| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
c
![]()
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
Sau đây là bản dịch Bài Thuyết Pháp của Bồ Ðề Ðạt Ma trong Histoire des Croyances Religieuses et des Opinions Philosophiques en Chine (Depuis l'origine jusquà nos jusquà nos jours) của Léon Wieger (1922). [Source: Thư Viện Hoa Sen http:www.thuvienhoasen.org/BoDeDatMa.htm] Ðây là bài thuyết pháp đầu tiên của Bồ Ðề Ðạt Ma tại Trung Hoa. Ngài thuyết giảng ngay tại triều đình của Lương V Ðế có sự hiện diện của nhà vua và toàn thể văn v bá quan là những thành phần trí thức ưu tú trong nước. Lương V Ðế tuy là một ông vua sùng đạo và các quan văn trong triều tuy là những bậc trí thức trong nước, những cũng không lãnh hội và chấp nhận nổi những ý chính trong bài thuyết pháp, một phần vì nhà vua và các quan còn chấp thủ, một phần vì lời thuyết pháp quá ư mạnh bạo, gần như sổ sàng tuy lý luận rất đanh thép, ngôn từ rỏ ràng và cô đọng. Bài thuyết pháp tuy rất ngắn gọn nhưng thật là đầy đủ ý nghĩa, bao gồm được tất cả tinh hoa của giáo pháp Phật và cốt l i của thiền. Có thể nói cuốn Ðạt Ma Huyết Mạch Luận chỉ triển khai những tư tưởng trong bài thuyết pháp nàỵ Thất bại trong lần thuyết pháp đầu tiên ở Trung Hoa, Bồ Ðề Ðạt Ma bỏ ra đi. Ngài không thuyết pháp nữa mà ngồi thiền trước một bức tường (bi'ch quán) trong suốt chín năm trờị Phần thứ nhất: Bản Chất Của Tâm Cả thế giới được nghĩ trong tâm. Tất cả chư Phật - quá khứ và vị lai - đã và sẽ được tạo thành trong tâm. Sự hiểu biết được truyền từ tâm sang tâm qua ngôn từ nên tất cả những kinh sách chẳng có ích lợi gì. Tâm của mỗi người đồng điệu và tương ứng với thực tại muôn đời, với thực tại muôn nơị. Tâm là Phật không có Phật ngoài tâm. Coi giác ngộ và niết bàn là những sự vật ở ngoài tâm là một điều sai lầm. Không có giác ngộ ở ngoài tâm linh động. Không có chỗ nào gọi là nơi chốn của những người đến niết bàn. Ngoài thực tại của tâm, tất cả đều là huyễn tượng. Chẳng có nhân, chẳng có duyên. Chẳng có lý do, chẳng có kết quả. Chỉ có một thực tại duy nhất. Ðó là: Tư tưởng của tâm và sự an nghĩ của tâm chính là niết bàn. Ði tìm một sự vật ngoài tâm là đi tìm bắt hư không. Tâm là Phật và Phật chính là tâm. Tưởng tượng Phật ở ngoài tâm hay hình dung Phật ở ngoài tâm là mê sảng. Phần Thứ Hai: Phương thức Vậy phải nhìn vào trong chứ không nhìn ra ngoài. Phải tự lắng vào chính mình để thấy Phật tánh trong chính mình. Tất cả chúng sanh đều là Phật như mình nên mình chẳng cứu ai cả. Không có vi. Phật nào hơn mình nên không phải van xin, cầu nguyện ai cả. Không có Phật nào hiểu mình hơn chính mình nên không phải học hỏi trong những kinh sách của các vị ấy. Không có luật pháp nào kiềm hãm được Phật. Một vị Phật không thể sa ngã nên ta không sợ phạm tộị. Không có thiện, không có ác. Chỉ có những động tác của tâm. Mà tâm là Phật nên tự tánh không th lầm lỗi được. Cúng kiến, hoằng pháp, nhiệt thành giữ giới, bố thí cầu kinh và tất cả những thứ khác đều không có ích lợi gì cả. Chỉ cần một điều duy nhất là nhìn thấy Phật nơi mình. Sự nhìn thấy Phật ở nơi mình đưa đến giải thoát, đến niết bàn. Phần Thứ Ba: Phật Tánh Không có bất cứ một cuốn kinh nào, không có bất cứ sự tu khổ hạnh nào có thể đưa ta ra khỏi luân hồi. Học kinh và tu khổ hạnh hoàn toàn vô ích, phù phiếm. Không có quyển sách nào đáng cho ta mở ra đọc. Trong sự an tĩnh, vô vi hoàn toàn hãy kiến tánh ở nơi mình, nơi chính tâm mình. Ðó mới đúng là Phật. Chỉ học nhìn thấy Phật tánh thôi vì đó là điều duy nhất đáng học. Tất cả những hình tượng khác đều là sương mù, ảo ảnh. Hãy nhìn Phật nơi mình. Ðó mới là cái nhìn trung thực duy nhất. Phật tánh ở trong mỗi người và trong tất cả mọi người, Phật tánh đều giống nhau. Khi quên tất cả mọi sự và chỉ giữ lại thực tại duy nhất đó là thoát khỏi vòng luân hồi và tới niết bàn. Tất cả những kẻ thuyết lý đều là trợ thủ của Mara và đưa con người đến chỗ huyễn tưởng. Mọi hệ thống triết học đều hoàn toàn sai lầm và có tính cách lường gạt. Nói đến sự tẩy uế, thiện nghiệp, chuyên tâm và tiến bộ là phỉnh lừa thiên hạ. Mỗi người là vi. Phật của chính mình và của tất cả. Ðiều ta phải làm cho tới cùng là nhận thức rằng thực tại và chân lý duy nhất ấy tiềm tàng trong mỗi người chúng tạ. Không có tội hay đúng hơn chỉ có một tội duy nhất. Ðó là tội vô minh, tội không nhận được ra Phật tánh ở chính nơi mình. Tội này rất nặng vì nó giam ta trong c i vô thường. Thân xác là phù du. Cuộc đi trôi nhanh như một giấc mộng. Trong thời gian ngắn ngủi của cuộc đời ta phải tự giải thoát bằng cách tự khám phá chính hình bóng của mình. Trong giấc mộng đời, ta có th thấy được thực chất của mình. Trong giấc mộng đời, chính Pháp thân tự hé mở trong bản thể. Ðó là thực thể. Phần Thứ Tư : Pháp Thân. Pháp thân này vĩnh cửu. Trải qua vòng luân hồi, thăng trầm qua vô lượng kiếp, pháp thân vẫn không sinh, không diệt, không thêm, không bớt, không nhơ nhớp, không bị tẩy sạch, không yêu, không ghét, không đến, không đi, không đàn ông, không đàn bà, không già, không trẻ, không tu, không tục, không có, không không. Pháp thân không một mà cũng không nhiều, không thánh mà cũng không phàm. Pháp thân đi vào tất cả không bị trở ngại và không gì ngăn cản được. Pháp thân ung dung trong những kiếp liên tiếp, trong giòng sinh tử. Chúng sanh và vận mạng của chúng sanh đều qui về pháp thân. Ta thấy pháp thân này ngay trong ta. Ta phải di động và hành động trong ánh sáng của tâm. Pháp thân bao trùm tất cả chúng sanh như sông Hằng giữ nước của nó hằng ha sa số những phân tử phù sa. Ta không thể diễn tả pháp thân được, mà cũng không thể giải thích pháp thân bằng ngôn từ. Mỗi người hãy tự chiêm ngưỡng, lãnh hội pháp thân cho chính mình. Lãnh hội được pháp thân là giải thoát, là giác ngộ. Lãnh hội được pháp thân là ra khỏi sự giao động của thế lực mà đức Thích Ca Mâu Ni gọi là cuồng loạn vĩ đại. Giác ngộ đưa ta vào trong tỉnh lặng hoàn toàn. Người ta phải khám phá chính bản thân mình, khám phá Phật tánh ở mức độ ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ và tư tưởng. Pháp thân vô hình, bất biến và không thể bị huỷ diệt. Chẳng có Phật nào khác ngoài pháp thân vì pháp thân ở trong chư Phật. Pháp thân cũng ở trong tất cả mọi ngườị Phần Thứ Năm: Tỉnh Tâm. Xin nhắc lại rằng vì tánh chất của pháp thân, ta chẳng cần kinh kệ, chẳng cần cúng tế, thờ phụng mà cũng chẳng tìm cái gì ở ngoài bởi lẽ trong mình ta có tất cả. Tất cả những sự vật bên ngoài đều là hư ảo giả tạm. Chẳng có gì thật ngoài pháp thân. Nguyện cầu những gì sùng bái chính là mình, sùng bái những gì chính là mình là một việc phi lý và vô ích. Ðiều cốt yếu là làm sao có yên lặng và tĩnh tâm; vì yên lặng, tĩnh tâm giúp ta thấy pháp thân chính nơi ta tức là thấy Phật. Tất cả những biểu tượng giả tưởng, tất cả những biểu tượng vật chất đều sai lầm. Chính sự sai lầm ấy giữ ta lại hoặc đưa ta vào trong vòng luân hồi tái sinh. Không nên sùng bái những hình tượng thoát thai từ nơi mình bởi vì những hình tượng ấy không thuộc pháp thân. Chỉ nên sùng bái những ý tưởng phát ra từ Phật tánh. Phải bỏ tất cả những giả tưởng về thần thánh linh thiêng vì đó chính là những ảo tưởng phù phiếm. Không nên thờ kính những vật giả tưởng đó mà cũng chẳng phải sợ hãi những thứ đó. Cũng nên quẳng bỏ tất cả những ảo ảnh về chư Phật. Ảo ảnh chỉ là những ảo tưởng phù phiếm. Phần Thứ Sáu : Thiền Luận Không có gì quí
hơn những ý tưởng vô hình của tâm phát ra từ Phật tánh.
Chỉ có một điều ta thấy thật sự là: Pháp thân ở nơi
tại Phật là một tiếng Ấn Ðộ, không phải tên người
và có nghĩa là giác ngộ, linh giác mà mọi người có thể
đạt tới được. Sự giác ngộ này chính là thiền. Những
kẻ đối nghịch với chúng ta không thể hiểu được giá
trị mà chúng ta đem vào danh từ thiền. Thiền không có nghĩa
là tham thiền, suy tưởng. Ta chỉ đạt đến thiền khi ta thấy
được Phật tánh ở chính mình. Một ngưi đọc vô số kinh
luận mà không kiến tánh thì chỉ là kẻ phàm tục tầm thường.
Ðạo lý ta khó hiểu đối với mọi người vì ngôn từ không
đủ khả năng diễn tả được đạo. Chỉ có kẻ nào đạt
được mới hiểụ. Ta có thể nói với những môn đồ ta
như vầy: Các
Phần thứ bảy: Vô Minh Ðối với những người đã khám phá được bóng hình của mình và không còn bị bất cứ một hệ lụy nào ràng buộc, thì bất cứ một hành động nào của thể xác vật chất cũng không có thể ảnh hưởng đến pháp thân.Một kẻ phàm tục làm nghề đồ tể cũng có thể là một vi. Phật. Kẻ nào đã lãnh hội được Phật tánh thì không tạo nghiệp nữa dù làm bất cứ một hành động nào bởi vì kẻ ấy đã giác ngộ. Nghiệp chỉ đeo đuổi những người chưa giác ngộ vì những người đó còn trong vòng u tối vô minh. Chính sự ngu muội này đã tạo ra giòng đầu thai, luân hồi ở địa ngục, làm thú và làm ngườị Tất cả nợ tinh thần chấm dứt ngay khi giác ngộ phá hủy vô minh. Bậc giác ngộ không làm nên tội lỗi và cũng không phạm tội nữạ Phần thứ tám: Giác Ngộ Ta phải giảm
dần những ấn tượng, bớt dần tham vọng, bớt dần tập
trung và an trí. Ðó là chuẩn bị. Kinh kệ, tu khổ hạnh, công
trình nghiên cứu học hành đều chẳng có lợi ích gì cả.
Kiến tánh không thể học được. Tại sao có những người
đã chuẩn bị cẩn thận và có thành tâm đứng đắn mà vẫn
không kiến được tánh?
Phần thứ chín: Phật là gì? Ta đến Trung Hoa đ truyền bá tâm ấn, đạo lý mới lạ ở đây chưa ai biết. Phật ở trong tâm mỗi người. Giữ giới luật, tu khổ hạnh, cầu kinh, nghiên cứu nghĩa lý, tất cả những thứ này chẳng dùng được việc gì cả. Mục đích duy nhất mà mọi người phải đạt được là giác ngộ. Khi nào đạt được giác ngộ là thành Phật, một vị Phật như tất cả chư Phật dù cho kẻ ấy không đọc được một chữ nào cả. Thành Phật nghĩa là thấy Phật tánh nơi mình, nơi tâmmình, nơi tâm của tâm mình. Phật tánh vô hình, không thể rờ mó được, bản thể của nó mong manh như hư không. Tâm ấy mọi người đều mang trong mình. Tâm hỡi, tâm
ơi!
From: "Hoa Nguyen"
<thanhhuy@email.msn.com>
Chào quý đạo hữu, Tông Diễn (1640- 1711) là thiền sư Việt Nam đời Hậu Lê có làm một bài kệ, với hai câu kết : Ðạt Ma Tây lai truyền hà pháp
Trước đó đời Lý, thiền sư Viên Chiếu (999 - 1090) khi bị hỏi :" Tổ sư Bồ Ðề Ðạt Ma từ phương Tây đến là có ý gì ?" (câu hỏi thứ 26) thì ngài không trả lời, mà gạt đi :" Biện luận điều đó là xảo ngôn vô ích ". Nhưng thiền sư Trung Hoa là Sùng Huệ khi bị hỏi thì trả lời :" Vạn cổ trường không, nhất triêu phong nguyệt ", và được giải thích là Giáo tông thì mênh mông, có từ ngàn xưa, còn Thiền tông như trăng gió một ngày mà thôi .Thiền sư Huyền Tố khi bị hỏi, đã trả lời :" Hội tức bất hội, nghi tức bất nghi", nghĩa là hiểu tức không hiểu, nghi tức không nghị Như vậy chuyện ngài Ðạt Ma tới Trung Thổ ngay từ thời xưa cũng đã khiến nhiều người phải suy nghĩ, và có nhiều cách giải thích khác nhau về ý nghĩa, mục đích của cuộc hành trình đó. Nhưng cũng không có câu trả lời r ràng. Cho nên tôi nghĩ chúng ta không nên đi vào "công án" đó , mà chỉ thử tìm xem ngài Ðạt Ma đã làm gì, giảng gì cho người cùng thời, và những sự việc được ghi chép quanh câu chuyện về ngàị Trong một mesg trước, tôi có kể theo một truyền thuyết trước khi trở về Ấn Ðộ, ngài Ðạt Ma đã họp đệ tử lại và hỏi họ nghĩ thế nào Kiến Tánh hay Chân lý. Nhiều người trả lời câu hỏi, nhưng nhị tổ Huệ Khả chỉ cúi mình , im lặng, nhưng lại được Ðạt Ma khen :" Con đã lấy được tinh tủy của ta "Tha'i độ của Huệ Khả , và cả lời khen, thật là lạ lùng, nhưng đó có phải là thái độ độc đáo mà riêng Thiền tông mới có không. Xét kỹ thì không phải. Vì đây chỉ là lặp lại cách ngài Duy Ma trả lời câu hỏi của Bồ Tát Văn Thù về việc tu chứng pháp môn Bất Nhị. Có 31 vị bồ tát trả lời câu hỏi , như nói về Ngã với Vô Ngã , Thiện với bất thiện, Tội với Phước, Sinh tử với Niết Bàn.... Riêng cư sĩ Duy Ma Cật chỉ lặng thinh, không nói gì cả, và được ngài Văn Thù khen ngợi : đó mới là vào pháp môn Bất Nhị Không nói gì cả được giải thích không phải là không có gì để nói, hay không có khả năng nói. Nhưng đây là chuyện vượt qua mọi hình tướng rồi, nhập được vào Không tánh, đi vào bản thể, thì ở chỗ đó làm sao còn ngôn ngữ để mà diễn tả gì nữạ Sách lục và người trong Thiền tông thường hay nhắc câu : "Ngôn ngữ đạo đoạn, Tâm hành xứ diệt ". Nhưng câu này được thấy trước đó ở trong kinh Duy Ma, và vài kinh khác nữa, và tôi xin nhắc lại Kinh Duy Ma được người Trung quốc biết tới rất lâu (từ đời Ngô) , trước khi ngài Ðạt Ma qua đó . Câu trên có nghĩa là : không thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt được đạo, không thể dùng suy nghĩ mà đạt đến chân lý cứu cánh. Cái ý " bất khả tư nghì " này được thấy trong nhiều kinh Ðại Thừa, nhưng dường như Thiền Tông nhắc lại thường nhất. Tôi sẽ tiếp
tục câu chuyện nàỵ
|
c
|
|||||||||||||||||||||||