ các tạp niệm nghi ngờ, hơn là đưa ra câu trả
lời rõ ràng. Tại sao ? Tại càng trả lời thì càng lún sâu
vào tạp niệm, càng rơi sâu vào khái niệm của nhị nguyên,
càng xa rời chân tâm bất nhị, càng phát sinh thêm huyễn sự.
Kinh viên giác dạy đừng cho rằng huyễn ảo sẽ thật sự
diệt hẳn. ( vì huyễn ảo này diệt sẽ lại sinh huyễn ảo
khác)
----------------------------
Ở
câu truyện này, sở dĩ nhà tu hành kia bị đọa làm chồn,
không phải do bị tội báo bởi đã giải thích sai, mà do chưa
thoát ly được hình tướng nên vẫn bị ràng buộc nhân quả.
Chính là việc chấp trước hình tướng, nghĩa tướng, cho
rằng thật có kẻ giác ngộ, thật có bậc tu hành, đã làm
ra nghiệp đó. Nói "kẻ giác ngộ" hay nói " bậc đại tu hành"
thoát ly nhân quả thì sai lầm, vì bản thân việc tu hành là
nằm trong nhân quả, cho đến việc giác ngộ cũng là tương
ứng đối chiếu với mê lầm của nhân quả mà thành lập,
vậy thì chưa ra khỏi phạm vi của nhân quả. Như vậy,
nhân quả là phổ biến, không có ai cụ thể và không có cái
gì cụ thể, không có cách nào cụ thể để thoát luật nhân
quả cả.
Như
vậy, nhân quả tức duyên hợp, duyên hợp tức không thật
có.
Nếu
hỏi cái gì thì giác ngộ thật, cái gì thoát nhân quả, chỉ
có thể nói đó chính là Chân tánh Phật tánh là giác
ngộ thật, là không chịu nhân quả chi phối. Còn kẻ giác
ngộ là kẻ nhận ra mình chính là chân tánh. Nhận ra mình
là chân tánh tức lìa nhân quả. Chưa nhận ra mình là
chân tánh tức còn xoay theo nhân quả. Phật dạy: Chúng sinh
vốn là Phật mà không biết mình là Phật. Cũng vậy, chúng
sinh vốn lìa nhân quả mà không biết, lại vọng tưởng mình
đang trong nhân quả, và cứ thế lao đầu vào nhân quả, chịu
xoay chuyển trong đó, không ra được. Thế mới biết danh từ
"kẻ chịu nhân quả" chỉ do vọng tưởng mà ra, còn danh từ
"giác ngộ, giải thoát, Niết bàn" chỉ do Phật tạm thời
phương tiện tạo ra để dẫn dắt mà thôi. Có biết đâu
tất cả đều không thât, và đều đứng ở "bờ bên kia"
hết rồi.
------------------------------
Lạy
Phật, tôi nói sai chỗ nào xin được sám hối, và lắng nghe
lời phê bình.
x
|