THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Thập Nhị Nhân Duyên

From: phamdluan@a..
Date: Tue Mar 26, 2002 1:46 am
Subject: Thập Nhị Nhân Duyên

Chào huynh Chấn cùng quý D/H,

From: chanmle@y.. (Chan Le)
Chào huynh KKT,
Cám ơn huynh đã chỉ giáo cho ngọn bát phong. Còn thập nhị nhân duyên là những nhân duyên gì? Xin huynh giúp cho!
Kính,
Chấn.

KKT: Thập Nhị Nhân Duyên (Paticca-samuppada / Conditioned Genesis)là do Phật TC thuyết trong bài thuyết pháp thứ 3.

Chính từ TNND này mà có lý thuyết Nhân Duyên tổng quát là << NỀN TẢNG >> của PG.

Lý thuyết Nhân Duyên này là Trung Ðạo giữa hai cực đoan, một là nói rằng mọi sự được << định trước >> (determinism, fatalism), hai là nói rằng mọi sự do << ngẫu nhiên, tình cờ >> (chance, random, complete chaos).

Lý thuyết Nhân Duyên bảo rằng mọi sự không phải được << định trước >> mà cũng không phải do << tình cờ >> mà là kết quả của nhiều << nhân duyên (conditions) >> khác.

Ðể hiểu rõ TNND cũng nên đặt câu hỏi rằng: << Tại sao >> Phật thuyết TNND?

Câu trả lời là TNND là sự tiếp nối << tất nhiên >> của bài thuyết pháp thứ 2 của Phật.

Vậy bài thuyết pháp thứ 2 nói gì?

Trong bài thuyết pháp thứ 2 Phật phân tích (analyze) Thân Tâm (hay Danh Saéc) ra thành Ngũ Uẩn. Mục đích là để phá hai cực đoan, một là chấp THƯỜNG (eternalism, substantialism) chủ trương có một linh hồn (soul) hay ngã (self, Atman) bất biến, trường tồn đi từ kiếp này sang kiếp khác, hai là chấp ÐOẠN diệt (annihilationism, nihilism) chủ trương rằng không có gì hết (linh hồn, ngã) chết xong là... hết :-))

Phật phân tích Thân Tâm ra thành  Ngũ Uẩn để cho thấy không có linh hồn hay ngã gì cả và như vậy tức là phá chấp THƯƠNG.

Tuy nhiên như vậy Phật thuyết có giống ÐOẠN diệt chăng???

Xin thưa rằng không, là vì chết xong không phải là hết mà vẫn có tiếp tục kiếp saụ

Vậy thì nếu đã không có linh hồn hay ngã mà lại vẫn có luân hồi, thì hai chúng sinh của hai kiếp liên tiếp liên hệ ra sao???

Câu trả lời là liên hệ NHÂN QUẢ

Và ở đây cái lý NHÂN DUYÊN xen vào là vì Nhân Quả là một nghĩa khác của Nhân Duyên mà thôi

Có nghĩa là sau khi đã << phân tích >> Thân Tâm ra thành Ngũ Uẩn (nghĩa là đã rời rạc hết cả rồi :-)) như trong bài thuyết pháp thứ 2, bây giờ phải làm sao << nối kết >> những giòng Ngũ Uẩn liên tục này lại???

Sự nối kết này được giải thích bằng lý thuyeát Nhân Duyên trong bài thuyết pháp thứ 3 vậy

Nghĩa là tất cả các pháp (dhamma) đều liên hệ << nhân duyên (condition) >> với nhau vậy

Thuyết TNND là một thí dụ để giải thích luân hồi (mà không có linh hồn)

Vô Minh —-> Hành —-> Thức —->
DANH SẮC (nama-rupa) —-> Lục Nhập —->
Xúc —-> Thọ —-> ÁI (tanha) —-> Thủ —->
Hữu —-> Sinh —-> Lão Tử

Nguyên nhân của luân hồi (tức Sinh, Lão Tử) là Vô Minh. Tuy nhiên để nhìn cho rõ sự liên hệ phải cần đến theâm 9 mắt xích nằm giữa chúng, cái này làm << nhân duyên (condition) >> cho cái tiếp theo sau.

Có thể nói nếu bài thuyết pháp  thứ 2 là << phân tích (analysis) >>  thì bài thuyết pháp thứ 3 là  << tổng hợp (synthesis) >> vậỵ

Hy vọng các bạn nhìn rõ vấn đề :-))

Như các bạn đã biết sau khi Phật TC nhập diệt thì các  thế hệ Phật tử về sau đã << khai triển >> những lời Phật dạy ra thành rất nhiều lý thuyết mới.

Một câu hỏi đương nhiên được đặt ra là có thể nào biết được đâu là những lời dạy << nguyên thủy >> của Phật TC chăng?

Câu hỏi này rất khó trả lời :-))

Tuy nhiên như KKT đã đề nghị nhiều lần, đó là ta có thể xác quyết mà không sợ sai lầm rằng 3 bài thuyết pháp đầu tiên  chắc chắn là lời Phật TC dạỵ

Vì lẽ 3 bài thuyết pháp này chứa đựng những giáo lý << nền tảng >> của Phật pháp mà thiếu chúng thì không thể gọi là Phật pháp được :-))
 

Vậy có thể nào tóm tắt cái << message >> chính của Phật TC trong 3 bài thuyết pháp này chăng?

KKT xin trả lời rằng:

<< Ðó là phá Ngã chấp >>!!!

Ðây là cái mê lầm căn bản mà ngày nào còn nó là còn tiếp tục luân hồi sinh tử !!! 

Bài thuyết pháp thứ nhất Phật thuyết Tứ Diệu Ðế  mà cái diệu đế thứ nhì là Tập Ðế tức lànguyên nhân  của Khổ, của luân hồi sinh tử  là Dục hay Ái (tanha).

Phải dịch chữ tanha này là << khát >> ta mới thấy sự mãnh liệt của nó :-))
Sách Pháp dịch chữ tanha này là Soif,  sách Anh dịch là Thirst, Craving.

<< Khát >> ở đây là khát sống, khát dục (pleasure), khát hiện hữu (existence), khát trở nên (becoming), khát hư vô (non-existence).

Ðó là mấy cái << khát >> chính mà trong Kinh thường kể ra 

Các bạn có để ý rằng cái Khát  này chính là NHIÊN LIỆU (FUEL)  của bản ngã (ego, self) chăng???

Nó chính là << sức sống >> của bản ngã! 

Cho nên tuy trong bài thuyết pháp 1 Phật không nói gì tới bản ngã
nhưng Phật lại đề cập đến  cái << động lực >> của bản ngã là << Khát >> và cái này thì ngay một kẻ phàm phu cũng nhận ra 

Vậy là trong bài thuyết pháp 1 Phật đề cập đến bản ngã ở nghĩa đơn giản dễ nhận diện nhất.

Ðể ý vị trí chữ Tanha hay Ái này nằm trong TNND ở bên trên.

Sang đến bài thuyết pháp thứ 2 Phật phân tích Ngũ Uẩn tức là nói thẳng rằng cái Ngã không có thực thể. Cách phân tích này đã  bắt đầu << hơi khó nhận diện >>  hơn trường hợp trên 

Ðể ý rằng Ngũ Uẩn chính là Danh Sắc (nama-rupa) trong TNND ở bên trên.

Sang đến bài thuyết pháp thứ 3 Phật thuyết TNND để giải thích rằng mặc dầu không có Ngã nhưng vẫn có luân hồi do vì lý lẽ << nhân duyên >> của các  pháp (dhamma). Vô Minh là gốc đầu của luân hồi sinh tử và theo KKT thì chính là sự mê lầm chấp rằng bản ngã là có thật!

Như vậy thì các bạn cũng thấy rằng cái << message >> chính trong ba bài thuyết pháp là bản ngã (ego, self) và Phật thuyết từ dễ đến khó dần.

Nói thêm một chút về Abhidhamma (Luận A Tỳ Ðàm)

Abhidhamma chính là tạng Luận trong Tam Tạng Kinh, Luật, Luận.

Abhidhamma được thành hình trong giai đoạn 500 năm sau Phật Niết Bàn, cho nên thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ A Tỳ Ðàm (tức giai đoạn Tiểu Thừa)

Cái ý chính trong giai đoạn này là các tông phái tiếp tục làm chuyện << phaân tích >> các pháp (tức là chẻ sợi tóc làm tư 

Như nói ở trên, nguyên thủy Phật TC chỉ phân chia Tâm Vật (hay Danh Sắc) ra thành Ngũ Uẩn là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

Chữ Uẩn có 2 nghĩa, một là  << ngăn che >> (ở đây là ngăn che trí tuệ) hai là << chứa, nhóm >> có nghĩa là mỗi Uẩn là một << nhóm >> Cho nên Abhidhamma mới làm cái chuyện phân tích (analyze) các Uẩn ra thành những << đơn vị >> KHÔNG THỂ CÒN PHÂN CHIA ÐƯỢC NỮA (irreducible) giống như ta phân chia vật chất thành atoms, particles.

Những đơn vị << irreducible >> này được gọi là Paramattha Dhammas (Ultimate Realities). Ðược gọi như vậy là vì Abhidhamma coi chúng như là những thực thể nhỏ nhất và << có thực >> mặc dầu chúng chỉ sinh, diệt và hiện hữa trong một sát na!

Ngoài chúng ra không có gì có thực cả !

Cho nên chủ trương của Tiểu Thừa mới được gọi là:

NHAÂN KHÔNG, PHÁP HỮU
(the person (or self, ego) does not exist, but the dhammas exist)

Theravada liệt kê ra 82 Paramattha Dhammas mà Nibbana (Niết Bàn) là một un-conditioned PD (tức là không tùy thuộc nhân duyên) Còn lại là 81 << conditioned >> PD được xếp thành 3 loại là:

Rupa (Sắc), Citta (Tâm), Cetasika (Tâm Sở / Mental Factors)

Sắc (Uẩn) = 28 Rupa
Thức (Uẩn) = Citta (Tâm)
Thọ (Uẩn) = 1 Cetasika (Thọ)
Tưởng (Uẩn) = 1 Cetasika (Tưởng)
Hành (Uẩn) = 50 Cetasikas

Còn các nhân duyên (conditions) để << liên kết >> các PD thì Theravada liệt kê ra 24  nhân duyên như đã có đề cập đến trước đâỵ

Tóm tắt là thời kỳ Abhidhamma chỉ làm chuyện << phân tích >>
và << tổng hợp >> chi li hơn những gì Phật TC đã làm.
 

Sang đến Ðại Thừa  (tức thời kỳ tiếp theo) thì các Paramattha Dhammas
này bị phủ nhận là không có thực, nên được gọi là chủ trương:
 

NHÂN KHÔNG, PHÁP KHÔNG (the person does not exist, the dhammas do not exist) Tuy nhiên đây là chuyện về sau 

Peace,

KKT
 
 


x

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap