Kính
gởi ban biên tập !
Nhân
đọc những góp ý của chư-vị và của Tỳ-Kheo Thích-Thanh-Từ
về vấn đề cầu siêu cho người quá cố có thể được
siêu thoát hay không, tôi cũng có vài nhận xét cũng như thắc
mắc.
Theo
như Thầy Thanh-Từ cũng như chư-vị chấp nhận điều nầy
thì người đã khuất không thể nào siêu thoát được, qua
dẫn chứng lời Đức Phật dạy.
Tôi
xin có câu hỏi : Do đâu Chư-Vị và Thầy tin như vậy ? Có
phải vì y cứ lời Đức Phật thuyết không ?
Tôi
lại xin có câu hỏi : Những Kinh Vu-Lan, Kinh Điạ-Tạng, Kinh
cuả pháp môn Tịnh-độ lại nói rằng người còn sống có
thể thực hiện được điều nầy. Bằng chứng là vì sao
có Lương-hoàng-sám, còn khi Đức Phật tại thế thì sự tích
Vua A-Xà-Thế đáng lẽ với nghiệp ác cực trọng giết cha,
hại mẹ mà nhờ Đức Phật thì quả lại nhẹ đi . .. ngoài
ra 48 đại nguyện của Đức A-Di-Đà thì sao. Những Kinh nầy
không phải do Đức Phật thuyết ư.
Đứng
hẳn về một nhận định nào thì như Đức Phật có thuyết
trong Kinh Đại-Bát Niết-Bàn đều sai cã. Kính mong Chư-vị
đọc Bộ Kinh nầy sẽ rõ. Phần tôi thì tin như thế nầy
xin được tác bạch.
Sẽ
làm được cho người quá vãng với lòng thành cuả thân nhân
cùng với người có GIỚI ĐỨC. Nhân nhẹ thì chỉ cần có
một người GIỚI ĐỨC cũng đũ. Tại sao cần có người GIỚI
ĐỨC ? Vì người nầy mới có uy với người quá vãng. Ngoài
ra người nầy tỉ như Bác-Sĩ biết bịnh cho toa. Nhờ thân
nhân thành tâm tha thiết và nhờ GIỚI ĐỨC của vị đó thì
người qúa vãng sẽ bừng tĩnh cơn mê và họ sẽ siêu thoát
được. Chứ không phải là nhờ tụng Kinh theo nghiã đen mà
được.
Bây
giờ thì e khó được vì sao ? Như tại Sacto tôi đang sinh sống
nói riêng và cũng có thể toàn nước Mỹ nói chung chẳng thấy
đúng theo Đức Phật dạy là có an cư kiết hạ ( từ 3,4 vị
Tăng trở lên) cho mỗi năm thế mà danh sách người xin cầu
siêu thì đông mà chỉ có một hai vị không tròn an cư kiết
hạ cũng xong tuốt.
Chúng
ta thường nghe nói cây kim nhỏ nhẹ nhưng chìm, còn viên đá
nặng vẫn nỗi qua sông được là nhờ có thuyền, mà chúng
ta không nghĩ ra rằng thuyền mà có lỗ mọt thì ra khơi cũng
chìm lại. Chúng ta phải nhớ là thuyền ở đây là ai. Đó
là Đức Phật, các bậc A-La-Hán . . . còn nghiệp nhẹ thì
cần phải có người GIỚI ĐỨC mới được. Tôi xin sám hối
với CHƯ-VỊ CÓ GIỚI ĐỨC NHƯ ĐỨC PHẬT CHẾ ĐỊNH.
Còn
tại sao Đức Phật khi tại thế lại thuyết như thế thì
không được bởi vì đương thời mọi người tin rằng "được"
thì Đức Phật phải thuyết ''không được'", nhưng khi Đức
Phật thuyết không được thì Đức Phật có đũ trí huệ
biện tài vô ngại, có đủ tri, chư, căn, trí, lực sẽ làm
cho đương sự sáng tỏ vấn đề như trường hợp Vua A-Xà-Thế.
Còn vấn đề tại sao Đức Phật phải thuyết Vô-ngã vì đương
thời các phái ngoại đạo đều thuyết Ngã thì Đức Phật
phải thuyết ngược lại mới dẫn dắt chúng sanh đang mê
lầm trở về chánh đạo chứ. Chư-vị đọc tụng Bộ Kinh
Đại-Bát-Niết-Bàn sẽ rõ ràng là Đức Phật không chủ trương
Vô-thường, khổ, không, vô ngã. Đó chỉ là cái thời điểm
phải thuyết như vậy. Đức Phật có đủ vô ngại biện tài
lúc nhẹ lại nói nặng,và ngược lại. Từ chỗ tuỳ lúc
tuỳ thời cho nên Đức Phật mới thuyết những bộ Kinh của
Tịnh-độ tông. Vì sao ? vì đã phải thời, phải lúc. Tuy
nhiên chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ rằng tùy thời tùy lúc
nhưng khi nào GIỚI LUẬT vẫn là THẦY cho chúng sanh, càng mạt
pháp càng phải ôm cứng cái phao nầy, may ra cuộc sống mới
an lành.
Đến
đây tôi xin đưa ra thêm một điều nữa là lời Đức Phật
dạy không phải chỉ riêng cho thành phần chúng sanh như ta
đang còn sống mà còn cho tất cã chúng sanh các cõi giới khác.
Có nghiã là đối với ta thì cho rằng chết, nhưng cho dù họ
ở cõi giới nào thì họ vẫn đang sống như ta đang sống
mà thôi. Tam-đồ khổ hay Chư-thiên cũng y như ta đó mà. Tại
sao ta nói thân nhân chết, đó chẳng qua là ta không thấy mặt
trong một đời sống của ta hiện tại. Như vậy nếu vì một
duyên sự gì đó ta không gặp người thân ở tại quê nhà
thì qua điện thoại ta vẫn có thể làm cho thân nhân của
ta an lành hay giận dữ cũng không phải hai lời nói trái nhau
mà là do cách nói của ta có phải thế không. Cũng như vậy
lòng thành tâm là như vậy đó. Ta tụng đọc Kinh cho người
quá vãng nghe thì cũng có khác gì ta đang tụng đọc đâu.
Tại sao ta tụng đọc thì có chút bừng tĩnh mà ta lại nghĩ
rằng không hiệu qủa cho người qúa vãng. Điều nào ta cũng
chẳng xác minh được, chỉ có tin theo lời Đức Phật dạy
theo thời theo lúc thì chắc chắn rằng được như Đức Phật
nói.
Nhưng
Thầy Thanh-Từ nói cũng như Chư-vị chấp nhận đúng, quả
không sai nhưng mà nói ngưng tại đây thì chưa liễu nghiã
theo như Đức Phật có thuyết trong Kinh Đại-Bát-Niết-Bàn
về định nghiã cuả chũ liễu nghiã và không liễu nghiã.
Kính
thưa Ban-biên-tập ! đôi lời nhận định kém cõi nếu có
thể được đưa lên mạng để cho những Chư-vị nào như
Cô (xin lỗi tôi quên tên) nếu còn hoang mang thì xin Chư-vị
bổ túc cho sự sai sót của tôi.
Tâm-Lực
email : daibatnietban@yahoo.com
Cầu
siêu là gì? Tại sao chúng ta phải cầu siêu? Thế nào là cầu
siêu? Có người cho rằng cầu siêu là một cách mê tín
của nhân gian chứ chẳng phải xuất phát từ trong Phật Pháp.
Kỳ thật, tôi cho rằng người này có hai lý do mới nói rằng
cầu siêu chẳng phải xuất phát trong Phật Pháp.
Lý
do thứ nhứt là người này chẳng hiểu hai chữ cầu siêu
là gì.
Lý
do thứ hai là họ tự cho họ là hay, tài giỏi, để họ có
thể khếch trương giáo pháp của họ đang thực hành cũng
như đang theo, nhưng họ có hiểu rằng tất cả đều là Phật
Pháp không? Vốn không hai cũng không khác, đều là giáo lý
từ kim khẩu của đức Từ Phụ thuyết ra, hầu cứu vớt
hết mọi loài chúng sanh. Tùy theo nghiệp thiện ác của họ
đã làm mà phải chịu chiêu cảm quả báo, do lòng quá từ
bi nên Phật không thể làm ngơ mà dùng đủ phương tiện để
cứu vớt họ khỏi đọa vào ba đường ác( ba đường ác
chớ chẳng phải là Tam Giới), nếu quý Phật Tử hiểu “ba
đường ác chớ chẳng phải là Tam Giới” thì quý phật Tử
đã hiểu rồi khỏi cần phải giải thích cầu siêu là gì
nữa.
“Cầu
Siêu” cầu là nguyện cầu tức là mong đợi, Siêu là
xuyên suốt cũng tức là vượt khỏi. Hằng Quang tôi vốn
chẳng được học nhiều lại còn ngu muội từ nhỏ, học
nhiều nhưng cũng chẳng hiểu được nhiều, nhưng muốn cho
Quý Phật Tử hiểu được lý này để tránh gieo nhân xấu
về sau, nên mạo muội giải thích như vậy, hy vọng rằng
quý Phật Tử hiểu được và đừng chê trách, vì đó là
chữ dùng của tôi, xin thông cảm và hoan hỷ.
Chúng
ta nguyện cầu hay mong đợi những gì? tức nguyện cầu cho
những người thân quá cố hoặc bạn bè quen của chúng ta,
xa hơn nữa là những người mà chúng ta chẳng quen biết, nhưng
vì xót thương họ, vì họ mà làm những công đức để hồi
hướng cho họ được nương vào phước lành đó mà sanh vào
cõi lành. Siêu là vượt khỏi, vượt chỗ nào, tức là vượt
khỏi ba đường ác.
Hầu
hết những Kinh Điển đại Thừa đều có nói đến, hoặc
dùng từ khác mà có người muốn lướt qua hoặc cố tình
xuyên tạc như vậy. Hãy hỏi lại chính mình, đang làm gì?
Đang nói gì? Người nói, cầu siêu không có lợi ích gì tức
là tự mình phỉ báng Phật và đoạn giống từ bi, mà không
phải là từ bi thì không cần phải nói nữa, vì họ đâu
phải là tín đồ của Phật Giáo đâu mà thắc mắc đến
lời nới của họ làm gì?
Bạn
cho là không, tất cả đều không, đúng không? Vậy bạn tu
thiền để làm gì? Dù tu thiền không chấp vào hình tướng
gì để trực chỉ vào tâm. Nhưng đứng theo lý thì bạn cũng
đang chấp là vì còn có cái không chấp ở trong bạn. Quý
Phật Tử hiểu tôi chưa? Phật thuyết pháp suốt thời gian
dài như vậy nhưng Ngài nói” Như Lai chưa hề nói một câu”
Tất cả là ở đây. Đã giải thích toàn bộ 12 bộ kinh của
Phật, mà chúng ta không cố gắng đọc cho kỷ mà lại phê
phán những lời làm cho người mới học phật sanh tâm thối
lui đây không phải là chuyện nhỏ. Quý Phật Tử hãy đọc
cho kỷ Bộ Kinh Kim Cang thì sẽ rõ.
Đã
nói tôi rất ngu, có lẻ hiện tại không ai còn ngu hơn tôi
nữa, lời nói của tôi chẳng phải là gì cả, cũng không
thể bắt quý Phật Tử phải tin theo, hãy làm những gì quý
vị thấy thích và hoan hỷ thì cứ làm. Nhưng tôi ở đây
xin hứa với qúy vị rằng nếu những gì tôi nói còn xuyên
tạc hay hướng về một môn phái nào để nói thì tôi là
người đại vọng ngữ.
Một
khi quý Phật Tử vì một người nào đó làm việc lành để
hồi hướng về cho họ cầu nguyện cho họ được thoát khỏi
chốn khổ đau, đó là một việc làm rất tốt mọi người
chớ gì những lời nói của người khác dù họ là người
có chức vụ cao, được mọi người mến kính mà thối lui
tâm tốt của quý vị, Hằng Quang tôi dám bảo đảm với Quý
Phật Tử rằng khi quý cầu siêu thì người quá cố thật
có phần lợi ích chớ chẳng phải là vô bổ, Bộ Kinh Hiếu
của Phật Giáo ( Kinh Địa Tạng) đã dạy chúng ta như vậy.
Không những chỉ hiếu với ông bà cha mẹ hiện tại mà còn
là hiếu hết thảy cha mẹ trong đời quá khứ. Quý vị học
Phật pháp chính đang hành đạo hiếu rồi đó. Tuy nhiên phải
chân thật thì mới được.
Tuy
nhiên, có làm việc cầu siêu cho người quá cố thì sớm làm
trong 49 ngày thì phước đức lành đó mới mạnh, không phải
nói như thế là qua 49 ngày mà làm thì không có công đức
gì, mà công đức đó người quá cố gặt được rất ích,
phần còn lại đều là về của người đang làm. Cho nên quý
Phật Tử muốn cầu siêu thì sớm làm trong vòng 49 ngày.
Vì
theo Phật Giáo sau khi 49 ngày thì đã phân định, giống như
phiên tòa ở nhân gian đã xử xong rồi. trong sáu đường phải
đi, thì người đó sẽ theo nghiệp lực của chính họ mà
sanh vào một trong sáu cõi đó. Cho nên làm công đức cầu
nguyện cho người thân quá cố thì hãy làm trong vòng 49 ngày.
Còn
chuyện giỗ cúng mỗi năm đó là vì nhớ đến công ơn của
người đó mà tưởng nhớ thôi chớ thật thì người đó
không được gì cả. Vì sao? Vì sau 49 ngày thì họ đã chuyển
sanh vào một trong sáu cõi rồi, nói từ thường dùng đó là
đi đào thai. Cho nên khi làm giỗ, quý vị hãy làm chay, như
vậy mới thật là người con có hiếu, chớ chẳng phải làm
giỗ cho lớn, giết gà làm vịt, heo mà gọi đó là hiếu,
đó chỉ là vì sự mê lầm của người còn sống thôi, vì
mặt mũi làm cho lớn, nhưng họ có biết rằng đâu những
chuyện họ làm người chết đều phải vạ lay, có người
nói, tại sao người chết phải vạ lay, người đó đâu có
làm việc đó? Đúng vậy, ngừơi đó không chính tay làm nhưng
vì họ nên những sanh mạng đó vì người đó mà bị giết
nên đó là tội của họ phải mang, cho nên nói, thiếu đức
sanh con ra chẳng hiểu được đạo, tưởng rằng làm như vậy
là hiếu thảo với cha mẹ, nhưng kỳ thật họ chính trao cho
người qua cố gánh thêm đá trên vai, cho nên hy vọng quý Phật
Tử hiểu được điều này.
Điều
cần thiết nhứt trong khi làm công đức cầu siêu cho người
thân thì phải chí thành. Như vậy mới giúp được người
thân của quý vị. Chỉ e rằng quý vị không thành tâm chớ
đừng nghi ngờ rằng “ Không biết làm như vậy có giúp gì
cho người chết không”, đừng nghi rằng chẳng được gì,
mà hỏi lại mình có thành tâm không? có ân cần làm không?
đó là từ tâm mình xuất phát ra chớ chẳng phải vì người
khác bắt buột thì việc đó tôi không dám nói.
Dĩ
nhiên tự mình còn sống làm là tốt như ở đây nói đến
những người lúc sanh tiền không biết làm những việc thiên
mà làm những việc ác. Có người nói, tôi không tin đọc
tụng kinh điển mà có thể giúp người chết thoát khỏi ác
báo.
Quý
vị không tin là chuyện của quý vị, dù tin hay không tin thì
nó vẫn là như vậy. hãy dụng công chơn thật đi, thì sẽ
hiểu chớ đừng tin hay không tin, vì tất cả đều là không
có, thì sao có công đức hay không có công đức. chẳng phải
chỉ có người chết nghe mà là tất cả đều biết., nhứt
là người đó lại có đức hạnh thì công đức này không
thể nào nghĩ bàn được.
Đừng
vì một lời nói nào mà động tâm, sanh tâm nghi ngờ rằng
việc làm mình có được gì không? Nếu là không thì làm để
làm gì? Đúng vậy, việc làm mà không lợi ích gì thì làm
để làm chi, có phí thời gian không. Mọi người đừng tin
vào tôi, hãy đọc kỷ bộ Kinh Địa Tạng thì sẽ rõ, còn
nếu như quí vị cả bộ Kinh Địa tạng mà còn nghi ngờ thì
thật tội ngiệp cho quí vị, vì đó là do ma che mắt nên mới
bảo rằng Kinh Địa Tạng là không phải do Phật nói, người
sau đặt ra. Không những chỉ có người Trung Hoa nói như vậy
mà người Việt cũng nói như thế.
Đây
là thời gian mà Ma Vương chuyển sanh hoặc là quyến thuộc
của họ để sanh vào thế giới này để bày trừ Phật Pháp,
nếu như quí vị không có lòng tin với Phật nhứt định sẽ
bị chúng chuyển tâm của quí vị. Ma cũng thuyết Pháp giống
như Phật, chúng ta không có cách nào phân biệt được thiệt
giả, tuy nhiên chúng nói được nhưng chúng không làm được,
nghĩa là miệng nói được nhưng làm thì không. Cho nên giữa
Phật và Ma khác là ở chỗ này.
Mọi
người hãy thành tâm làm những việc mà quý Phật Tử thấy
là tốt, an vui. Tôi chưa khai ngộ chưa có pháp nhãn nên không
biết rằng công đức đó như thế nào, nhưng tôi có lòng
tin đối với Phật Pháp, nếu không cao siêu mầu nhiệm cứu
độ được chúng sanh như vậy thì sao gọi là Phật Pháp,
từ bi ở đâu, không có khả năng cứu được người
xấu ác thì sao gọi là cứu khổ cho vui. Hãy tinh tấn lên
đừng vì những lời nói vô tri mà thối thất.
Chúng
ta sẽ đi sâu vào vấn đề này khi vào Kinh văn, chúng tôi
sẽ giải thích rõ hơn cho mọi người được hiểu sự lợi
ích đó như thế nào.
Kinh
Vô Lượng Thọ Giảng Thích, Tỳ Kheo Thích Hằng Quang
WP:
Diệu Đức
VẤN
ĐỀ CẦU SIÊU CÚNG CƠM
THÂN
NHÂN QUÁ VÃNG CÓ ĐƯỞNG HƯỞNG KHÔNG
Thưa
quý thính giả,
Chúng
tôi nhận được mấy câu hỏi của quý thính giả gửi về
yêu cầu giải đáp, xin trích đọc sau đây:
Thưa
quý Ban Biên Tập,
Gia
đình tôi theo đạo Phật từ xưa, trong nhà có bàn thờ Phật,
mẹ tôi ăn chay mỗi tháng bốn ngày. Nhưng bản thân tôi và
các anh chị em, kể luôn cả cha tôi nữa, đều không biết
gì nhiều về đạo Phật, ngoại trừ bàn thờ Phật và chiếc
áo tràng màu khói hương của mẹ tôi.
Hôm
nay anh chị em chúng tôi có mấy thắc mắc muốn hỏi quý Ban
Biên Tập vì chúng tôi không thỏa mãn với câu trả lời của
mẹ tôi, là người Phật tử hiểu đạo nhất trong nhà.
Thắc
mắc thứ nhất:
Chúng
tôi thường thấy những gia đình đạo Phật đến chùa làm
lễ cầu siêu cúng cơm cho thân nhân đã chết hoặc những
dịp đám giỗ, vân vân. Vậy xin hỏi rằng những vụ cầu
siêu cúng cơm như thế, thân nhân đã chết có được hưởng
gì không?
Thắc
mắc thứ hai:
Nếu
nhờ cầu xin mà được, vậy thì không cần siêng làm các
điều thiện, cứ thoải mái làm các việc ác, miễn sao có
nhiều tiền, khi chết nhờ quý tăng ni làm lễ cầu siêu là
sẽ được siêu độ, được không ạ.
Mẹ
chúng tôi thì tin tuyệt đối vào khả năng “làm Phật sự
độ chúng sinh” của các thầy, nên không niệm Phật tụng
kinh, chỉ đến chùa làm công quả những ngày cuối tuần,
cho là khi chết sẽ có các thầy lo.
Chúng
tôi không nghĩ như mẹ, nhưng cũng không hiểu rõ, nên gửi
thư này xin Ban Biên Tập Thư Viện giải thích.
Xin
cảm ơn quý vị.
Thưa
quý thính giả,
Về
thắc mắc thứ nhất, chúng tôi xin nhắc lại phần trình bày
của chúng tôi trong một kỳ phát thanh trước đây, như sau:
“Theo
Phật giáo, cái chết là sự chấm dứt của đời sống tâm-vật
lý của cá nhân. Chết là sự diệt tắt của sinh lực, tức
là đời sống tâm linh và vật lý, cùng với hơi nóng và thức.
Chết
không phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh,
mặc dầu kiếp sống chấm dứt. Cái tiềm lực làm sống chúng
sanh không bị tiêu diệt.
Cũng
như ánh sáng đèn điện là biểu hiện bề ngoài mà ta có
thể thấy của luồng điện vô hình, chúng ta là biểu hiện
bề ngoài của luồng nghiệp vô hình. Bóng đèn có thể vỡ
và ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn tồn tại,
và ánh sáng có thể phát hiện trở lại nếu ta đặt vào
đấy một bóng đèn khác. Cũng như thế, sự tan rã của thể
xác không làm xáo trộn luồng nghiệp lực, và sự chấm dứt
của thức hiện tại dẫn đến sự phát sanh mới. Tuy nhiên,
không có gì trường tồn bất biến, như một thực thể đơn
thuần, "chuyển" từ hiện tại sang tương lai.
Trong
trường hợp nêu trên, nếu người chết tái sanh trở lại
vào cảnh người, chập tư tưởng cuối cùng tất nhiên là
một loại tâm thiện. Thức-tái-sanh là từ tâm thiện ấy
phát sanh, tự nhiên chuyển đến cái trứng và tinh trùng tương
xứng trong cảnh người.
Như
thế có nghĩa là cho đến lúc chết, luồng nghiệp lực vẫn
luôn luôn trôi chảy, không có một điểm thời gian gián đoạn.
Ngay lúc chết những chập tư tưởng vẫn liên tục kế tiếp
như trong đời sống.
Hiện
tượng chết và tái sanh diễn ra tức khắc, dầu ở bất cứ
nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được
thâu nhận tức khắc vào bộ máy thâu thanh. Luồng nghiệp
lực trực tiếp chuyển từ cái chết ngay đến tái sanh, không
trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào. Phật giáo thuần
túy không chủ trương có linh hồn người chết tạm trú ở
một nơi nào, chờ đến khi tìm được một nơi thích hợp
để đầu thai.”
Trên
đây là quan điểm của Phật giáo Nguyên Thủy, hay còn gọi
là Nam Tông, trích trong cuốn Ðức Phật và Phật Pháp do Hòa
Thượng Narada biên soạn.
Về
phía Phật giáo Bắc Tông, hay còn gọi là Ðại Thừa, thì
quan niệm rằng không hẳn là tất cả mọi người sau khi chết
đều tái sinh ngay lập tức. Trường phái này cho là những
người có nghiệp rất thiện thì ngay sau khi chết sẽ sanh
vào các cõi Tịnh, thí dụ cõi Tây Phương Tịnh Ðộ, Ðông
Phương Tịnh Ðộ, vân vân, và những người có nghiệp rất
ác thì sau khi chết sẽ sanh ngay vào các cảnh giới ác, như
Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ hoặc tái sinh thành các loài súc sinh.
Trường hợp đó gọi là “chết đây sinh kia”. Ngoài các
trường hợp đó, sau khi chết, người ta có thể còn lưu tâm
thức lại một thời gian trong trạng thái gọi là Thân Trung
Ấm, và mơ màng trong cảnh giới này từ 1 lần 7 ngày,
cho tới 7 lần 7 ngày, là 49 ngày. Trong thời gian đó,
nhất là 21 ngày đầu, người đã qua đời vẫn còn có ấn
tượng mạnh mẽ về kiếp sống vừa qua. Và chính từ niềm
tin này, người ta coi trọng sự cầu nguyện để giúp chuyển
hóa tâm trạng người chết khiến cho thần thức của họ
hòa nhập được vào các cõi an lành.
Như
vậy thì cả hai truyền thống Phật giáo, Bắc Tông và Nam
Tông đều không nói đến những hình thức cúng kiếng cho
người đã chết từ lâu, hàng năm trời, mà chỉ có thể
giúp cho người mới chết, qua những lời khai thị, những
bài kinh, thốt lên từ tấm lòng chí thành thanh tịnh của
chư vị chân tu và thân nhân, hy vọng thần thức của Thân
Trung Ấm cảm được, mà tiêu dung được các tâm niệm xấu,
cởi mở được các nỗi oán hờn.
Nhà
Phật quan niệm rằng các loài hữu tình chúng sinh tiếp xúc
được với thế giới bên ngoài là nhờ ở ba thành phần,
gọi là “bộ ba Căn, Trần cảnh và Thức”.
Căn,
là bộ phận cơ thể,
Trần
cảnh, là đối tượng nhận thức của Căn
Thức,
là phần tâm thức vô hình, vốn từ Chân Tâm vọng khởi mà
chuyển thành, cũng tràn ngập khắp không gian như Chân Tâm,
là cầu nối giữa Căn và Trần cảnh, tức là cầu nối giữa
bộ phận cơ thể của chúng sinh và thế giới mà chúng sinh
nhận thức, “cảm” hoặc “thấy” được.
Ðối
với một cơ thể đã chết, bộ phận cơ thể, là Căn, đã
ngưng hoạt động, có nghĩa là bộ ba đã mất một phần,
thế thì những sinh hoạt về vật chất như ăn uống, hiển
nhiên là không thể tiếp tục.
Có
người cho rằng sau khi đã qua đời, người chết vẫn còn
ăn, gọi là Thức thực. Như chúng ta đã biết, Thức vốn
vô hình, nếu có Thức thực thì cũng chỉ là “cảm” được
những tâm niệm thương ghét, an ủi, v.v... không thể “ăn”
được món ăn vật chất. Nếu quả thật là còn có sự thèm
ăn, thấy thân nhân bầy những món ngon, mà thần thức lại
không thể ăn được, thì chỉ thêm thèm thuồng đau khổ mà
thôi!
Sau
đây là câu hỏi thứ hai:
“
Nếu nhờ cầu xin mà được, vậy thì không cần siêng làm
các điều thiện, cứ thoải mái làm các việc ác, miễn sao
có nhiều tiền, khi chết nhờ quý tăng ni làm lễ cầu siêu
là sẽ được siêu độ, phải không ạ.
Mẹ
chúng tôi thì tin tuyệt đối vào khả năng “làm Phật sự
độ chúng sinh” của các thầy, nên không niệm Phật tụng
kinh, chỉ đến chùa làm công quả những ngày cuối tuần,
cho là khi chết sẽ có các thầy lo”.
Thưa
quý vị,
Ðể
hiểu rõ hơn về vấn đề “làm Phật sự độ chúng sinh”
và niềm tin “làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ”,
chúng tôi xin gửi tới quý vị lời giải thích ghi trong bộ
Giáo Khoa Phật Học cấp 2, do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp
Tạng Việt Nam ấn hành, như sau:
...”
... Về tập tục tụng kinh siêu độ cho người chết, theo
hòa thượng Ðạo An, vốn không phải là một tập tục truyền
thống của Phật giáo. Tập tục này chỉ bắt đầu có ở
Trung Quốc từ đời nhà Ðường. Ðiều này có thể đúng
vì theo sử chép, thì năm 738, vua Ðường Huyền Tông đã ban
sắc lệnh cho toàn quốc, ở mỗi quận đều xây một ngôi
chùa, đều đặt tên là chùa Khai Nguyên (Khai Nguyên là niên
hiệu thứ nhì của vua Huyền Tông). Ðó là chùa công, do các
quan lại địa phương trông coi, dùng làm nơi tổ chức các
lễ tiết quốc gia, cầu quốc thái dân an. Việc làm này vừa
có ý nghĩa đem ân huệ của Phật ban đến quốc dân, cũng
vừa để biểu thị quyền uy của chính quyền trung ương.
Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn, kéo binh về chiếm kinh thành,
khiến vua Huyền Tông phải chạy vào Tứ Xuyên lánh nạn. Một
năm sau thì quân triều đình dẹp yên giặc loạn. Trong một
năm chiến tranh này, số người chết -- chiến sĩ của cả
hai bên và thường dân --, nhiều vô kể. Triều đình bèn ra
chỉ dụ cho tất cả các chùa Khai Nguyên trong toàn quốc, thỉnh
chư vị cao tăng đại đức, thiết lễ tụng kinh siêu độ
cho chiến sĩ và thường dân đã chết trong cuộc chiến vừa
qua, đồng thời an ủi các gia đình nạn nhân.
Dân
chúng thấy triều đình làm như thế, bèn bắt chước làm
theo, cứ mỗi khi trong nhà có người chết, liền thỉnh chư
tăng tụng kinh siêu độ. Từ đó mà lễ cầu siêu độ cho
người chết trở thành một tập tục trong dân gian.”
Nhân
đây, chúng tôi cũng xin kính gửi tới quý thính giả quan điểm
của lão pháp sư Tịnh Không về vấn đề “làm Phật
sự độ chúng sinh” và niềm tin “làm lễ cầu siêu là sẽ
được siêu độ” này.
Lão
hòa thượng Tịnh Không là một vị cao tăng Trung Hoa đương
thời, rất có uy tín, với một quá trình giảng kinh thuyết
pháp gần năm chục năm. Ngài là người đi tiền phong trong
việc sử dụng hệ thống truyền thanh, truyền hình vệ tinh,
mạng lưới thông tin toàn cầu và những phương tiện truyền
thông hiện đại khác trong việc truyền bá Phật pháp trên
khắp thế giới. Trong giới tu hành, nhiều người suy tôn ngài
như một vị Tổ của tông Tịnh Ðộ. Ngài nói:
“Trong
Phật pháp, nói Phật sự là giúp đỡ tất cả chúng sinh phá
mê khai ngộ, lìa khổ được vui, những sự việc này đều
gọi là Phật sự.
Vậy
còn hiện nay thì sao?
Hiện
nay thì thời gian tiếp xúc với kinh điển cơ hồ ít hơn,
nhìn thấy trong cửa Phật phần nhiều đều là lấy kinh sám
“Phật sự siêu độ người chết”, cho rằng đây là Phật
sự. Cho nên vừa nghe nói đến tiếng “Phật sự” là rất
dễ sinh ra hiểu lầm. Những việc siêu độ vong linh này ở
trong Phật giáo xuất hiện rất trễ ..., rất trễ. Thời xưa
ở Ấn Ðộ chẳng có. Khi Phật giáo được truyền đến
Trung quốc, lúc ban đầu cũng chẳng có. Vậy sự việc này
xảy ra như thế nào?
Năm
trước, trong buổi Phật học giảng tọa tại trường Ðại
Học ở Ðài Loan do lão pháp sư Ðạo An chủ trì, đã có một
sinh viên nêu vấn đề này ra để hỏi lão pháp sư. Hôm đó
tôi cũng có mặt nên cũng đã có nghe. Lão pháp sư nói rằng
sự việc này có thể là bắt nguồn từ giữa niên hiệu Khai
Nguyên triều đại nhà Ðường. Vào thời gian đó, có loạn
An Lộc Sơn tạo phản, giặc giã nổi lên khắp nơi. Nhờ có
danh tướng Quách Tử Nghi tài giỏi mới bình định được
nội loạn.
Khi
an ninh đã được vãn hồi, nghĩ tới những linh hồn chết
thảm còn vất vưởng lang thang nơi đồng hoang cỏ cháy không
ai thờ cúng, triều đình cho xây tại mỗi bãi chiến trường
một ngôi chùa đều lấy tên niên hiệu Khai Nguyên để đặt
làm tên, rồi thỉnh quý vị cao tăng từ khắp các nơi về
các chùa Khai Nguyên này để tụng kinh cầu siêu độ cho các
vong hồn. Từ đó, tại mỗi bãi chiến trường lớn đều
có một chùa Khai Nguyên. Nguồn gốc Khai Nguyên Tự như lão
pháp sư Ðạo An đã nói, là do triều đình đề xướng, mở
hội truy điệu, thỉnh những vị cao tăng đại đức tụng
kinh cầu siêu độ.
Từ
đó về sau, trong dân gian, khi gia đình có người qua đời,
thì cũng thỉnh mời tăng ni đến tụng kinh cầu siêu. Như
vậy là đối với Phật pháp, đây chính là việc phụ thêm,
chẳng phải là công việc chủ yếu của Phật môn, chẳng
phải !
Nhưng
hiện nay thì nó lại đã trở thành chủ yếu mất rồi ! Hiện
nay tại rất nhiều đạo tràng, người ta lấy việc này làm
công tác chủ yếu. Cho dù có giảng kinh thì thời gian làm
Phật sự chính yếu này cũng rất ngắn, rất ít. Có những
chùa một năm giảng kinh bốn lần, trong bốn mùa Xuân Hạ
Thu Ðông, mỗi mùa giảng một tuần, một năm giảng bốn tuần,
chia cho bốn mùa. Cho nên Phật sự chính thức là giảng kinh
thuyết pháp để chuyển mê khai ngộ cho dân chúng thì lại
đã biến thành việc phụ, còn việc bái sám, cầu siêu đã
biến thành “Phật sự” chủ yếu mất rồi.
Ðiều
này chúng ta phải có nhận thức rõ ràng, vào thời trước,
Phật sự là giảng kinh thuyết pháp”
Thưa
quý thính giả,
Ðối
với việc cúng bái cầu siêu, chúng tôi xin nhắc lại ý kiến
mà chúng tôi đã đề ra trong một kỳ trước, rằng người
Đông Phương chúng ta, từ thời xa xưa, vốn đã có truyền
thống cúng bái người đã qua đời, nhất là cúng bái tổ
tiên, ông bà, cha mẹ, coi như một hình thức báo hiếu, trước
là nói lên lòng thành kính tưởng nhớ chư vị đã khuất,
sau là nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm
ơn các bậc sinh thành, cũng như mỗi quốc gia đều có những
ngày kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong, để nói lên lòng nhớ
ơn các anh hùng liệt sĩ có công với đất nước vậy. Chúng
ta có từ ngữ “Ðạo Ông Bà”, nghĩa là theo truyền thống
từ thời xa xưa, khi ông bà, cha mẹ, thân nhân qua đời, gia
đình đem hình ảnh và bát hương bày lên bàn thờ, quanh năm
hương khói, đến ngày giỗ thì làm cơm cúng, đó là tập
tục của hầu hết những dân tộc Ðông Phương, nhất là
tại những quốc gia ảnh hưởng đạo Khổng.
Như
vậy, theo phong tục cổ truyền, việc cúng giỗ cũng là điều
tốt, coi như là ngày kỷ niệm, tưởng nhớ người đã khuất.
Chúng ta có thể tổ chức cúng giỗ tại nhà, hoặc tại chùa.
Nếu đủ phương tiện để có thể làm lễ trên chùa thì
rất tốt. Trước nhất, đây là một duyên lành giữa thân
nhân người chết đối với nhà Phật, có dịp cho họ tiếp
cận với các vị Sư, nhân đó, có thể hiểu thêm về Phật
pháp. Thứ nữa là thân nhân người chết có thể tạo chút
phước qua việc cúng dường Tam Bảo, để nhà chùa có thêm
khả năng ấn tống kinh sách, phổ biến Phật pháp rộng rãi,
thêm phương tiện để hoàn thành các Phật sự. Các vị Sư
là những Trưởng Tử Như Lai, là những Ðạo Sư, có nhiệm
vụ hoằng dương Chánh Pháp song song với việc tu tập bản
thân. Phật tử cũng vậy, cũng cần tu tập bản thân và giúp
phương tiện cho các Ðạo Sư trong công cuộc hoằng truyền
và bảo vệ sự trong sáng của đạo Phật.
Về
trách nhiệm của Ðạo Sư, có một câu chuyện ẩn dụ vui
vui, để nhắc nhở tầm quan trọng của sự dậy đạo, như
sau:
Có
ông lang băm kia trong thời gian còn sống tại thế, do tài coi
mạch bói không ra bệnh, ổng giết nhiều người quá. Khi chết
xuống âm phủ, chiếu theo tội trạng, Diêm Vương ra bản án
cho ông được định cư ở Ðịa Ngục tầng thứ 18. Vừa
nghe Diêm Vương nói xong là ông ta đã thấy mình đứng ngay
nơi Ðịa Ngục tầng thứ 18 rồi, đó là thần thông của
Diêm Vương, khỏi tốn tiền mua xe chở tù, giảm việc sổ
sách.
Thấy
mình chưa kịp cãi cọ, luật sư chưa kịp thu tiền, mà đã
lọt vào tận đây, ông lang băm giậm chân đùng đùng để
phản đối. Bỗng nhiên, ông ta nghe văng vẳng từ phía dưới
vọng lên:
--
Ðứa nào ở trên đó mà ầm ĩ quá vậy, cho ta ngủ một chút
chớ !
Ông
lang băm ngạc nhiên hỏi vọng xuống:
--
Ủa, sao còn có ai dưới đó ? Ta đã ở Ðịa Ngục tầng thứ
18 rồi mà, bộ còn có tầng thứ 19 nữa hay sao?û
Thì
có tiếng phía dưới vọng lên:
--
Ðúng chóc rồi đó, cha nội ! Ta đang ở tầng thứ 19 đây
nè.
Ông
lang băm ngạc nhiên thấy có kẻ dám qua mặt mình, bèn lại
hỏi vọng xuống:
--
Nhà ngươi lúc sống làm nghề gì mà nay phải vào tầng thứ
19 ?
Có
tiếng nghẹn ngào tức tủi vọng lên:
--
Hu ...hu, khi xưa ta làm đạo sư, dạy sai Chánh Pháp. Diêm
Vương bảo tội ta nặng hơn tội lang băm giết người, vì
lang băm chỉ giết một số người, rồi chết là hết gây
họa. Còn ta thì vì dạy bậy, số học trò học bậy của
ta lại tiếp tục dạy bậy, học trò chúng nó lại tiếp tục
dạy bậy, liên miên chẳng biết bao giờ mới chấm dứt, cho
nên chẳng biết bao giờ ta mới hết tội, mới được tháo
cũi xổ lồng, ra khỏi đáy địa ngục thứ 19, ...hu hu hu ...
Ban
Biên Tập
(Bài
này đã được phát thanh ngày 31 tháng 12 tại Nam California
và 01 tháng 1, 2006 tại Houston Texas)
CẦU
SIÊU
From:
GiacMoTinhYeu <huong_2001@y...>
Date:
Thu, 7 Aug 2003 14:52:32 -0700 (PDT)
To:
<banbientap@thuvienhoasen.org>
Subject:
Re: Con phải làm như thế nào để linh hồn của ba con được
siêu thoát?
Kính
thưa quý thầy và quý cô,
Con
tên là Hương. Con vẫn chưa có pháp danh. Hôm nay
con có một thắc mắc con không biết hỏi ai, nên con mạo muội
viết e-mail xin quý thầy và quý cô giúp giùm con.
Thắc
mắc của con là:
Ba
con mất tháng 10 này sẽ một năm, vì ở bên đây, không có
hay thường cúng hay làm gì cả. Lúc đầu thì mẹ của
con đem tro của ba con vào chùa ký gởi nhờ thầy tụng kinh.
Sau đó như ý nguyện của ba con, mẹ con đem tro về chôn ba
con ở gần ông bà nội con. Thế là ở nhà con chỉ có
tấm hình của ba con, chỉ vậy thôi. Con thấy ở Việt
Nam, gia đình có người thân thì hay tụng kinh cho người đã
khuất. Con sắp về Việt Nam. Con xin hỏi quý thầy
và quý cô rằng con có nên nhờ thầy tụng kinh cho ba con không?
Con nghe nói, nếu mà mình nhờ thầy nào đắc đạo cao hơn,
thì linh hồn người chết sẽ có hy vọng được siêu thoát.
Con không biết điều đó có đúng không thưa quý thầy và
quý cô? Và con phải làm như thế nào để linh hồn của
ba con được siêu thoát? Xin quý thầy và quý cô giúp
cho con. Con thành tâm cảm ơn quý thầy và quý cô
Con có vào mục Thào Luận Phật Pháp, con định đặt câu hỏi
thì con không biết phải làm sao, đây là địa chỉ duy nhất
mà con tìm thấy, nên con đánh máy gởi mong rằng con sẹ nhận
được trả lời sớm nhất.
Con,
Hương
From:
Tinh Thuy <tinhthuy2@y...>
Date:
Wed Aug 13, 2003 10:03 pm
Subject:
Re: Con phải làm như thế nào để linh hồn của ba con được
siêu thoát?
Chào
cháu Hương,
Các
chùa Việt Nam và Trung Hoa theo truyền thống Phật Giáo Đại
Thừa thường hay tổ chức các nghi lễ cầu siêu cho thân nhân
quá vãng của người Phật tử sớm được siêu sinh Tịnh
Độ. Cầu siêu có nghĩa là cầu nguyện cho thần thức
người quá vãng được siêu thoát khỏi cảnh khổ để tới
một cảnh giới an lành, cao hơn, thường là cõi Tịnh Độ.
Lễ cầu siêu được tổ chức vào lúc người thân đang hấp
hối, trong suốt thời gian lễ tang và kéo dài tới 49 ngày,
có khi đến 100 ngày sau đó và vào những ngày cúng giỗ. Hàng
năm các chùa cũng tổ chức thiết lễ cầu siêu liên danh tập
thể vào dịp lễ Vu Lan.
Nghi
lễ cầu siêu thường bao gồm việc tụng kinh, lễ sám, cúng
dường, phóng sinh, làm những việc phước thiện như bố thí
và hồi hướng những công đức ấy đến người quá vãng.
Có người thắc mắc không biết cầu siêu như thế có thực
sự đem lại lợi ích cho người mất không? có giúp thần
thức người quá vãng siêu thoát về cảnh giới an lạc không?
Quả
thật khó mà khẳng định. Nếu nói có thì làm sao có
thể chứng minh được với người sống? Vì lẽ chưa
có người chết nào trở về cho chúng ta hay họ đã đi tái
sanh vào cõi nào. Nếu nói không thì hoá ra chấp không,
phủ nhận những lời dạy của Thánh hiền? Có một điều
chắc chắn là chúng ta không biết cha mẹ chúng ta tái sanh
vào cảnh giới nào. Do vì không biết rõ nên chúng ta
cần phải làm với hết sức thành tâm của mình như thiết
lễ cầu siêu, cúng dường, tu phước, bố thí, tránh sát sinh
và phóng sinh. Những việc làm này, xét trên phương diện
thực tế thì chúng ta đã làm những việc tốt, đã gieo những
nhân lành và chắc chắn, theo luật nhân quả thì chúng ta sẽ
gặt hái cho chính chúng ta những quả tốt lành trong tương
lai. Đối với người đã khuất, là bậc làm con, chúng
ta đã thể hiện bằng tất cả tấm lòng tha thiết cầu mong
cha mẹ sớm siêu thoát đến cảnh giới an lành. Điều
này không biết có được như ý nguyện không, nhưng hành động
với tâm thành đã thể hiện thì thế nào cũng có cảm ứng.
Việc cảm ứng nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào nhân duyên
nghiệp quả của cha mẹ với con cái nữa.
Như
thế, sức mạnh chủ yếu của việc cầu siêu vẫn là những
việc làm khi chúng ta đang còn sống. Vì vậy đối với
người Phật tử, nếu muốn cứu độ người quá vãng thì
nên tránh làm các điều ác và làm các việc lành, ấn tống
kinh sách để Phật Giáo được lưu hành, làm các công tác
từ thiện xã hội như bố thí cho những người nghèo khổ,
thăm viếng những cụ gìa sống cô đơn trong các trại dưỡng
lão, chăm sóc các trẻ em mồ côi tật nguyền và điều quan
trọng khác là tự thanh lọc tâm ý mình. Trong các lễ
cầu siêu nếu mời được chư Tăng Ni thì tốt, nếu không
thuận duyên hay vì một lý do nào đó không thể mời được
cũng không sao. Hoà Thượng Thánh Nghiêm cho biết là “không
nhất thiết phải mời Tăng Ni đến tụng kinh. Tăng Ni
khi được cúng dường thì chỉ chú nguyện cho thí chủ mà
thôi. Vì Tăng Ni tụng kinh là công việc làm hàng ngày
của Tăng Ni trong các khoá lễ, tụng kinh là một phương pháp
tu hành, mục đích của việc tụng kinh không phải là để
siêu độ người chết. Thí chủ cúng dường chư Tăng
Ni là để cho chư Tăng Ni có thể tu hành và đạt được mục
đích của tu hành...” [Hoà Thượng Thánh Nghiêm, Phật Giáo
Chính Tín, Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học, Hà Nội xuất
bản 1991].
Việc
cháu hỏi, “nếu mà mình nhờ thầy nào đắc đạo cao hơn,
thì linh hồn người chết sẽ có hy vọng được siêu thoát
chăng?” Điều này đã được trả lời qua tích truyện
Mục Kiền liên. Ngài Mục Kiền Liên đã đắc quả A
La Hán, có thần thông bậc nhất trong các Đại Đệ Tử của
Phật, với sức một mình ngài cũng không cứu nổi thần thức
mẹ đang chịu khổ vì phải trả nghiệp mà phải nhờ nhiều
vị Thánh Tăng đồng tâm chú nguyện mới được.
Cháu
Hương,
Cháu
đang có dự tính về Việt Nam, nếu cháu khởi niệm muốn
thiết lễ cầu siêu cho ba cháu với ước mong ba cháu được
siêu thoát thì cháu cứ việc thực hiện với tất cà tấm
lòng chân thành và thiết tha. Cháu có thể đến một
ngôi chùa nào đó tác bạch với thầy trụ trì để xin cúng
dường trai tăng làm lễ cầu siêu cho ba cháu. Song song
với việc đó cháu cũng cố gắng thực hiện các công tác
từ thiện xã hội như giúp đỡ các trẻ em mồ côi, tật
nguyền đang lang thang trên các vỉa hè hay đang tập trung tại
các trung tâm xã hội, các lớp học tình thương hay các mái
nhà nhân ái. Ờ quê nhà có rất nhiều cảnh đời khốn
khổ đang cần những bàn tay thoa dịu của cháu. Cháu
có thể vào xem những mảnh đời bất hạnh này cùng những
tấm lòng từ ái trong Thư Viện Hoa Sen tại địa chỉ sau:
http://www.vnet.org/hoasen/index-tuthienxahoi.htm
Cháu
Hương ơi, sự vô thường mong manh của đời người mà tri
ân và báo ân cha mẹ cùng chúng sinh cũng là những lý do để
chúng ta phát khởi tâm từ bi hầu chúng ta có thể làm tất
cả các việc lành cho chúng sinh. Hãy “quyết tâm thành
tựu sự hạnh phúc cao lớn nhất cho tất cả chúng sinh.
Điều này còn hơn cả viên ngọc như ý. Tôi sẽ thường
trực liên tục thương quí mọi chúng sinh.” Đó là đoạn
thi kệ đầu tiên trong tám đoạn thi kệ bất hủ của một
vị Thánh Tăng Tây Tạng mà chúng ta nên nhắc nhở cùng nhau.
Hy
vọng những lời góp ý trên có thể giúp cháu hiểu thêm và
tìm cho mình một hướng đi, vừa giúp ích cho mình vừa giúp
ích cho người quá vãng và vừa giúp ích cho tất cả hữu
tình chúng sinh.
Chúc
cháu nhiều nghị lực và an lạc
Tịnh
Thủy
From:
phuoc v nguyen <hi_lwa@j...>
Date:
Sat Aug 9, 2003 8:11 pm
Subject:
Re: [vn-buđhism] Con phải làm như thế nào để linh hồn của
ba con được siêu thoát?
HL:
Không
còn cách nào khác hết là chính mình tu hành và hồi hướng
công đức cho người nhà của mình.
Cách
thứ hai là: Cách này chỉ làm khi tâm của mình nó có cái
cảm giác là sót xa cho người thân đó khi mình nghĩ về cái
chết của họ\. Nếu không có cái cảm giác đó thì ... thôi
vậy\.
1.
dùng con mắt thịt của mình rồi nhìn vào tấm hình của người
thân.
2.
sau một thời gian (tuỳ vào từng người có người chỉ cần
vài giờ, có người lại vài tháng) khi nhắm mắt mà tưởng
tượng ra cái mặt của người đó thì mình đã có thể thấy
như thật thì ngay lúc đó nên bỏ hết mọi chuyện mà đọc
câu niệm Phật thường ngày\. Khi đọc thì cứ nhìn vào cái
linh ảnh đó\.
3.
Nếu linh ảnh vì một nguyên nhân nào đó mà mất đi thì cứ
y vào chổ đó mà nhìn và cứ niệm.
Mến:-).
Hai
Lúa :-).
From:
phamdluan2000" <phamdluan@ạ..>
Date:
Mon Aug 11, 2003 12:07 am
Subject:
Re: Con phải làm như thế nào để linh hồn của ba con được
siêu thoát?
KKT:
Hồi hướng công đức cho người đã chết có được
chăng ???
Muốn
biết có được hay không hãy thử hồi hướng cho một
người còn đang sống sờ sờ ra đây :-
Chẳng
hạn một người thân của mình: cha mẹ vợ chồng con cáị
Lý
luận của KKT là như vầy:
__Như
mọi người đều hiểu rõ, PG nói rằng không có một <<
permanent entity >> như linh hồn (soul) hay ngã (self), OK?
Mỗi
người chúng ta chỉ là một << series >> ngũ uẩn sắc,
thọ, tưởng, hành, thức, biến đổi không ngừng rất nhanh,
OK?
__Vậy
nếu một cá nhân chết đi thì cũng chỉ có nghĩa là
sự chấm dứt của một << series >> ngũ uẩn này để
có một << series >> mới, OK?
Ngay
cái thân << trung ấm >> tức là cái thân trung gian chờ
đi đầu thai, tuy không có << sắc >> thân nhưng cũng có
thọ tưởng hành thức, OK?
__Vậy
nếu sự hồi hướng công đức cho cái thần thức của người
mới chết (tức là thân trung ấm) mà có << ép phê >>
thì đương nhiên sự hồi hướng cho một người còn đang
sống đây cũng phải có << ép phê >> chứ ??? :
Vì
lẽ nếu << work >> cho một << series >> này thì cũng
phải << work >> cho một << series >> khác, OK?
Chẳng
hạn bạn có một người bạn đang bị bệnh nặng, hãy thử
hồi hướng công đức của mình cho người đó xem họ
có thuyên giảm không?
Ngoài
ra còn có vấn đề << waterproof >> nữa
Tiểu
Thừa nói rằng mỗi << series >> hoàn toàn là ai làm nấy
chịu, không ai gánh dùm cho ai được cũng như không giúp
đỡ gì được
Đại
Thừa thì nói rằng có thể hồi hướng công đức. Tức là
có thể làm chuyện << interference >> giữa các
<< series >> hay sao
KKT
From:
phuoc v nguyen <hi_lwa@j...>
Date:
Mon Aug 11, 2003 1:35 am
Subject:
Re: [vn-buđhism] Re: Con phải làm như thế nào để linh hồn
của ba con được siêu thoát?
HL:
Thực tế, Hồi hướng là một động tác của Tâm Lực. Tâm
không có lực thì không làm gì được cho cả hai trường hợp
hữu duyên và không có duyên. Ngược lại, một khi mà
Tâm đã có lực thì chỉ có thể thành công trong trường hợp
hữu duyên mà thôi\. Còn trường hợp không có duyên nghiệp
với nhau thì ... chiụ:-).
Trong
trường hợp hữu duyên thì mình biết ngay là vi` câu chuyện
nó làm cho mình khó chiụ
Còn
trong trường hợp vô duyên thì tâm mình nó dững dưng như
chuyện con muổi nó bị xịt thuốc nó chết vậy\. Có nghiã
là mình vẫn sống tỉnh queo, không có áy náy một tý xiú
nào cã\.
Mến
Hai
Lúa
Xem
Thêm Bài Giảng của Hoà Thượng THanh Từ:
Bản
Ngã Là Nguồn Gốc Khổ Đau và Bất Công
Bơ
Và Những Viên Ðá Cuội