Tựa
đề bài viết này không hề mang một tinh thần kỳ thị nào
khi chỉ đề cập về chú Điệu mà không nói gì về cô Điệu
cả.
Ấy,
đây cũng chính là điểm băn khoăn của tôi khi không dưng
bỗng khởi niệm thắc mắc “ Lạ, sao trong sách vở, văn
chương, ít tìm thấy những giai thoại về “cô Điệu”,
hay gần như là không thấy, không có; hay có rất ít mà tôi
không biết (tôi vốn không biết nhiều thứ !) Ngay cả những
gì về chú Điệu cũng ít được ghi lại, dù từ xưa tới
nay, từ Bắc chí Nam, ít ngôi chùa nào không thấy thấp thoáng
bóng dáng một, hai chú Điệu.
Tại
sao chỉ những chú bé được gửi vào chùa, mà không có những
cô bé ? Chữ “bé” tôi muốn nói ở đây là thật sự bé,
bé từ năm, bẩy tuổi chứ không phải mười ba, mười bốn.
Biết bao chú bé trong tuổi còn quá non nớt đó đã từng được
cha mẹ, thân nhân gửi vào chùa vì đủ mọi loại lý do. Tôi
đã ngồi thừ cả buổi, thử tưởng tượng những lý do này.
Chẳng
hạn, có duyên với Phật. Làm sao người lớn xung quanh biết
chú có duyên với Phật để đưa chú tới cửa Phật ?
Chẳng
hạn, vì nhà nghèo phải mang con cho bớt nên gõ cửa Phật
cũng tốt hơn gõ cửa thế gian ? Nhà nghèo nào chẳng có trai
có gái, sao chỉ đem những chú nhỏ cho chùa mà không đem cô
nhỏ ?
Chẳng
hạn, thấy những điềm biểu lộ Phật tánh như không chịu
ăn thịt, không giết sâu giết kiến. Sao không thấy những
điềm này ở các cô bé, mà chỉ thấy ở những chú bé ?
Tôi
có suy nghĩ lẩn thẩn bao lâu đi nữa, chắc cũng không tìm
nổi câu giải đáp tương đối hợp lý cho mình nên đành
tạm chấp nhận “Chỉ có các chú bé được (hay bị ?) gửi
vào chùa làm Điệu, còn các cô bé đi chỗ khác chơi nên không
thấy danh từ “cô Điệu”. Chờ khi các cô bé lớn thêm
chút nữa, mười tám đôi mươi chẳng hạn, mà vì hạnh nguyện,
cơ duyên nào xuất gia thì sẽ là ni-cô, rồi ni-sư ... v...
v...
Với
tuổi quá nhỏ, nếu còn ở trong gia đình, chắc các chú còn
cần người chăm sóc. Vậy mà vào chùa thì các chú được
học gì và làm gì ? Lẽ dĩ nhiên không phải sư cụ dạy các
chú Pháp Hoa, Bát Nhã ngay mà có lẽ bằng dăm bài dễ nhớ
nhất trong tập “Đồng Mông Chỉ Quán” mở đầu bằng câu
kệ:
Chư
ác mạc tác
Chúng
thiện phụng hành
Tự
tịnh kỳ ý
Thị
chư Phật giáo.
Chắc
là sư cụ sẽ giảng nghĩa ra tiếng Việt, thật đơn giản
để các chú Điệu hiểu được rằng: “Những điều ác,
các con phải nhất định tránh xa, nhất định không làm nhé;
còn những điều thiện thì rất tốt, khi các con được chỉ
cho biết đâu là việc thiện thì hãy tuân lời và thực hành
ngay. Khi các con biết tránh ác, gần thiện là các con đang
tự làm cho tâm mình trong sạch, thanh tịnh. Các con có biết
lời khuyên răn cao quý này là từ đâu không ? Đây là lời
Phật dạy đó, các con ạ”.
Tôi
có thể đoan chắc khi các chú Điệu nhập môn, sư cụ sẽ
từ tốn, điềm đạm mà dạy bảo như thế. Rồi ngày một,
ngày hai, sư cụ sẽ tùy căn cơ các chú mà giảng rộng nghĩa
thêm mỗi câu. Có thể, trong khi học kinh kệ, sư cụ sẽ dạy
kèm thêm dăm ba chữ Hán để chú nào có khiếu sẽ tiếp tục
học thêm, sau này làm vốn liếng khi tra cứu tài liệu kinh
điển.
Ngoài
việc học đó, tôi đoán (lại vẫn đoán, vì tôi ít thấy
sách vở nào ghi lại) là công việc mà các chú được giao,
hẳn là nhẹ nhàng lắm, chẳng hạn như lau bụi các ban thờ,
nhặt lá ngoài sân, đuổi chim đuổi quạ khi chùa phơi thóc
lúa (chùa quê miền Bắc thường phơi thóc lúa ngoài sân)
Quanh
quẩn sinh hoạt như thế từ nhỏ, trong âm thanh chuông mõ sớm
chiều, nếu siêng năng, các chú sẽ là những Sư Chú, rồi
Sư Bác, Sư Ông từ bi, đức hạnh, nối tiếp trách nhiệm
hoằng truyền đạo pháp mà sư phụ để lại. Ngoài sự siêng
năng tu tập, sẽ có những chú Điệu không chỉ dốc tâm học
những gì được dạy mà vì có bản năng vượt trội, các
chú còn tự học thêm trong kho tàng kinh điển, đại dương
chữ nghĩa mênh mông ....
Thỉnh
thỏang Phật tử lại được đọc đôi giòng tiểu sử về
những bậc cao tăng như: “ Ngài xuất gia từ nhỏ ......”
Chỉ 5 chữ đơn sơ, có mấy ai lắng tâm giây lát, bâng khuâng
quán chiếu từ bước chân non nớt của chú Điệu, trải dài
bằng những cố gắng không ngừng, giữ tâm dũng mãnh bất
thối chuyển cho tới hình ảnh nghiêm minh, tôn quý của những
Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức ....
Với
tôi, 5 chữ “Ngài xuất gia từ nhỏ ...” thật kỳ diệu,
vì sau 5 chữ đơn sơ đó là chuỗi thời gian dài, suốt đời
người, ghi đậm bước chân Bồ Tát; kỳ diệu như 4 chữ
“Như thị ngã văn ...”, lời ngài Anan mở đầu mỗi bài
truyền tụng lại lời Đức Phật, vì sau 4 chữ ngắn ngủi
nhưng trang trọng đó là những bài pháp nhiệm mầu, vô giá.
Ấy
thế mà ít sách vở nào ghi lại những bước chân sen âm thầm
nở thơm trên mọi ngả đường quê hương, âm thầm nuôi dưỡng
đời sống tâm linh cho một dân tộc coi trọng giá trị tinh
thần, âm thầm truyền đạo, giữ đạo và hy sinh vì đạo,
khi cần.
Thưa
quý đạo hữu, trong câu chuyện về các chú Điệu, nếu được
hỏi “Chú Điệu nào lừng danh nhất?” chắc chắn chúng
ta phải đồng ý nhất loạt, không thể có ai nói khác được.
Đó là chú Điệu La-Hầu-La, phải không quý vị ? Chú xuất
gia khi mười tuổi, chưa phải là nhỏ nhất trong lịch sử
các chú Điệu nhưng chú có nhiều điểm độc đáo quá ! Với
câu thơ chúng ta thường nghe: “Con Vua thì lại làm Vua. Con
Sãi ở chùa lại quét lá đa”, đối với chú Điệu La-Hầu-La
thì chẳng có câu nào đúng. Chú là cháu Vua nhưng chẳng chịu
làm Vua. Chú là con thầy tu nhưng cũng chẳng phải quét lá
đa. Nếu có câu thơ thứ ba nữa thì có lẽ sẽ đúng khi nói
rằng “Con Phật thì sẽ thành Phật”.
Quả
là như thế. Sau sáu năm khổ hạnh, chứng được Đạo Cả
và du hóa khắp nơi, một mùa Xuân, Đức Phật cùng tăng đoàn
về thăm hoàng gia ở thành Ca Tỳ La Vệ. La-Hầu- La đứng
trên cổng thành, nắm tay mẹ là công nương Da-Du-Đà-La, trong
khi ông nội là Vua Tịnh Phạn cùng quần thần ra tận ngoài
thành đón Đức Phật và tăng đoàn.
Nhìn
thấy tăng đoàn từ xa, La-Hầu-La hỏi mẹ:
- Cha
con đâu
Công
nương âu yếm trả lời:
- Cha
con là ông thầy tu đang đi trước tăng đoàn ba trăm vị đó.
Cha con có gia tài lớn lắm, lát nữa, con hãy hỏi xin cha.
Chính
lần về thăm này, Đức Thế Tôn đã thuyết pháp nhiều lần
cho hoàng gia, quần thần và dân chúng trong thành. Nhiều người
khai mở được màng lưới vô minh, xin được thọ giới, theo
tăng đoàn. Riêng vương tôn La- Hầu-La, những ngày được
gần gũi cha, được chứng kiến sự tôn kính tột cùng của
mọi người đối với cha, chú đã mơ hồ cảm nhận gia tài
vô hình nhưng rất lớn lao mà mẹ chú đã nói. Với trí óc
non nớt, có lẽ chú muốn theo cha chỉ vì cảm thấy quá yêu
mến ông thầy tu này nên không muốn xa cha chứ chưa hẳn cảm
nhận được đạo mầu nhiệm. Nhưng với tuệ nhãn, có lẽ
Đức Thế Tôn đã nhìn thấy trí tuệ và căn cơ của chú
nên sẵn sàng chấp nhận lời cầu xin. Và chú trở thành chú
Điệu đầu tiên trong lịch sử Phật giáo, được trưởng
lão Xá Lợi Phật đích thân chăm sóc, dạy dỗ kỹ càng, nên
năm hai mươi tuổi, chú đã thọ giới Tỳ-kheo, chứng được
Thánh quả A La Hán và cuối cùng được Phật thọ ký để
cùng Chư Phật, Chư Bồ Tát đi trên con đường giác ngộ giải
thoát.
Thưa
quý đạo hữu, tuy La-Hầu-La là chú Điệu lừng danh, nhưng
chúng ta có cần phải dẫn câu chuyện đi xa quá như thế không
? Sao không nói tới những chú Điệu ở gần chúng ta hơn ?
Sao không nói tới chú Điệu bé nhất trong các chú Điệu mà
chúng ta biết ?
Khi
một chú bé còn khóc oe oe đã bị cha mẹ đem bỏ trước cổng
chùa thì chắc không còn chú nào bé hơn. Đó là chú bé được
mang tới trước cổng chùa Cổ Pháp. Chú khóc dữ dội ! Ai
bồng cũng vẫn khóc ! Khi vị trụ trì là sư Khánh Vân bước
ra, bồng chú thì chú im liền, còn nhìn sư, nhoẻn miệng cười
nữa. Sư biết đây là duyên đưa tới, đành vừa bồng chú
vào chùa, vừa ngâm nga:
Con
ai đem bỏ chùa này,
A
Di Đà Phật, con thầy, thầy nuôi.
Sư
lấy họ mình, đặt tên cho chú là Lý Công Uẩn.
Chú
Điệu Công Uẩn được dưỡng phụ là sư Khánh Vân nuôi nấng
và được minh sư là sư Vạn Hạnh dạy dỗ.
Quý
đạo hữu đều giỏi Việt sử hơn tôi nên đã biết rõ cả
rồi. Chú bé bị bỏ trước cổng chùa, thành chú Điệu bất
đắc dĩ, được hai nhà sư nuôi nấng, dạy dỗ, đã trở
thành vị vua khai sáng triều đại nhà Lý suốt hai trăm năm
lịch sử, đem tinh thần từ bi trí tuệ của Đạo Phật mà
giữ nước, trị dân khiến đất nước thái bình, muôn dân
an lạc, chính là Vua Lý Thái Tổ. Mỗi lần mở tới trang sử
này, quý đạo hữu có cảm thấy phảng phất trầm hương
không ? Đó là cõi tâm hương từ chú Điệu Lý Công Uẩn đấy.
Đi
gần thêm một bước nữa, nếu quý vị nào ưa lang thang vào
những trang nhà Phật giáo, có thể thấy được dăm đóa sen
nở dưới bước chân của một chú Điệu cùng thời. Chú
Điệu này, có lẽ mạng ở cung “Di” nên từ nhỏ, chú đã
di chuyển nhiều nơi. Chú sinh trưởng ở Lào, xuất gia từ
thuở còn thơ. Không biết nơi chùa Lào, chú được dạy kinh
bằng ngôn ngữ gì nhưng chính những vị Tăng thân cận kể
lại rằng, ngoài thì giờ phải lo công việc của một chú
Điệu là châm dầu vào đèn, lau chùi ban thờ, thỉnh chuông,
quét lá, chú thường chui dưới bệ thờ Phật, cắm cúi học.
Chú tự sưu tra để hiểu nghĩa từ kinh, luật, luận. Chú
ghi, chú chép, chú lầm thầm học thuộc những bài chú từ
nguyên bản tiếng Phạn. Chú học quên ăn, quên ngủ khiến
quý thầy ở chùa Lào hoảng sợ, biết rằng trong bộ óc non
nớt kia đã sẵn chứa một trí tuệ tuyệt luân mà quý thầy
tự biết sẽ không đủ tài trí dạy dỗ chú. Quý thầy bèn
thỉnh ý chư Hòa Thượng ở Việt Nam, xin gửi chú về để
chú được hướng dẫn đúng mức. Đó là cơ duyên chú Điệu
bé bỏng sinh Lào, trưởng Việt.
Tới
Việt Nam, chú được đưa ngay về Huế, nơi được coi là
cái nôi Phật giáo. Tại đây chú được nhận pháp danh là
Nguyên Chứng và được Chư Hòa Thượng trực tiếp chăm sóc.
Chú Điệu Nguyên Chứng như cá kình được thả về đại
dương, như chim phượng hoàng được tung cánh trên không gian
bao la, như gió, như mây, thong dong khắp mười phương ba cõi
và trí tuệ siêu việt tỏa sáng mênh mang. Trên con đường
tự học, chú rất kính ngưỡng và khâm phục ngài Tuệ Trung
Thượng Sỹ, đến mức, chú đã xin phép bổn sư để được
tự đặt tên mình là Tuệ Sỹ, lấy từ chữ đầu và chữ
cuối tên vị thiền sư danh tiếng đời Trần.
Từ
khi mang pháp danh này, chú không còn là chú Điệu Nguyên Chứng
năm xưa nữa.
Ngay
ở tuổi niên thiếu, Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ đã là ngôi
sao sáng trên bục giảng các Đại Học Phật đường, phụ
trách những chương trình gay go về giáo pháp như Triết học
Tánh Không, Trung Quán Luận, A Tỳ Đạt Ma, Đại Cương Thiền
Quán; rồi qua tư tưởng triết học Tây phương, Đông phương,
văn học Trung Hoa và các bộ môn nghệ thuật. Không gian như
vô tận, thế gian như vô bờ khi cánh cửa tâm linh tràn đầy
từ bi và trí tuệ đã bật mở.
Với
hạnh nguyện Bồ Tát vào đời cứu độ chúng sanh,
Với
đại nguyện “Đời ác ngũ trược con xin thề vào trước”,
Với
tâm nguyện trao truyền Đạo Pháp cho hàng hậu học,
Thượng
Tọa Thích Tuệ Sỹ đã được cả thế giới biết đến qua
tinh thần Bi Trí Dũng.
Thượng
Tọa Thích Tuệ Sỹ đã và đang đi trên con đường Phật đi.
Chúng
con xin cúi đầu đảnh lễ những chú Điệu từ năm xưa cho
đến ngày nay, những chú Điệu âm thầm mang tinh thần “ba
Y, một Bát”, bôn ba hoằng pháp dưới bất cứ phương tiện
nào có thể được, để ĐẠO thấm vào đất, PHÁP hòa vào
sông. ĐẤT và NƯỚC thì muôn đời còn đó, sức mạnh nào
mà tiêu diệt được.
Nam
Mô Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật Thế Tôn.
Diệu
Trân
(Như-Thị-Am,
tháng tám 2006)