|
|
c
Hỏi:
Tôi là một Phật tử tại gia đã thọ tam quy và ngũ giới.
Nay muốn tu cao hơn nữa trong phạm vi của người tại gia như
muốn làm Bồ Tát chẳng hạn. Vậy xin cho tôi biết chi tiết
về hai chữ Bồ Tát, điều kiện, và cách thực hành để
thành Bồ Tát. Xin đa tạ.
Ðáp:
Tu hạnh Bồ Tát là đẳng cao cấp nhất của người Phật
tử tại gia. Sở dĩ được coi là cao nhất vì Bồ Tát đạo
có nghĩa là đường giác ngộ, là con đường đưa hành giả
tới được vị trí "Trên cầu thành Phật, dưới cứu độ
chúng sinh." Do hạnh nguyện cao thượng đó mà sự hành trì
và giới luật cũng được thực hiện rất nghiêm túc. Xin
đạo hữu hãy tuần tự đọc từng điểm dưới đây:
1.
Bồ Tát, tiếng Sancrit là Bodhisattva. Bodhi nghĩa là giác
ngộ, là chánh giác, sattva là chúng sinh; do đó Bồ Tát có
nghĩa là người đã giác ngộ giải thoát, song còn làm chúng
sinh để đi mọi nơi cứu độ chúng sinh. Từ xưa đến ngày
nay và hiện thời có vô số Bồ Tát trong các cõi. Theo Tự
điển Phật Học Việt Nam, Hòa thượng Minh Châu cho biết "Bồ
tát là nhân vật tiêu biểu của Phật Giáo Ðại Thừa. Phật
tử tu hạnh Bồ tát, trên thì cầu đạo giác ngộ vô thượng
tức là quả Phật, dưới thì phát nguyện độ thoát cho tất
cả chúng sinh cùng thành Phật đạo như mình. Ðặc trưng của
vị Bồ tát là tình thương yêu chúng sinh rộng lớn, nghĩa
là thực hành hạnh vị tha, đặt căn bản trên phương pháp
tu các hạnh Ba La Mật. Trong Phật giáo Nam Tông cũng có từ
Bồ Tát, nhưng chỉ được dùng để chỉ Phật Thích Ca, khi
người chưa thành Phật. Người tu hạnh Bồ Tát giữ 58 giới
(10 giới trọng và 48 giới Kinh). Các tăng sĩ đã thọ giới
Tỳ Kheo lại phát nguyện tu hạnh Bồ tát, giữ thêm 58 giới
thì gọi là Bồ tát Tỳ Kheo. Những người tại gia cũng có
thể phát nguyện tu hạnh Bồ Tát, giữ 58 giới và được
gọi là Bồ Tát tại gia."
2.
Bồ Tát giới, theo Phật Học Tự Ðiển, Ðoàn Trung Còn
cho biết, là "giới luật chung của hàng tứ chúng Phật
tử, muốn tu trì đại hạnh để thành bậc Bồ Tát và thành
Phật, gồm 10 giới Trọng và 48 giới Khinh.
Riêng
hàng Phật tử tại gia, ngoài tam quy ngũ giới, lại còn thọ
6 giới Trọng và 28 giới Khinh. Trọng là nặng, nếu phạm
tội, thì có lỗi nặng. Khinh là nhẹ, nếu phạm, thì mắc
lỗi nhẹ.
Sáu
giới Trọng là: (1) Không sát sinh, (2) Không trộm cắp,
(3) Không vọng ngữ, (4) Không tà dâm, (5) Không nói lỗi của
tứ chúng, và (6) Không bán rượu.
Hai
mươi tám giới Khinh là: (1) Phải phụng dưỡng cha mẹ
và cúng dường sư trưởng, (2) Không uống rượu, (3) Phải
chăm sóc bệnh nhân, đừng sợ nhớp, (4) Tùy nghi bố thí,
(5) Phải kính chào bậc tôn túc thiện tri thức, (6) Chẳng
nên kiêu mạn khi thấy tứ chúng phá giới, (7) Mỗi tháng phải
thọ trì giới bát quan trai sáu lần và cúng dường Tam Bảo,
(8) Cách 40 dặm có chỗ thuyết pháp, phải đến nghe, (9) Không
nên thọ lãnh vật dụng của nhà chùa, (10) Phải lọc nước
trước khi uống, (11) Không đi một mình trong chỗ hiểm nạn,
(12) Không được ngủ trong chùa sư nữ một mình, (13) Chớ
đánh mắng đầy tớ hoặc người ngoài vì của cải hay vì
thân mạng, (14) Không lấy đồ ăn thừa mà bố thí cho tứ
chúng, (15) Không được nuôi mèo, nuôi chồn, (16) Không nuôi
súc vật như voi, ngưa, trâu, dê, lạc đà và tất cả các
loài gia súc, (17) Nên dự trữ y, bát, tích trượng để cúng
dường cho các bậc xuất gia, (18) Lựa chỗ nước tốt, ruộng
tốt mà làm ruộng, (19) Có buôn bán thì nói chắc giá và không
được cân đo thiếu, (20) Cấm dâm dục những ngày chay và
tại chùa, (21) Không buôn bán đồ lậu thuế, đồ ăn trộm,
không được trốn thuế, (22) Không được phạm luật nước,
(23) Không ăn trước khi cúng Tam Bảo, (24) Muốn thuyết pháp,
phải có chư Tăng tán thán cho, (25) Không được đi trước
Tỳ kheo và Sa di, (26) Cúng dường Tăng không phân biệt, (27)
Không được nuôi tằm, và (28) Ði đường gặp người bệnh
thì phải chăm nom, gửi gấm."
3.
Trong Kinh Ưu Bà Tắc Giới có nói rằng, người tu học
cầu quả Bồ Ðề nên làm các việc sau: (1) Tin mình và tất
cả chúng sinh đều có Phật tánh và có thể thành Phật, (2)
Giữ tâm kiên cố và tu hành tinh tấn không ngừng nghỉ, (3)
Thương xót và cứu khổ vô lượng chúng sinh không chán nản
và không mệt mỏi, (4) Làm những việc khó làm và tự mình
chịu khổ, chịu những sự khinh chê khổ nhục cho tất cả
chúng sinh, nhận xấu nhường tốt cho mọi người, không chán
nản và hối hận, (5) Gần gũi bạn hiền, (6) Thường tán
thán công đức nhiệm mầu của Tam Bảo, (7) Thường ưa khen
tặng công đức của người khác, và (8) Nghiêm trì giới luật.
4.
Bồ Ðề, như trên đã nói, có nghĩa là chánh giác, là
bậc giác ngộ hoàn toàn, hiểu biết tất cả, là vô thượng
trí tuệ, là vô thượng Bồ đề.
Tâm Bồ Ðề là tâm
cầu Vô Thượng Bồ Ðề, cầu chánh giác. Còn phát Bồ
Ðề tâm, giai đoạn đầu tiên của người thọ Bồ Tát
giới, là lập chí nguyện mong cầu Vô Thượng Bồ Ðề, tức
là mong cầu thành Phật và hóa độ chúng sinh (thượng cầu
Phật đạo, hạ hóa chúng sinh). Cho nên, người thọ Bồ tát
giới có nghĩa là nguyện bước lên đường cầu giác ngộ,
có nghĩa là phát tâm Bồ Ðề. Theo ngài Thật Hiền, trong bài
văn Khuyến Phát Bồ đề Tâm thì cửa chính yếu để
nhập đạo là sự phát tâmđứng đầu, việc khẩn
cấp để tu hành thì sự lập nguyện
đứng trước.
Ngài khuyên chúng ta nên phát tâm nguyện hai điều như sau:
Thứ
Nhất: Danh lợi không ham, vui thú không màng, chỉ vì thoát
sinh tử, vì chứng Bồ đề. Ngước lên mà mong cầu Phật
đạo, nhìn xuống mà hóa độ chúng sinh, nghe Phật đạo lâu
xa cũng không thoái chí khiếp sợ, xét chúng sinh khó độ mà
không chán nản mệt mỏi.
Thứ
Hai: Chúng sinh giới hết, nguyện ta mới hết, bồ đề
đạo thành, nguyện ta mới thành. Biết tự tánh là chúng sinh
nên nguyện độ thoát, tự tánh là Phật đạo nên nguyện
thành tựu, không thấy một pháp nào ngoài tâm mà có, đem
cái tâm vô tướng, phát cái nguyện vô tướng, làm cái hạnh
vô tướng, chứng cái quả vô tướng, cái tướng vô tướng
cũng không thấy có, thấy được.
Việc
phát tâm nguyện chưa đủ, người thọ Bồ Tát giới còn phải
nỗ lực thực hành hạnh Bồ Tát, nghĩa là mỗi lời nói,
mỗi hành động và mỗi ý niệm đều phải hướng về chúng
sinh, vì lợi ích và an nguy của chúng sinh. Sự khác biệt giữa
phát tâm Bồ Ðề và hành hạnh Bồ Tát, có thể ví như một
người muốn đi và một người đang đi. Người thực hành
hạnh Bồ Tát là người thực hành sáu hạnh Ba La Mật: Bố
thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định , và trí
huệ.
Nói
tóm lại, bước đầu tiên và quan trọng nhất của người
thọ Bồ Tát giới là phải luôn nhớ rằng ta đã bước vào
con đường cao thượng, con đường trở thành Phật để cứu
độ chúng sinh. Cho nên mọi sinh hoạt hằng ngày phải hướng
vào cái điều tối cao đó, để mà giữ giới (không làm điều
ác), tích cực cứu giúp chúng sinh (chuyên làm điều lành)
và thanh lọc tâm ý, để từng bước tiến dần đến quả
Phật. Ðạo Phật quan niệm rằng sát sinh, tức là giết hại
chúng sinh hữu tình, là ác nhất. Cho nên giới cấm đầu tiên
của đạo Phật là "Cấm Sát Sanh", dù trực tiếp hay gián
tiếp. Là Bồ Tát, đã phát nguyện cứu tất cả chúng sinh
ra khỏi cảnh khổ, đem đến cho họ niềm an lạc hạnh phúc,
như một con vi khuẩn trong nước uống chúng ta cũng không nỡ
giết (giới Khinh thứ 10), lẽ nào chúng ta cắt, xẻ, xay, nướng,
luộc, và quay chúng sinh trong lửa nóng, nước sôi.
Ban
Biên Tập
(1)
HT. Thích Minh Châu, Từ Ðiển Phật Học Việt Nam, Nhà xuất
bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội-1991, trang 98
(2)
Ðoàn Trung Còn, Phật Học Tự Ðiển, Chùa Khánh Anh, Paris xuất
bản, tập 1, trang 291-293
x
|