The
Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci) mở đầu bằng một chuyện “thật”,
nói rõ nơi những tư liệu, nghi lễ, tổ chức, tác phẩm nghệ
thuật và lối kiến trúc trong tiểu thuyết đang tồn tại.
Nó hấp dẫn ở chỗ, trong khi không tập trung vào những âm
mưu xưa mà các nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết đang tranh
luận là sự thật, nhiều người xem tác phẩm là sự “truyền
bá Phúc âm” cho họ đúng thực tế.
The
Da Vinci Code được tác giả Dan Brown tóm tắt như sau: “Nhà
biểu tượng học lừng danh của đại học Harvard, được
mời đến Bảo tàng Louvre để xem xét một chuỗi những mật
mã bí hiểm liên quan đến tác phẩm nghệ thuật của Da Vinci.
Khi đang khám phá những mật mã đó, ông đã vô tình tìm được
chìa khóa của một trong những điều huyền bí nhất của
lịch sử… và từ đó ông trở thành kẻ bị săn đuổi”.
Một
vài vấn đề bí hiểm đó gây nghi ngờ Jesus có phải là một
vị thánh, ông đã từng kết hôn, hay Thánh kinh có thật sự
ghi lại những gì ông đã rao giảng. Câu chuyện là một tiểu
thuyết trinh thám với đầy những yếu tố mạo hiểm, giết
người, bội phản, v.v… chúng xâu kết thành một chuỗi những
tình tiết hấp dẫn bằng cách làm sống lại giả thuyết
về những âm mưu.
Đây
là đầu mối của mọi cuộc tranh cãi: câu chuyện trong tiểu
thuyết kia là sự thật hay chỉ là sự hư cấu. Hầu hết
độc giả đều ngả theo một xu hướng nhất định, không
có sự lưỡng lự. Thế nhưng, sự thật có đơn giản như
khi chúng ta bị vướng mắc vào một khuynh hướng nào? Có
chăng một sự pha trộn giữa sự thực và hư cấu?
Tác
giả cho rằng, đó là kết quả tổng hợp từ các công trình
nghiên cứu. Điều trớ trêu là phản ánh lời tuyên bố “thật”
được ghi nhận trong truyện, Ngài Ian McKellen (người đóng
vai Sir Leigh Teabing trong phim) bình luận: “Tôi thường nghĩ
Thánh kinh chắc hẳn đã từ chối sự thật khi cho rằng đó
chỉ là hư cấu, như việc đi trên nước, nó tạo nên quy
tắc của niềm tin”. Ông ta nói đúng? Tin vào những điều
không thể, có tạo nên một bước nhảy vọt trong niềm tin?
Những
người theo Phật có quan điểm gì về những biểu hiện của
bộ phim này? Liệu chúng ta có thể rút ra được bài học
kinh nghiệm nào không? Đức Phật luôn khuyên chúng ta hãy luôn
khách quan khi đối diện với sự thật. Hãy rộng đường
quan sát những gì đáng tin thì hãy tin, thay vì đơn giản chỉ
tập trung vào sự tin cậy của phía này hay phía kia. Có thể
thái độ này là sự minh họa tốt nhất cho lời nhận xét
của Tom Hanks (người đóng vai giáo sư Robert Langdon, vị anh
hùng trong phim). Khi được hỏi, ông có tin rằng Chúa Jesus
đã kết hôn với bà Mary Magdalene, ông trả lời: “Tôi không
biết! Lúc đó tôi không có mặt ở đó”. Câu trả lời triệu
lần chính xác! Chúng ta cần nhận thức rằng, hầu hết những
gì chúng ta biết về Chúa Jesus không phải là thông tin trực
tiếp.
Niềm
tin của chúng ta thường phụ thuộc vào niềm tin trong lịch
sử, cả những vấn đề tôn giáo lẫn phi tôn giáo. Nếu chúng
ta nhận ra rằng thật khó để đặt toàn bộ niềm tin của
chúng ta vào các sử gia, những người thường mắc sai lầm
và mâu thuẩn quá nhiều giữa lý thuyết và thực tế. Vậy
thì, với tính khách quan riêng, ai có thể làm cho chúng ta tin
tưởng ngoại trừ chính bản thân chúng ta? Nếu tiểu sử
của nhà sáng lập tôn giáo bị mơ hồ, điều đó nhắc nhở
chúng ta rằng, nguồn gốc của những giá trị tôn giáo vững
chãi được thiết lập trên cơ sở bản chất của giáo pháp,
hơn là những bằng chứng của lịch sử. Điều đó cuốn
hút và làm cho chúng ta gởi trọn niềm tin một khi đang phân
vân đứng giữa hai khuynh hướng của câu chuyện. Ngay cả
khi mỗi một cứ liệu trong phim dường như cũng có nghiêng
về một phía nhất định. Một cứ liệu có thể lật tẩy
toàn bộ nội dung phim, trong khi cứ liệu khác chỉ đóng vai
trò hỗ trợ.
Vấn
đề trên của “sự nhận dạng mơ hồ” có ảnh hưởng
đến Phật giáo? Tất nhiên, về lịch sử, đức Phật xuất
hiện trên thế gian trước đức Jesus hơn nửa thiên niên kỷ.
Đó là vấn đề lịch sử rõ ràng. Thực tế, đời sống
của Ngài được miêu tả rất nhiều trong kho tàng kinh điển
đồ sộ và dĩ nhiên là không thể tóm lược vào một cuốn
sổ tay. Kinh điển Nam truyền ghi nhận, Ngài truyền dạy giáo
lý suốt 45 năm, nhiều hơn đức Jesus 41 năm. Điều hấp dẫn
là, ngay cả khi đức Phật được chứng minh là không có thực
trong lịch sử, thì những lời dạy của Ngài vẫn có giá
trị với cuộc sống con người. Đơn giản là, giáo lý của
Ngài dựa trên sự nhận thức khách quan về chân lý, và hơn
thế, Ngài luôn khuyến khích chúng ta hãy nhận thức chân lý
thật khách quan với chính mình, không nên dựa vào giáo điều,
cho dù đó là ngôn từ của Ngài.
Bài
học lớn nhất từ tác phẩm văn học vừa nêu cho chúng ta
thấy, sẽ hết sức nguy hiểm nếu quá tin vào giáo điều.
Phải chăng những sai lầm trong nội dung tác phẩm không tương
thích cho việc chuyển tải sự trung thực của chân lý, nó
cũng có thể không thích hợp với bất cứ quan điểm nào
ủng hộ chân lý của cuộc sống, cho vũ trụ và cho vạn vật?
Trong thâm tâm, chúng ta phải thừa nhận rằng, có nhiều cuốn
sách kinh có thể do các nhà sáng lập tôn giáo viết nên và
cũng có thể không!
Nhận
định của chúng ta đơn thuần bị chuyển hướng theo bất
cứ quan điểm nào hay phụ thuộc vào trí tuệ của mình? Phim
truyện có phải là một loại dị giáo mới của Thánh kinh,
hay chỉ là sự thật bí ẩn và bị lãng quên? hay có một
sự mập mờ nào đó giữa hai khuynh hướng trên? Chúng ta là
tín đồ của những cuốn sách cổ hay của những tác phẩm
bestseller? Hoặc chúng ta chỉ là tín đồ của một tư tưởng
nào đó thôi? Theo lời dạy của đức Phật: “Ðương nhiên,
này các Kalama, các Ông có những phân vân! Trong những trường
hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân.
Này
các Kalama, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền
thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được
kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn;
chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh
giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với
định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền,
chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng
này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết như sau: ‘Các pháp
này là thiện; Các pháp này là không đáng chê; Các pháp này
không bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu
thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc’,
thời này Kalama, hãy tự đạt đến và an trú!” (Kinh Kalama).
Cho dù giả thuyết của tác phẩm “Mật mã Da Vinci”, có
thể khắc họa sự nguy hiểm khi bám víu vào tín điều đi
chăng nữa, thì tự thân nó cũng bị vướng mắc hay bám víu
vào tín điều. Hai xu hướng cực đoan: chủ nghĩa giáo điều
và sự tùy tiện về niềm tin đều làm lạc hướng Trung đạo
về sự công bằng và sáng suốt khi thiết lập niềm tin.
Vậy,
nếu ta tin vào quan điểm này, câu chuyện này hay chuyện khác,
là sai lầm? Câu chuyện dù là hư cấu hay sự thực không là
vấn đề cốt lõi, cũng như bài học đắt giá về sự tin
tường mù quáng vào một quan điểm nào rồi cho đó là không
thể sai được. Ngay cả Phật tử chúng ta cũng có lúc nghi
ngờ về một số văn bản trong thư tịch Phật giáo, được
cho là ngụy kinh. Lời khuyên của đức Phật là, không nên
chỉ đặt niềm tin vào kinh sách, như vậy sẽ đi ngược lại
tính nguyên vẹn của giáo lý. Phải chăng chỉ cần tập trung
vào quan điểm của một cuốn sách rồi nói về toàn bộ sự
thật, trong khi có vô số tác phẩm khác cũng cho là Thánh kinh?
Một
con người thông minh tự mình phải biết phán định cái gì
là Thánh điển và xứng đáng được tin tưởng, chứ không
thể ai khác hay quan điểm nào. Nên nhớ, sức mạnh và số
đông không thể luôn nói đúng sự thật. Trong lịch sử, hàng
nghìn (có nơi nói hàng triệu) người bị săn đuổi và bị
hỏa thiêu vì những tuyên bố trái ngược, biết bao nhiêu
người chết hoặc bị tàn sát vì bảo vệ niềm tin của mình.
Điều đó cũng từng gây tổn thất cho những tôn giáo luôn
tự cho mình đúng và không thừa nhận các tôn giáo khác, hay
thường gán ép cho người khác là dị giáo.
Mong
ước của mọi người là muốn biết đức Jesus có phải là
con người hay một vị Thánh, hay cả hai. Điều quan trọng
đáng lưu ý là, Jesus không chỉ là người duy nhất được
một số người xưng Thánh. Ngược lại, đức Phật được
xem là con người Trung đạo giữa thánh và phàm. Là một bậc
thánh trong vô vàn kiếp trước, Ngài chọn con đường giáng
sanh làm một người mẫu mực, tu hành trở thành một con người
hoàn thiện – Phật đà – người vượt qua mọi giới hạn
của loài người và loài trời. Ngài tự tuyên bố mình là
“Phật”, người thức tỉnh trước thực tại, chẳng phải
trời hay người mà là thầy của trời người. Cái gì để
xác định thánh? Thánh là người có khả năng đi trên nước,
vậy thì không chỉ có Jesus là Thánh. Đức Phật từng đưa
cả đoàn tỳ kheo vượt sông. Thánh có khả năng sống lại?
Đức Phật là người đã vượt qua sự sống chết và còn
có khả năng giảng dạy cho chúng sanh ở các thế giới khác.
Vuợt trên mọi sự khao khát của chúng ta, đức Phật sống
trọn cuộc đời vì chúng sinh, suốt 45 năm, hóa độ chúng
sinh bằng lòng từ bi và trí tuệ của Ngài, hướng dẫn chúng
sinh bước lên con đường giải thoát. Điều quan trọng nhất
Ngài nhắc nhở trong kinh Di giáo là phải lấy giáo pháp của
Ngài làm thầy, cho dù Ngài còn tại thế hay không.
Nếu,
theo lời Phật dạy, sự cao quý của chúng ta không thể căn
cứ vào nguồn gốc, chủng tộc, màu da… mà do những gì chúng
ta suy nghĩ và hành động sau khi được sinh ra, thì ý tưởng
truy tìm dòng máu của Jesus trong tác phẩm “Mật mã Da Vinci”
chỉ tạo nên sự hoang mang vô bổ. Chắc chắn, chân lý chắc
thật tự thân nó chứng minh đúng, cho dù có thuộc trực hệ
nào. Hàng đệ tử của Phật đắc quả A la hán xuất thân
từ mọi tầng lớp trong xã hội, từ tầng lớp thượng lưu
đến giai tầng nô lệ. Giác ngộ là một đặc quyền của
chúng ta. Chúng ta có quyền làm cho mình trở nên cao quý bằng
cách tu tập theo Bát chánh đạo. Chúng ta có thể vượt trên
cả thánh, bằng việc thành Phật, những con người toàn diện
về từ bi và trí tuệ.
Với
lời bình trong phim: “Điều chúng ta làm để bảo vệ mình,
là điều chúng ta phải đối diện”. Nếu thế, khi chúng
ta bảo vệ sự ảo tưởng hay những gì trái với sự thật,
tức chúng ta không trung thành với thế giới này và với chính
bản thân mình. Nhưng lối tư duy phi truyền thống và lập
dị về tôn giáo của mình một cách thẳng thắn có luôn luôn
đúng? Trích lại lời Phật: “Chớ có tin vì nghe báo cáo,
chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền
thống, chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng…”
Nguyện cho tinh thần chúng ta luôn sảng khoái, không phải đối
diện với những sự chống đối niềm tin, mà luôn có cái
nhìn khách quan đối với sự tôn sùng của những niềm tin
và làm trong sạch một cách thích hợp. Chúng ta phải học
cách sống với sự khó chịu khi bị nhiễu loạn, mức khó
chịu đủ để chúng ta xem xét lại niềm tin của mình có
thể đứng vững trước sự thử thách của lẽ phải.
Bằng
chứng của những âm mưu có thể gợi ý về một sự thách
thức, nhưng qua thử thách mới biết dở hay – trong sự nghi
ngờ, thực hành, thể hiện giáo lý mà chúng ta tôn quý, như
lời Phật dạy, hãy thử nghiệm lời dạy của Ngài như lửa
thử vàng. Trong vầng mây xám của lịch sử, những cứ liệu
thiếu chính xác do những người chiến thắng trong chiến tranh
và xung đột về quyền lợi viết, thường đối nghịch với
sự thật và dễ bị đánh mất hay bị trộn lẫn với truyện
giả tưởng và truyền thuyết. Trách nhiệm của chúng ta là
nên gạn lọc những điều ảo tưởng để nhận thức chân
lý. Chúng ta có toại nguyện với những sự thật đầy rồi
rắm? Hay có nuôi dưỡng niềm tin của mình được kết tinh
nên bằng sự trong sáng?
Đến
cuối phim, giáo sư Langdon đề cập đến “Những gì chúng
ta quan tâm là điều bạn tin”. Điều đó đúng với cảm
giác rằng, chúng ta không có gì ngoài một mớ lẫn lộn giữa
sai lầm và niềm tin chân chính – và đó là vấn đề của
chúng ta, làm cho nó tốt lên hay xấu đi. Niềm tin, tự nó
không phải là câu trả lời, đặc biệt khi nó được xây
dựng trên những nền tảng không vững chắc, làm cho chúng
ta mù quáng khi tin. Trí tuệ là cần thiết cho việc cân bằng
hai vấn đề này. Như thế, Phật giáo dùng từ thành tín (saddha)
đúng hơn là dùng từ niềm tin. Thành tín giúp khám phá cuộc
kết hôn của niềm tin hợp lý và trí tuệ. Bạn có đủ niềm
tin đối với đạo Phật, hoặc có khi nào bạn nghi ngờ lòng
thành tín của mình? Có thể, đó là vấn đề cuối cùng mà
chuyện phim đã đặt ra. Và, câu trả lời chỉ đến từ bạn,
chỉ có bạn.
Tạp
Chí Giác Ngộ
25.07.2006
12:00