THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Ba Bài Pháp Ðầu Tiên Của Lục Tổ Huệ Năng

Như chúng ta đều biết, chỉ những lời giảng, những bài pháp từ chính kim khẩu của Thế-Tôn, trong suốt bốn mươi chín năm Ngài hoằng hóa, sau khi Phật Niết-Bàn được các Tổ cùng thời và sau thời Ma-ha CaÐiếp kết tập, ghi chép lại với lời mở đầu "Như thị ngã văn - Tôi nghe như vầy " mới được gọi là Kinh, còn ngoài ra đều là chẳng phải. Nhưng duy nhất, ngoại lệ và hy hữu, đó là Pháp Bảo-Ðàn Kinh, cuốn kinh được các đệ tử đương thời của Lục Tổ Huệ-Năng ghi lại hành-trạng và những bài giảng của Ngài về pháp-môn Ðốn-giáo, chỉ thẳng, nói thẳng, xiểngđương Tâm-Pháp của Sơ-Tổ Bồ-Ðề Ðạt-Ma, cũng là Chánh pháp từ Ðức Phật, cũng được gọi là kinh. 

Lục Tổ Huệ-Năng, sau khi thị tịch được Thiền đường Trung-Hoa xem như là cây cột cái và hầu hết các Thiền phái đều phát nguyên từ cữa nầy và Pháp Bảo-Ðàn Kinh, mặc nhiên là Ðại Hồng-chung , là kim chỉ nam của Thiền-tông Trung-Hoa, cũng như sau đó lan truyền sang tận các nước Nhật bản, Cao-Ly, Việt nam, phát triển và lớn mạnh đến tận ngày nay. 

Xem thế đủ biết Pháp Bảo-Ðàn Kinh có tầm quan-trọng và to lớn như thế nào đối với hàng Phật tử căn-cơ theo pháp-môn Ðốn-giáo. 

Với công-năng vi diệu của tâm pháp mà Lục Tổ đãphương tiện mượn lời, nói ngay, chỉ thẳng Phật tâm của chúng sanh trong suốt bộ kinh, Pháp Baỏ-Ðàn đem lại lợi lạc không thể nghĩ bàn cho những ai có căn duyên với pháp thượng thừa này. 

Trong một bài viết hạn hẹp, ở đây chúng tôi chỉ làm cái việc trích ngang, đề cập đến ba bài pháp đầu tiên của Ngài Huệ-Năng, trong tư cách là một Bồ-tát Cư-sĩ , sau khi được triệt ngộ ở cữa Huỳnh-Mai Ngũ Tổ, nhưng chưa thọ Cụ-túc giới. 

I. Bài Pháp Ðầu Tiên: 

Sau khi Ngài (Lục Tổ Huệ-Năng) được Ngũ-Tổ Hoằng-Nhẫn vây màn nơi Tổ đường trong đêm khuya giảng Kinh Kim-Cang, đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm ố Nên không chỗ trụ mà sanh tâm này" thì ngài hốt nhiên tỏ ngộ "Nhất thiết vạn pháp bất ly tự tánh - tất cả các pháp chẳng lìa tự tánh". 

Ngũ Tổ biết Ngài đã triệt ngộ, ngay giữa canh ba truyền phú Ðốn giáo và Y, Bát, dạy Ngài làm Tổ đời thứ sáu và nhủ rằng, khéo lưu-truyền, không để mất Chánh pháp của Tổ, Phật. Sau đó Ngài Huệ-Năng một mình đi nhanh về hướng Nam. 

Những kẻ xấu ác sau khi biết Ngài đã được phó chúc, lãnh thọ Y,Bát và đang bôn tẩu; chúng muốn tranh đoạt Y Bát, liền hiệp nhau vài trăm người do một tu-sĩ họ Trần, tên Huệ-Minh cầm đầu, truy đuổi theo Ngài. 

Một hôm, ngài Huệ-Năng trông thấy sư Huệ-Minh, bèn đặt Y, Bát trên một tảng đá lớn, rồi nói rằng : "Y nầy là biểu tín của Chánh Pháp, há có thể dùng sức mà đoạt được sao ?" Nói rồi liền ẩn núp trong đám cỏ. 

Tu-sĩ Huệ-Minh đến xách áo lên nhưng không nhúc-nhích nổi, hoảng-hốt kêu lên : "Hành-giả, Hành-giả ! Tôi đến vì Pháp, chẳng phải vì Y !". 

Ngài Huệ-Năng bước ra ngồi trên tảng đá. 

Huệ-Minh đảnh lễ, thưa : " Mong hành-giả vì tôi mà thuyết pháp".

Ngài Huệ-Năng nói :" Ngươi đã vì pháp mà đến đây, nên dẹp hết các duyên, chớ sanh một niệm nào, ta sẽ vì ngươi mà nói pháp." 

Huệ-Minh tịnh tâm giây lâu, Ngài Huệ-Năng nói : "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính ngay lúc đó Bổn-lai diện-mục của Thượng-tọa Minh là gì ?".

Huệ-Minh vừa nghe, chợt liền đại ngộ, hỏi tiếp : "Ngoài mật ngữ, mật ý vừa rồi, còn có ý sâu-kín nào khác nữa chăng ?" 

Ngài Huệ-Năng nói : "Những gì ta vừa nói với ngươi tức chẳng phải ẩn mật. Nếu ngươi tự soi lại chính mình, thì cái ý sâu kín ấy ở ngay bên ngươi." 

*

"Không nghĩ thiện không nghĩ ác, chính ngay lúc đó bổn-lai diện-mục của Thượng-tọa Minh là gì?". Ðây chính là bài pháp đầu tiên của Ngài Huệ-Năng độ thuyết tu-sĩ Huệ-Minh, sau khi Ngài lọt cữa Ngũ Tổ và vừa được truyền Y Bát. 

Với một câu nói giản-đơn không rời lìa tự tánh, chỉ thẳng tâm người, không một chút dínhđấp gì đến kinh-điển, không một lời dẫn-chứng, giảng-giải hay biện-luận, nhưng ngay đây Thượng-tọa Minh đã trực ngộ, nhận ra bổn-lai tự tánh, thể-hiện hoàn-toàn công-năng viđiệu không thể nghĩ bàn của Tâm-Pháp " Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật". 

Bỡi tâm chúng sanh lúc nào cũng lăng xăng, vọng động, chấp cảnh nầy, thân nầy làm thật, cũng như người đi tu lại chấp thêm pháp nầy làm thật, nên ngoài thì bị cuốn hút theo trần cảnh, bên trong thì vọng tưởng, vọng niệm điên đảo khởi lên trùng-trùng không lúc nào dừng nghỉ, làm che mờ tự tánh, thí như mây đen quần-vũ che lấp trăng rằm, chứ trăng rằm thì thường sáng. (Tạm thí dụ cho dễ hiểu - mặc dù phản khoa học, vì trăng chỉ là một hành tinh nhận ánh sáng từ mặt trời và phản chiếu đến trái đất nên chúng ta mới thấy sáng.) 

Thế nên khi nghe lời khuyên của Ngài Huệ-Năng "dẹp hết các duyên, chớ sanh một niệm", thân tâm của tu-sĩ Huệ-Minh trở về trạng thái an-bình vắng lặng, ngoài không vì lợi dưỡng, không vì tướng hảo của Y Bát mà bản thân chạy theo cái việc làm ác; trong không còn vọng tưởng vì danh-vị , chức-sắc để khởi niệm xấu ác nữa, nhưng vẫn tồn tại một niệm sở cầu duy nhất là vì pháp, vì cái thiện, vì sở đắc của việc tu-hành cột buộc tâm ông. 

Ngài Huệ-Năng biết ông ta thành-thật hồi tâm, nhưng vẫn còn vướng mắc, cột buộc ở chính cái tâm chấp pháp, còn nghĩ có sở đắc, mà chính những niệm khởi này cũng là án mây che mờ tự tánh; thế nên Ngài đã giúp Thượng-tọa Minh tự xóa đám mây đen đó bằng cách trước tiên yêu cầu Ông giữ tâm bình lặng, sau đó chỉ với một câu phá chính cái chấp ở chỗ cầu và được pháp, tức cũng là cái Thiện mà ông ta đang ôm ấp, đeo đuổi.

Người căn cơ liền ngay đó nương những lời này mà tự xoay đầu nhìn lại vào trong, thì cũng sát na đó mọi sự tháo tung, trước mắt Phật đạo rỡ ràng, tâm vật dung thông, sáng trong vắng lặng, chẳng chỗ dấu che. Bằng ngược lại, người chấp lên ngôn từ rồi dùng tri thức mà hiểu, mà biện biệt đúng sai, phải trái, ắc khó mà khám phá tự tâm, chẳng khác nào kẻ đuổi hình bắt bóng, như khuấy nước tìm trăng. 

Thượng tọa Minh đã biết là mình không thể nào tranh đoạt Y Bát cùng Ngài Huệ-năng nữa, tức là Ngài đã dẹp được cái nghĩ ác, làm ác; nhưng tâm cầu pháp, cầu thiện, cầu đắc quả vị thì vẫn còn. Thế nên, còn chấp, dù là chấp thiện, cũng cần phải dẹp bỏ luôn thì mới được việc. Ngay sát na tâm Huệ-Minh vắng lặng, không có một niệm nào , cũng chính là lúc nhát búa của Ngài Huệ-Năng đập trực diện vào tiềm-thức đang mê mờ của Huệ-Minh. Chỉ ngay nhát búa trực diện, cũng vừa là câu trả lời cho sự khao-khát cầu pháp của Huệ-Minh "bổn lai diện mục ở đâu?" đúng nơi đúng lúc, buộc Huệ-Minh phải tự phá thế mà thoát ra. Ngay đây tất cả dây mơ rễ má trói vần chằng chịt tự bao đời, đột-nhiện đứt tung, bể nát, sạch trơn dấu tích. Ngay đó chơn tâm hiển hiện. 

Người nào chợt đến được chỗ này thì cũng đã tự thấy vô sự rồi, vì dòm lại không còn tứ tướng. Nhưng Thượng-tọa Minh còn chưa thông tỏ chỗ "không một pháp có thể được", còn có ngã tưởng vi tế suy lường, nên chưa thật hài- lòng, sợ rằng còn có "mật-ý" sâu-kín nào nữa chăng, còn có chỗ "sở đắc" nào nữa chăng, nên hỏi thêm; và Ông đã được Ngài Huệ-Năng phơi hết ruột gan là chẳng còn gì nữa cả, chỉ có thời thời hồi quang phản chiếu, và sống chơn thật với chính nó mà thôi, trụ tâm không chỗ trụ, được ngay ở chỗ chẳng gì để được là tự trọn trong pháp tánh; chỗ này chẳng khác Sơ Tổ Bồ-đề Ðạt-ma dặnđò Nhị Tổ Huệ-Khả khi Nhị-Tổ chợt vừa tỏ ngộ : "Hãy giữ-gìn, Ông như thế mà ta cũng như thế" . 

Tuy có dụng đến trăm lời, ngàn chữ đi nữa nhưng ý cũng chỉ một; ba tiếng "Hãy giữ-gìn" đã nói lên tất-cả và trọn vẹn, đó chính là lúc tâm tâm khế hợp, đã tỏ ngộ tự tánh, là đồng một cùng tánh như Tổ không khác. "Hãy gĩư gìn"tức hãy sống chân thật trong nó (tự tánh, pháp tánh) mà tu hành, mà gạn lọc uế trược để trừ tất thảy hoặc nghiệp, còn công đức cao sâu hay nông cạn thì tùy công-phu của mỗi người mà tự có chỗ sai biệt vậy. 

Ðây cũng chính là ý nghĩa câu giải thích của Tôn-giả Tu-bồ-đề trong Kim-cang kinh "Nhứt thiết Hiền, Thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt ố Tất thảy các bậc nên Hiền hay nên Thánh đều tu từ pháp vô vi mà tự có chỗ sai biệt hơn kém nhau vậy".

Chỉ một câu nói của Ngài Huệ-Năng, "chỉ thẳng tâm người" đúng nơi, đúng lúc đã làm cháy tiêu lớp màn vô minh bao phủ Thượng tọa Minh tự bao đời bao kiếp; đó chính là chỗ thậm vi, thậm diệu không thể nghĩ bàn của Tâm-pháp. 

Ðến đó nhìn lại liền thấy chẳng có một pháp nào là thật pháp cả, mà tất cả chỉ là giả danh, là phương tiện đặt bày và các pháp này cũng đã tự cháy tiêu không lưu dấu. Ðến đó mới thấy lời Phật dạy hàng ngàn năm trước sao mà cao diệu quá " Thuyết pháp giả, vô pháp khả thuyết thị danh thuyết pháp". 

Pháp của Phật, như Thế-Tôn thường dặnđò các đệ-tử của Ngài, dụ như bè hoặc ngón tay chỉ trăng, chỉ là phương tiện chỉ đường cho chúng-sanh khai mở tự tâm để hòa "một" với Ðạo mà thôi. Và một khi đã tỏ Ðạo thì chẳng còn thấy gì là pháp cả. Tới đó, tiếng Ðạo cũng chẳng còn, cũng vô nghĩa huống là các pháp. Thí như hư không là hư không, hư không chẳng từng gọi chính hư không là hư không vậy. Nhưng hư không vẫn là hư không, chẳng từng thêm bớt, chẳng từng sạch dơ, chẳng từng sanh mà cũng chẳng mất, vô thỉ vô chung, vô cùng vô tận. Ðây là chỗ tạm mượn hư không mà thí dụ. 

Bỡi chấp ngã, chấp pháp nên Huệ Minh và không ít người khác luôn luôn truy tìm cái chỗ được, để vun đắp cho cái ngã thêm dày thêm lớn, nên Tu-sĩ Huệ Minh mới có câu hỏi thòng thứ hai. Mặc dù đã tỏ ngộ nhưng cái ngã tướng thật vi tế lúc ấy của Huệ-Minh vẫn còn. Chỉ đến câu đáp thứ hai của Ngài Huệ-Năng, thì Huệ Minh mới biết rằng mình thật sự đã lọt vào cữa Tổ chỉ còn lại một công việc là sống chân thật trong đó mà tu hành để tự giải thoát mà thôi, ngoài ra chẳng còn gì khác nữa cả. 

Chỗ được pháp ở đây chính là đắc vô sở đắc, là chỗ đức Phật thường dặn dò các đệ tử của Ngài : "Vô pháp khả đắÔc thị danh đắÔc pháp". Hoặc "Như-lai đắc A-Nậu Ða-la Tam miệu Tam Bồ-đề, ư thử trung, vô thật vô hư." 

II. Bài Pháp thứ Hai : 

Sau lần thuyết pháp cho Ngài Huệ-Minh được tỏ ngộ, Ngài Huệ-Năng phải ẩn thân trốn lánh bọn xấu ác suốt mười lăm năm trời. Một hôm Ngài nghĩ, đến lúc đã có cơ duyên phải ra hoằng pháp, Ngài bèn đi đến chùa Pháp-Tánh ở Quảng-Châu gặp lúc Aãn-Tông Hòa-thượng đang giảng Kinh Niết-Bàn. 

Nhân thấy bên ngoài có hai vị sư đang tranh cãi nhau nghĩa lý của gió và phướng, người thì nói gió động, người thì nói phướng động, cãi mãi không thôi. Vì tâm từ, để khai mở cho hai vị sư, Ngài đến nói cùng bọn họ rằng : "Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phướng động, mà chính tâm của hai ông động" . 

Ðó chính là bài pháp thứ hai của Ngài Huệ-Năng vậy. 

Bỡi hai ông sư đem tâm phân biệt, chấp trước cảnh ngoài nên thấy có phướng thật, gió thật, có ngã có nhơn, có chúng sanh, có thọ mạng; rồi dùng kiến-văn giác-tri của vọng thức mà biện biệt đúng sai, phải trái trong nhơn quả nhị nguyên sanh diệt. Nhưng những việc làm ấy sẽ chẳng đưa hai vị sư đi đến đâu cả, cùng lắm cũng chỉ làm giàu cho kiến-giải của nhị nguyên mà thôi , vì tất cả những việc ấy đều không ra ngoài vọng chấp đảo điên nhơn ngã của huyễn pháp. Gió động, phướng động đều là các pháp huyễn ảo, hư vọng trong sanh diệt. 

Ngài Huệ-Năng đã từ bi chỉ thẳng cho hai vị sư trực nhận tự tánh của mình mà trước đó mười lăm năm, Ngài cũng đã nhận ra nó sau khi được Ngũ Tổ thuyết Kim Cang Kinh. Giờ đây, Ngài phương tiện chỉ dùng một câu nói thẳng, chỉ thẳng Phật tâm mà đem lại lợi lạc không thể nghĩ bàn cho hai vị sư . Một khi đã tỏ r bổn lai tự tánh, mới thấy tất-cả các pháp đều như huyễn , đều do tâm vọng sanh, chẳng gì thật ngoài Phật tâm thanh-tịnh. Có nhận r được bổn lai tự tánh, thì mới r như thật mình là ai, để rồi sống được trong nó mà tu hành, thì sự tu hành mới thật sự thành tựu. Chúng ta há không nghe Lục Tổ nói :"Tu hành mà không r bổn tâm, chẳng ngộ tự tánh, thật luống công vô ích" đó sao!

Qua câu nói khai mở cho hai vị sư, chúng ta liên tưởng đến một thiền ngữ tương tự, chỉ thẳng ngay tâm: 

Trời đang mưa, một Thiền sư hỏi đệ tử : bên ngoài là cái gì ? 

Vị đệ-tử trả lời : - Thưa, tiếng mưa. 

Thiền sư bảo : - chúng sanh điên đảo, mê mình theo vật.

Vị đệ tử hỏi lại : - Thưa, thế thì sao mới đúng đây ?

Thiền sư trả lời : - Ta chính là tiếng mưa. 

Bỡi chấp vào huyễn thân huyễn cảnh nên quên mất chính mình, chứ vị đệ tử kia đâu biết rằng nếu soi rọi và tự tỏ, cảnh thân đồng một, cùng pháp giới không hai, thì tất cả hàm linh đồng một chỗ uyên nguyên mà ra, mình cũng chính là tiếng mưa mà cũng là tất cả, một hạt mưa cũng chính là mình, mà tất cả cũng chỉ từ chỗ độc hữu diệu mầu vô tướng xuất sanh. Nói một (độc hữu) mà cũng chẳng phải thật một, bỡi không còn có gì đối đãi để mà thấy có niệm một nữa. Tỏ thì lấy chỗ uyên nguyên, vô thỉ vô chung, làm chốn về. Không tỏ thì nhận các tướng làm nơi nương náu, mà còn tướng thì chẳng ra khỏi sáu đường sanh diệt, không ra ngoài luật tắc nhân quả, luân-chuyển không cùng. 

Trong Kim-Cang Kinh, Phật tán thán ông Tu Bồ-đề hết lời khi ông nghe pháp được tỏ ngộ và thưa với Phật rằng : "Ly nhứt thiết tướng tức danh chư Phật." 

Trong Pháp Bảo-Ðàn Kinh, Lục Tổ cũng thuyết tương tự : - "Ngọai ly nhứt thiết tướng, danh vi vô tướng. Năng ly ư tướng , tắc pháp thể thanh tịnh". 

Sống chân thật trong thể tánh thanh-tịnh thì ngay đó cũng chính là nhà, là chốn về của mình rồi chứ còn tìm kiếm Bồ-đề đâu xa nữa. Ngay đó chẳng có gì trói buộc, dính mắc, là lẽ như của nhứt thiết pháp, là giải thoát hiện tiền vậy. 

Ðược ngay ở chỗ Ly nhứt thiết tướng chính là bổn thể, là tánh, cũng là chỗ về của trí giả vậy.

III. Bài Pháp thứ Ba: 

Pháp-sư Hoà-thượng Aãn-Tông sau khi mời Ngài Huệ-Năng ngồi lên trên, đảnh lễ Ngài và xin được xem Y Bát truyền thừa xong, mới hỏi pháp. 

Pháp Sư Aãn-tông hỏi :- Lời phú-chúc cũa Tổ Huỳnh-Mai truyền bằng cách nào ? 

Ngài Huệ-Năng đáp : - Phú-thọ vốn không, chỉ luận về kiến tánh, chẳng luận về Thiền định và Giải thoát. 

Pháp sư Aãn-tông hỏi :- Tại sao chẳng luận Thiền định và Giải thoát ? 

Ngài Huệ-Năng đáp : - Vì kiến tánh là thành đạo, còn luận chi Thiền-định và Giải thoát. Phật pháp tức là pháp "chẳng hai".

Pháp sư Aãn-Tông lại hỏi :- Thế nào "Phật pháp là Pháp chẳng hai" ? 

Ngài Huệ-Năng đáp :- Pháp sư giảng kinh Niết-Bàn r được Phật tánh, chứng tỏ Phật pháp là Pháp "chẳng hai". 

Như Cao-Quí Ðức-Vương Bồ-tát bạch Phật : - Những người tạo tôi ngũ nghịch, phạm tứ trọng giới hoặc bất tín có mất Thiện-căn Phật-tánh không? Phật thuyết : - Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường; Phật-tánh chẳng thường, chẳng vô thường, nên không dứt, gọi là chẳng hai. 

Một là Thiện, hai là bất thiện; Phật tánh thì chẳng thiện, chẳng bất thiện nên gọi là pháp "chẳng hai". 

Ðối với ngũ uẩn và thập bát giới, phàm-phu thấy có hai, nhưng kẻ trí giả hiểu r "tánh" chẳng hai . Tánh "chẳng hai" ấy là Phật tánh vậy" . 

Ðó chính là bài pháp thứ ba của Ngài Huệ-Năng sau khi rời núi Huỳnh-Mai cho đến khi thọ Cụ-túc giới. 

Trong phần nầy có bốn điểm trọng yếu cần phải bàn.

  1. Phú chúc của Ngũ Tổ đối với Ngài Huệ-Năng : 
Vì Pháp-sư Aãn-Tông giảng kinh Niết-Bàn, dẫn dắt người đến chổ r tự tánh, tu và chứng đắc y kinh có thứ lớp. Còn Lục-Tổ Huệ-Năng thì thực-hành Tâm pháp, chẳng dùng văn-tự , chẳng y cứ trên kinh-điển mà dùng Không-pháp, tức "chỉ thẳng ngay tâm, thấy tánh thành Phật" nên Ngài Aãn Tông mới hỏi, vì Ngài chưa từng biết qua pháp Trực-chỉ này. 

Thế nên Ngài Huệ-Năng mới nói là "phú chúc vốn không, chỉ luận kiến tánh mà không luận Thiền định, Giải thoát". Vì với tâm pháp, chỉ trực diện, trực chỉ để ngay đó đối nhân trực ngộ thì liền được việc; chợt thấy tánh thì tâm vật dung thông, trong ngoài, tới lui vô ngại, hoàn toàn chẳng giống như Ngài Aãn Tông y Kinh mà giảng pháp theo thứ lớp, có tầng bậc. 

  1. Vì sao chẳng luận Thiền định và giải thoát : "Vì kiến tánh là thành đạo, thì còn luận chi Thiền định và Giải-thoát". Bỡi ngay ở chỗ kiến tánh thì đã là định rồi, trong tánh có định, trong định hiển tánh; mà đã kiến tánh rồi thì tự r tất cả, còn gì vướng mắc, ràng buộc nữa đâu mà cầu giải thoát, và giải thoát cái gì đây. Ngay đó chỉ một, nói một mà thật chẳng một, cũng chẳng hai, chẳng khác, không đến không đi, không sanh không diệt, tất cả chẳng gì dính dấp, chẳng chỗ đối đãi, thì có cái gì trói buộc đâu mà đòi giải thoát ? 
  2. Thế nào Phật pháp là pháp chẳng hai : - "Pháp sư giảng kinh Niết-Bàn, r được Phật tánh, chứng tỏ Phật pháp là chẳng hai. "
Ngài Hoà-Thượng Aãn Tông lúc mới gặp và đối thoại cùng Ngài Huệ-Năng, mặc dù Ngài là một Pháp-sư có tiếng, y-cứ kinh Niết-Bàn mà giảng cho đại chúng nhưng tự thân Ngài vẫn chưa ngộ tánh (Bỡi chưa ngộ tánh nên mới có câu hỏi : vì sao chẳng luận Thiền-định và Giải thóat? Cũng như nói : Tôi giảng Kinh như ngói gạch, Nhân-giả luận nghĩa như vàng ròng) nên mới có câu tham hỏi rất cặn kẽ, rất hay, và rất tha thiết, đúng thời, đúng chỗ. 

Sanh thời đức Phật dùng phương tiện quyền xảo, tùy căn-cơ, duyên-nghiệp, trí tuệ từng người mà Ngài thuyết pháp, từ thấp đến cao, nói xa nói gần nhưng tất cả không ngoài mục đích dẫn dắt chúng sanh từ chỗ mê lầm quên mất chính mình, đến chỗ khai mở tự tâm để tỏ r tự tánh, cũng gọi là kiến tánh. Kiến tánh là mục đích duy-nhất, và tối hậu của người tu Phật để cứu cánh giải thoát. 

Tuy rằng các pháp môn có khác nhau, nhưng đó cũng chỉ là phương tiện để đáp ứng cho từng căn cơ ,duyên nghiệp, phước đức nông sâu, nặng nhẹ của mỗi chúng sanh mà có tiệm,có đốn, có thấp, có cao , nhưng cốt l i vẫn là dẫn dắt chúng sanh khám phá tự tâm. Một khi chơn tâm hiển lộ, liền tự thấy r như thật, sở dĩ các pháp có biến-hiện, sanh diệt, mất còn cũng từ một tâm này vọng động mà sanh; các pháp biến hiện, có không này đều hư huyễn, giả dối,thoắt còn thoắt mất, chợt có chợt không, chẳng chơn thật; đối chỗ uyên nguyên thì chẳng có một pháp nào; chỗ chẳng một pháp nào khởi sanh, chẳng một pháp nào khởi diệt chính là Phật pháp vậy. 

Thế nên nói Phật pháp là Phật pháp, chẳng hai, cũng chẵng khác, vì tuyệt vô đối đãi. 

Trong kinh Kim-Cương, Tôn-giả Tu-bồ đề quảng diễn chỗ này rất r : "Như-lai sở thuyết pháp giai bất khả thủ, bất khả thuyết phi pháp, phi phi pháp ố Chỗ nói pháp của Như-lai đều chẳng thể chấp giữ, không thể nói là pháp mà cũng không thể nói là chẳng phải pháp". 

Thế thì "Chẳng phải pháp, chẳng phải chẳng phải pháp" là Phật pháp, là pháp chẳng hai vậy. 

Người chợt tỏ ngộ, liền biết như thật, Phật pháp là pháp chẳng hai, chẳng Sanh Diệt - chẳng Sạch Nhơ - Chẳng Tội Phước - Chẳng Sanh-tử Niết-Bàn - Chẳng Tối Sáng - Chẳng Tăng Giảm vvà.là bình đẳng tánh, sáng trong như nhứt, tuyệt vô đối đãi. 

Tóm lại Phật pháp là pháp chẳng hai nhưng cũng chẳng phải một, chẳng phải khác, vì vô đối đãi; Phật chỉ tạm mượn làm phương tiện để dẫn dắt chúng sanh, một khi chợt tỏ ngộ thì thật chẳng còn pháp chi, bao nhiêu phương-tiện đều cháy sạch, thậm chí đến những chữ như Bồ-đề, Niết-bàn, chứng, đắcà đều cũng chẳng còn, hay nói r hơn ngay cả Niết-bàn cũng chỉ là danh phương-tiện tạm mượn dùng để chỉ chỗ cực thanh-tịnh, hoàn-tòan tịchđiệt,mà ngôn ngữ và thế trí chẳng thể với tới.

Trong Kim-Cang Kinh Phật thuyết rất r , những ai tự xét mình có căn trí cao dày, sáng suốt, phước duyên gồm đủ nên nỗ lực tự thân đọc tụng, nhất là lại có được các bậc Thiện-tri thức hướngđẫn, chỉ dạy ắt mau thành tụu công-đức.

Chúng tôi xin mở ngoặc nơi đây môt chút để nói về ba chữ "Thiện-tri-thức".

Thông thường ngày nay, ai trong chúng ta khi gặp các vị Tôn-túc trong Ðạo, hoặc các Cư-sĩ tu-hành có chuẩn mực thường hay gọi tâng bốc nhau là "Thiện-tri-thức", hoặc thậm chí có khi gọi, xưng hô nhau là "Ðại Thiện-tri-thức"; điều ấy chẳng những chẳng đúng tí nào mà vô tình có lỗi cùng chư Tổ, những bậc Thiện-tri-thức thật sự.

Như trong Pháp Bảo-Ðàn Kinh, Lục Tổ nói : " Thiện tri-thức là những người đã lìa tứ tướng (vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ giả), đã đắc pháp. Bậc Ðại Thiện tri-thức là những vị thông tột pháp Ðại-thừa và Tối Thượng-thừa, có nhân duyên lớn với thế gian mà thị hiện hóa độ chúng sanh, để cho họ được thấy tánh". Nếu đã biết thế chúng ta nên dùng từ ngữ cho thật chính xác, đúng người, đúng lý kẻo vô tình mắc lỗi với các Ngài. Nếu đã cùng sáng tỏ, có thể gọi nhau là "tri-thức" được rồi. 

d. Bỡi Pháp sư Aãn-Tông giảng Niết-Bàn kinh nên Ngài Huệ-Năng mới dẫn kinh này và nói r hơn theo pháp chỉ thẳng cốt đưa Pháp sư trực nhận Trung-đạo mà khai mở tự tâm, tỏ ngộ tự tánh . 

Ðại ý Bồ tát Cao-Quí Ðức vương hỏi Phật :- Những người quá đại ác (chẳng phải ác bình thường) có mất Thiện căn Phật tánh chăng ? 

Phật trả lời : Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường, còn Phật tánh thì chẳng thường cũng chẳng vô thường, nên chẳng dứt đoạn, vì thế gọi là chẳng hai.

Một là thiện, hai là bất thiện, còn Phật tánh thì chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện nên gọi là pháp chẳng hai. 

Ðối với ngũ uẩn và thập bát giới, phàm phu thấy có hai, nhưng bậc trí giả đã rỏ tánh này chẳng hai, tánh chẳng hai này là Phật tánh. 

Bỡi mê nên chấp ngã, chấp pháp rồi khởi tâm phân biệt : thiện ác, phải trái, hơn thua, lành dữ, tốt xấu ..àtrôi lăn trong vọng tưởng đảo điên, làm mê mờ tự tánh. Thế nên Phật đã trả lời cho Bồ Tát Cao-Quí Ðức Vương rất r ràng. Một khi tỏ ngộ sẽ chợt nhận ra rằng Phật tánh thì chẳng hai, chẳng thiện chẳng ác, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng sạch, chẳng dơ, chẳng thêm chẳng bớt, ngay trong chỗ bình đẳng . 

Ở chỗ này, Tổ Huyền-Gíác đã nói rất r trong Chứng-Ðạo Ca :

"Vô minh thật tánh tức Phật tánh - Aỏ hóa không thân tức Pháp thân" .

Và Tổ, Phật cũng từng nói : "Phiền não tức Bồ-Ðề, Sanh tử tức Niết-Bàn" há chẳng r lắm sao! 

Chúng tội xin cử ra đây một thiền ngữ để bổ túc cho thêm phần sáng ở chỗ thiện và chẳng thiện , sạch dơ, thường đoạn ở trên, mà ai trong chúng ta nếu lanh cơ, sẽ ngay đây cũng dễ thâm nhập. 

"Có người hỏi Ngài Tuệ-Trung Thượng-sĩ: - Thế nào là pháp-thân thanh-tịnh? 

"Ngài Tuệ-Trung trả lời : - Ra vào nước đái trâu, nghiền ngẫm trong phân ngựa. " 

Hãy tham . Biết đâu tham chưa đến thời tán thân mất mạng, cái thứ nước đái trâu, thứ phân ngựa kia cũng không làm gì vướng mắc, dính dấp đến khi chúng ta ra vào, nghiền ngẫm, lại còn ung dung tự tại, đi dọc về ngang trong nó thì hay biết mấy. Ðến nước đó thì mặc sức vỗ tay cười.

Ngài Huệ-Năng là một Ðại Tổ-sư của Thiền-Tông Trung-Hoa, là người đầu tiên xiểngđương Pháp-môn Ðốn-giáo qua thực tiễn trong chính giòng sống. 

Với Pháp-môn này, chư Tổ đều nói đây là Ðại-thừa, là Tối Thượng-thừa pháp, dành cho những ai căn trí cao dày, phước duyên gồm đủ, tu pháp môn này rất mau kiến tánh. Còn người bình thường, căn trí, tín tâm không đủ thì rất dễ không tin, dễ đem tri thức và tâm phân biệt mà luận bàn đúng sai, phải trái hoặc dèm chê, thì đó cũng là đều tất nhiên không sao tránh khỏi.

Vậy chúng ta hãy nên cẩn thận ! 

Cư-Sĩ Nhuận-Bảo
 


x

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap