THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Ðức Phật Có Thuyết Pháp 
hay Không Thuyết Pháp

Hoa Sen nhận được câu hỏi của đạo hữu Bạch Vân ở Los Angeles thắc mắc về câu "Phật đã giảng đạo mấy chục năm, nhưng thật ra Phật không nói gì hết". Có nghĩa là Phật giảng đạo cho mọi người cùng nghe, nhưng tâm mỗi người mỗi khác, người hiểu nhiều sẽ nghĩ thế này, người hiểu ít thì nghĩ thế khác, còn người không hiểu thì có cách nghĩ của họ..Theo quý thầy, con hiểu như vậy có đúng không?." (nguyên văn lời của đạo hữu Bạch Vân). 

Trong cuốn Trung Quán Luận, nơi phẩm Quán Tứ Ðế, Bồ Tát Long Thọ viết:

Các đức Phật căn cứ nhị đế
Vì tất cả chúng sinh nói pháp
Thứ nhất là nói Thế tục đế (1)
Thứ hai nói Ðệ nhất nghĩa đế (2)

Nếu người nào không thể nhận thức
Phân biệt r hai đế lý này
Thời đối với Phật pháp thậm thâm
Không hiểu được nghĩa chơn-thật-đế

Nếu không căn cứ vào tục đế
Thời không thể nào biết chân đế
Không chứng được Ðệ nhất nghĩa đế
Thời không thể nào chứng Niết Bàn. (3)

Pháp sư Quảng Liên bình luận như sau: "... Ðức Phật tùy theo căn duyên chúng sanh mà giảng giải có hai môn: Tục đế và Chơn đế, như đoạn trước đã trình bày, nếu người nào không thấu triệt hai pháp môn đó, là chưa hiểu gì Phật Pháp là vi diệu và trở thành nhiều chứng bệnh cuồng vọng, chướng ngại đạo giải thoát Niết Bàn." (4)

Kinh Ðại Bát Nhã lại càng chỉ r sự phân biệt giữa hai chân lý tuyệt đối (Ðệ nhất nghĩa đế) và chân lý thế tục, tương đối (Thế tục đế), như nơi trang 275 cuốn 2: 

"... Ðức Phật dùng pháp thế gian để giảng nói cho chúng sanh, chứ chẳng phải là Ðệ nhất nghĩa" 

Nơi trang 338, cuốn 3: 

"... Này Tu Bồ Ðề! Vì là thế đế nên phân biệt nói có quả báo, chẳng phải trong Ðệ nhất nghĩa đế. Trong Ðệ nhất nghĩa đế chẳng thể nói nhân duyên quả báo. Tại sao? Ðệ nhất nghĩa đế thật không có tướng, không có phân biệt, cũng không có ngôn thuyết. Ðó là vì sắc, nhẫn đến pháp hữu lậu, vô lậu, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, rốt ráo không, vô thủy không vậy ...

Nơi trang 468, Ðức Phật nói: 

... "Ðây là vì thế đế mà nói, chớ chẳng phải đệ nhất nghĩa. Ðệ nhất nghĩa vượt qua tất cả ngữ ngôn, nghị luận, âm thanh... "

Tại sao trong đạo Phật, lại có vấn đề phân biệt r ràng chân lý thế gian (thế tục đế) và chân lý tuyệt đối (Ðệ nhất nghĩa đế)? Ðó là điều cốt tủy chúng ta cần lưu tâm, nếu muốn vào đạo.

Ðạo Phật được thành lập là từ sự giác ngộ của Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Không ai biết đích xác là Ngài ngộ cái gì và chính Ngài cũng không nói r ràng là Ngài ngộ cái gì. Chỉ có một điều là ngay sau khi giác ngộ, bừng tỉnh khỏi cái lưới giăng mắc chập chùng của tâm ý thức từ niệm vô minh đầu tiên, Ngài thốt lên: "Lạ thay, tất cả chúng sinh đều đầy đủ đức tính, trí huệ Như Lai, mà chỉ vì bị phiền não vọng tưởng trói buộc mà phải trôi lăn trong vòng sinh tử."

Ðó là sự giác ngộ của Ngài mà chúng ta được biết. Sau này xuyên qua lời Ngài và các vị A La Hán, chúng ta lại bắt được những câu như: "... việc làm đã xong, đây là kiếp cuối cùng... " vân vân...

Với các thiền sư tu theo Ðại Thừa, đã kiến tánh (nghĩa là đã giác ngộ), thì nói đại khái: ... "xong việc"..., ... "yên ổn, thái bình"... vân vân ...

Tựu chung lại, chúng ta nhận được cái ý là do kết quả của sự nỗ lực tu thanh tịnh hóa tâm, các ngài đều đã giải thoát khỏi vòng xích luân hồi bị chi phối bởi nghiệp lực. Từ nay, nếu có tái sanh, thì chỉ là vì tâm đại bi, đại nguyện, trở lại trần gian để cứu chúng sinh thôi.

Sự giác ngộ của Ðức Phật cũng còn được gọi là chứng Vô Thượng Bồ Ðề (Bồ Ðề là giác ngộ) hoặc Vô Thượng Giác. Về sự chứng ngộ này, Ðức Phật nói trong kinh Ðại Bát Nhã, cuốn 3, trang 176:

... "Này Tu Bồ đề! Ðức Phật lúc được Vô Thượng Bồ Ðề, không có Pháp để được ...".

Và sau này, khi Ngài truyền y bát cho Tổ Ca Diếp, ngài thuyết kệ:

Bản pháp vốn vô pháp
Vô pháp cũng là pháp
Nay phó chúc vô pháp
Pháp pháp đâu từng pháp.(5)
Nơi Kinh Kim Cang, Ðức Phật nói:

... "Tu Bồ Ðề! Thiệt không có pháp chi mà Như Lai đặng đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác cả. Tu Bồ đề! Bởi thiệt chẳng có pháp chi mà đặng đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, cho nên Phật Nhiên Ðăng thọ ký cho ta, mà nói như vầy: "Ngươi qua đời sau, sẽ đặng làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." ... "... Tu Bồ đề! Như Lai đặng cái đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, nơi trong đấy không thiệt không hư ... " ... "Bởi vậy Như Lai nói cả thảy pháp đều là Phật Pháp". (6)

Nói không thiệt không hư bởi vì cái pháp này là tuyệt đối, là bất nhị, không còn trong vòng tương đối của đời sống hiện tượng, để mà có thể nói lên được.(7)

Cái cảnh giới tuyệt đối mà Ðức Phật và chư tổ chứng ngộ, thì các Ngài không thể nói cho chúng ta biết được. Chư tổ sau này chỉ dùng câu chuyện con rùa và con cá để làm thí dụ mà thôi. Rằng con rùa từ dưới nước bò lên mặt đất, đi một vòng rồi trở về nước, bơi cạnh con cá, kể chuyện đất liền cho nó nghe. Nhưng con cá, vì chưa bao giờ rời khỏi nước, không thể tưởng tượng nổi lại có một môi trường có thể sống được mà không có nước, không bơi lội. Cho nên con rùa đành chịu mang tiếng là nói chuyện không có trong thực tế, chuyện viển vông, hoang đường.

Cảnh giới tuyệt đối, chân tâm, giác tánh, chân như, mà đức Phật đã giác ngộ cũng không thể nói cho người chưa chứng ngộ biết, như vậy. Và người đời đôi khi cũng phê bình: "Ðạo Phật cao siêu quá, không có trong thực tế". Nhưng chính đó mới là cốt tủy của đạo Phật.

Nơi trang 194, Ðại Bát Nhã cuốn 3, Ðức Phật nói:

- "Này Tu Bồ Ðề! Biết thật nghĩa của các pháp nên gọi là Phật. Ðược thật tướng của các pháp nên gọi là Phật. Thông đạt thật nghĩa nên gọi là Phật. Biết tất cả pháp đúng như thật nên gọi là Phật"... "Này Tu Bồ Ðề! Nghĩa KHÔNG là nghĩa Bồ Ðề. Nghĩa NHƯ, nghĩa PHÁP TÁNH, nghĩa THẬT TẾ là nghĩa Bồ Ðề.

Pháp Ðức Phật đắc được là NHƯ. Nghĩa là sẵn sàng, vốn có, "bổn cụ" (nghĩa là vốn tự đầy đủ) mênh mông khắp không gian và thời gian, ngoài pháp không có tâm, ngoài tâm không có pháp. Và ngài nhận chân ra rằng tất cả thế gian tương đối đều "Nhất thiết duy tâm tạo". Ðó là cốt tủy của đạo Phật. Do đó, mọi nỗ lực của Ðức Phật, chư Tổ, và chư vị Trưởng Tử Như Lai (chúng xuất gia) đều chỉ có một việc phải làm là dạy chúng sinh từng bước thanh tịnh hóa vọng tâm để trở lại chân tâm thường trụ, giải thoát vĩnh viễn khỏi luân hồi khổ đau. Có như thế mới xứng đáng được người đời cung kính một cách đặc biệt.

Pháp tuyệt đối lìa nói năng như thế thì làm cách nào để độ chúng sinh, chỉ đường cho chúng sinh ra khỏi nhà lửa tam giới? Cho nên, để cứu chúng sinh, Ðức Phật phải dùng ngôn ngữ chân lý thế tục đế để từng bước chỉ cho chúng sinh từ từ rời bỏ đời sống mê muội trong mê hồn trận của tham sân si. Còn về pháp THẬT của ngài là pháp ngài đã chứng ngộ, trở lại bản thể tuyệt đối, thì không thể nói. 

Nơi Kinh Kim Cang, Ðức Phật nói:

- "Này Tu Bồ Ðề! Ông chớ nói Như Lai có tưởng như vầy: "Ta nên có chỗ thuyết pháp" . Chớ tưởng như thế. Bởi cớ sao? Nếu ông mà nói Như Lai có thuyết pháp tức là chê Phật, đâu có tỏ nghĩa của ta đặng. Tu Bồ đề! Thuyết pháp đó, không có chi mà thuyết, chỉ cưỡng danh là thuyết pháp vậy thôi." (8)

Kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa, nói về cốt tủy của đạo Phật, về tuyệt đối, cho nên không có pháp gì để nói. Những lời dạy trong kinh chỉ cốt để giúp loại bỏ những hiểu biết tương đối trong tâm niệm của chúng sinh, loại bỏ những vướng mắc, chấp trước, vốn là nhân kiên cố của vòng xích luân hồi. Cho nên Ðức Phật mới nói rằng Ngài không thuyết pháp, có nghĩa là không thuyết về tuyệt đối, về cái chân thật, cái NHƯ, cái bất khả tư nghị.

Ðến đây, chúng ta trở lại bài kệ của Bồ Tát Long Thọ. Bồ Tát dạy chúng ta rằng nếu chúng ta không phân biệt được Ðệ nhất nghĩa đế (chân lý tuyệt đối) và Thế tục đế (chân lý tương đối dùng trong đời sống thế tục) thì chúng ta không thể hiểu đạo Phật. Do sự hiểu lầm ấy, chúng ta lại đem lời Ðức Phật nói "Không thể nói pháp Tuyệt Ðối", mà cho là Ðức Phật nói "Không nói pháp tương đối" là chúng ta vô tình vướng mắc vào sự hủy báng kinh, là nơi chứa đựng những lời tâm huyết của Ðức Phật. Ngài đã dùng ngôn ngữ và chân lý thế tục để dạy người thế tục biết cách mà tiến dần trên con đường từ bỏ thế tục, trở về bản thể tuyệt đối.

Câu "45 năm thuyết pháp ta không nói lời nào cả" hoặc "Phàm lời nói đều chẳng có nghĩa THẬT", đều để nói về cái TUYÊT ÐỐI, cái CHÂN NHƯ, là cái mà lời nói không thể tới. Những câu đó không trỏ vào kinh sách, là ngôn từ tương đối, là bản đồ chỉ đường cho người đời sau. Ðức Phật là bậc giác ngộ. Ngài không nói ra rồi chối bỏ. Nhưng ngài tùy bệnh cho thuốc, chúng sinh mắc bệnh gì thì có thuốc đó. Ðôi khi, thuốc có vẻ như chống trái nhau, tùy theo bệnh nhân, thí dụ bệnh táo bón và bệnh đau bụng thì hai môn thuốc không giống nhau được. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó, mà tưởng rằng Ðức Phật không nói pháp, thì chúng ta sẽ mất niềm tin nơi kinh, sẽ mất cơ hội có bản đồ chính xác để tìm đường trở lại bản thể chân tâm tuyệt đối.

Trên bước đường tu Phật, có bốn giai đoạn mà hành giả phải trải qua, đó là: Tín-Giải-Hành-Chứng.

1. Tín: Tin rằng đạo Phật sẽ đưa ta tới bờ giác ngộ, giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.

2. Giải: Có được niềm tin rồi, phải tìm kinh sách và thiện tri thức để hiểu tường tận con đường tu hành, như muốn lên đường, trước hết phải có bản đồ, đọc, giải kỹ càng.

3. Hành: Nghiên cứu kinh sách, lời dạy của thiện hữu tri thức xong rồi, cũng như nghiên cứu xong bản đồ rồi, phải bỏ bản đồ xuống, lên đường thực hành theo lời dạy. Cốt tủy của lời dạy lại chính là "sự xả bỏ". Xả bỏ từ thô đến tế, cuối cùng là xả bỏ ngay cả cái khái niệm "xả bỏ". Và khi đã khởi hành (hành khởi) thì phải ngưng kiến giải (giải tuyệt).

4. Chứng: Hành sự xả bỏ ấy cho đến khi nào tâm hoàn toàn rỗng rang, thanh tịnh, thì xong việc.

Xin ghi lại hai bài kệ trong kinh Hoa Nghiêm mà Ngài Thiên Như Duy Tắc Thiền Sư cho là có thể làm tiêu biểu cho bộ Kinh Hoa Nghiêm:

Bài thứ nhất:

Nếu người muốn biết r 
Tất cả Phật ba đời
Phải quán pháp giới tánh
Tất cả do tâm tạo.
Bài thứ hai:
Nếu người muốn biết cảnh giới Phật
Ý căn thanh tịnh như hư không (9)
Xa lìa vọng tưởng và chấp thủ
Khiến tâm khắp nơi đều vô ngại.
Nếu như không xả bỏ phiền não, tham, sân, si, hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục, thì dù có thuộc lòng kinh điển, cũng không thể hội nhập được cảnh giới Phật, là cảnh giới: "ý căn thanh tịnh như hư không."

Hoa Sen 

Cước Chú:
(1) Ðế: nghĩa là chân lý. Thế tục đế: nghĩa là chân lý của đời sống thế tục, trong vòng tương đối với nhau, thí dụ hay-dở, phải-trái, vân vân, từng cặp tương phản.
(2) Ðệ nhất nghĩa đế: nghĩa là chân lý tuyệt đối, bất nhị, không thể nghĩ bàn, vì không còn nằm trong phạm trù so sánh, tương đối.
(3) Trích đoạn Trung Qúan Luận, Tác giả: Bồ Tát Long Thọ, Pháp Sư Quảng Liên biên dịch và giải thích, trang 207-208.
(4) Trang 214, sách đã dẫn trên.
(5) Công án của Phật Thích Ca và Tổ Ðạt Ma, Soạn giả Thích Duy Lực, trang 29.
(6) Kim Cang Chư Gia, Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc tái bản, trang 57.
(7) Tất cả ngôn ngữ, luận thuyết đều phải nằm trong bốn phạm trù tư tưởng là (1) Thể xác định: Có, (2) Thể phủ định: Không, (3) Thể xác định kép: Vừa Có, Vừa Không, và (4) Thể phủ định kép: Cũng Không Có, Cũng Không Không Có. Rời bỏ bốn phạm trù này thì không còn nói lên được điều gì nữa. Cho nên mới có câu "Phật Pháp là pháp bất nhị", lìa tứ cú.
(8) Kim Cang Chư Gia, Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc tái bản, trang 65.
(9) Ý căn là "căn" của ý thức, còn có tên là Mạt na Thức (thức thứ Bảy). Thức này khi đã "thanh tịnh như hư không", tức là đã chuyển sang thành "Bình Ðẳng Tánh Trí".

Xem Tiếp Bài 2
 
 


x

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap