| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
c
LỜI
NGƯỜI DỊCH
Đạo
Phật có phải là một tôn giáo không? Một số người khi
nghe nói đến đạo Phật thì nghĩ rằng tư tưởng và hành
động của tôn giáo này yếm thế, thiếu tích cực vì hình
dung đến các thầy tu tham thiền nhập định, ẩn dật tại
các chùa chiền hẻo lánh trên núi cao rừng thẳm. Thiển kiến
trên đây hoàn toàn sai lầm, không đúng với thực tế. Đạo
Phật tuy là một tôn giáo nhưng khác hẳn với các tôn giáo
khác. Đạo Phật lấy quan điểm thực tế đối với cuộc
đời và thế giới.
Tiến
Sĩ K. Sri Dhammananda, một học giả uyên bác và cũng là Đại
Lão Hòa-Thượng Tăng Thống Mã Lai – Tân Gia Ba, tác giả cuốn
sách này, chứng minh rõ quan điểm cũng như việc triển khai
của đạo Phậttrên
tất cả mọi lĩnh vực của đời sống hiện tại như tư
tưởng về xã hội, kinh tế, an sinh, khoa học, môi sinh v..v..
Nhờ
thiện duyên chúng tôi được Hòa Thượng tặng cho cuốn sách
quí giá này và khuyến khích chúng tôi phát tâm dịch thuật.
Tự
biết khả năng yếu kém, kiến thức thô thiển nhưng với
tấm lòng nhiệt thành chúng tôi cố gắng dịch ra Việt ngữ
hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào kho tàng văn hóa Phật
Giáo Việt Nam và cũng để đền đáp công ơn sâu dày của
các bậc Thầy Tổ trong muôn một. Chúng
tôi xin hồi hướng công đức hoằng pháp này lên Ngôi Tam
Bảo và cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo thùy từ gia hộ Quí
vi. Cùng Bửu quyến thân tâm thường an lạc và hạnh phúc. Sau
cùng chúng tôi kính mong chư tôn thiền đức, pháp hữu ân
nhân, các bậc thức giả cao minh, vui lòng bổ chính cho những
sai lầm thiếu sót để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong
kỳ tái bản.
TỲ
KHEO THÍCH TÂM QUANG
TIỂU
SỬ TÁC GIẢ
Hòa
Thượng Tiến Sĩ K. Sri Dhammananda Maha Nayaka Thera, Trưởng Lão
Tăng Già Mã Lai Á, sanh ngày 18 - 03 -1919 tại làng Kirinde, Matara
phía nam Sri Lanka (Tích Lan ).
Khi
ngài 12 tuổi, Ngài thọ giới Sa Di và tiếp tục chương trình
tu học 10 năm trước khi thọ đại giới tỳ kheo ( bikkhu )
vào năm 1940.
Sau
10 năm tu học chuyên về giáo lý của Đức Phật tại các
Tu viện Sri Dhammarama, Privena, Ratmalana, Vidyawardhana, tại Colombo,
Vidyalankara Pirivena tại Peliyagoda, Kelaniya, một Đại học Phật
Giáo rất có uy tín, năm 26 tuổi Ngài tốt nghiệp văn bằng
Ngôn ngữ học, Triết lý và Qui tắc Pali.
Năm
1949, Ngài tốt nghiệp cao học triết lý Ấn Độ sau bốn năm
học tập tại Đại học Ba La Nại ( Benares ) tại Ấn Độ. Tại
Kotawila ( Sri Lanka), Ngài thiết lập viện “Sudharma” huấn
luyện giáo dục, an sinh và nhu cầu tôn giáo xã hội cho quần
chúng. Ngài cũng phát hành tam-cá-nguyệt tạp chí bằng tiếng
Tích Lan (Singhalese). Năm
1952, trong số 400 Thầy tu trẻ tại Viyalanka Pirivina, Ngài được
tuyển chọn đi phục vụ Mã Lai Á vì nơi đây cần một nhà
hoằng pháp Giáo Lý Phật Đà. Nhờ
có sự cố gắng hoằng pháp của Ngài, nhiều người Hoa trong
nước nhận thức được giáo lý chân thật của Đức Phật,
Ngài nhận được rất nhiều thư của các người Hoa trẻ
có học thức rành Anh ngữ trên khắp cả Mã Lai tán dương
Ngài vì đây là lần đầu tiên trong đời họ đã hiểu được
sự thật giáo lý Phật Đà. Rồi Ngài khai sáng tờ báo “
Tiếng Nói Của Phật Giáo” cho đến bây giờ vẫn đều đặn
xuất bản một năm hai kỳ bởi Hội Truyền Giáo. Ngài là
tác giả của những cuốn sách rất phổ thông như “ Người
Phật Tử Tin Gì “, “ Làm Thế Nào Để Sống Khỏi Sợ Hãi
Và Lo Lắng “ ,“
Hạnh Phúc Lứa Đôi “, “ Nhân Loại Tiến Về Đâu”, và
“ Thiền Định – Con Đường Duy Nhất “. Do
những thành quả của các hoạt động hoằng pháp và giáo
dục của Ngài, Ngài được suy tôn “ Tăng Thống “ Giáo
Hội Siam Maha Nikaya, Malwatta, tại Mã Lai năm 1965 và được
tặng cấp bằng Tiến Sĩ Danh Dự của các Đại học Dharma
Realm, Đại học Đông Phương ( Hoa Ky`), Đại học Nalanda, Đại
học Ba La Nại ( Benares), và Đại học Pali của Tích Lan. Ngài
cũng được ân thưởng tước vị Hoàng gia Johan Setta Mahkota
bởi Hoàng đế Mã Lai. Kết
quả tốt đẹp của Hòa thượng trong việc phục vụ cho cộng
đồng Phật giáo không những trong phạm vi Mã Lai mà cũng cho
tất cả thế giới bởi những ai cảm nhận được sự nhiệt
thành không chút vị kỷ của Ngài để hoằng dương Phật
Pháp. ĐẠO
PHẬT VÀ ĐỜI SỐNG HIỆN TẠI Trên
thế giới đã có nhiều tôn giáo, tại sao lại còn cần thiết
cho chúng ta có một đạo khác nữa gọi là Đạo Phật? Phải
chăng có cái gì thật đặc sắc hay có một sự đóng góp
hay một đặc tính đáng kể tìm thấy ở Đạo Phật mà các
đạo khác không có? Có một trường dạy về tư tưởng nói
rằng tất cả các tôn giáo chủ yếu đều giống nhau. Không
có gì khác biệt đáng kể. Cái khác biệt duy nhất là trong
sự thuyết minh và thực hành. Sau hết, trong phân tích cuối
cùng, chúng ta đều đến tại một nơi : thiên đường hay
địa ngục. Đó là niềm tin thông thường của hầu hết các
tôn giáo. Đạo
Phật có cùng một quan điểm đó không? Để trả lời câu
hỏi này chúng ta hãy nghiên cứu tôn giáo được định nghĩa
ra sao. ĐỊNH
NGHĨA Theo
nghiên cứu về văn học, từ ngữ “tôn giáo”, một
hiện tượng trong lịch sử có thể xét về nhiều mặt khác
nhau : như một kinh nghiệm nội tâm, như một khoa thần học
hay một công thức tinh thần của một học thuyết, như một
nền tảng hay căn bản đạo đức, một yếu tố của văn
hoá. Nhiều học giả đã cho những quan điểm và ý kiến khác
nhau về bản chất và ý nghĩa. Theo
Aldous Huxley (1), tôn giáo là, giữa các sự việc, một hệ
thống giáo dục, bằng các phương tiện, con người có thể
tự mình huấn luyện lấy mình, trước nhất là thay đổi
cái mình mong muốn cho chính nhân cách mình và trong xã hội,
thứ hai là nâng cao lương tri và thiết lập quan hệ đầy
đủ giữa con người và vũ trụ mà họ là thành phần trong
đó. Những nhà triết học tiên tiến Ấn như Tiến sĩ Radhakrishnan
(2) giải thích luận đề cho là tôn giáo không phải một mớ
chủ nghĩa, nhưng tôn giáo là kinh nghiệm. Kinh nghiệm tôn giáo
căn cứ trên ý thức sự “hiện hữu thần linh trong con
người”. H.G Wells (3) cho rằng “tôn giáo là trung tâm
của giáo dục xác định luân lý phẩm hạnh của chúng ta”.
Nhà
Triết học Đức Kant (4), cho rằng “tôn giáo thừa nhận
luân lý căn bản như luật lệ không được vi phạm”. Thông
điệp của Đức Phật tức con đường tôn giáo của cuộc
đời : “Hãy tránh xa tất cả những hành động tội lỗi,
trau dồi cuộc sống bằng những hành động tốt, thanh lọc
tâm trí khỏi những ý nghĩ bất tịnh”. Theo
định kiến của chúng tôi, tôn giáo có thể giải thích trong
một ý nghĩa rộng như một nền tảng của luân lý và
giáo lý triết học được chấp nhận với lòng tin tưởng
vào giáo lý ấy. Theo nghĩa trên, đạo Phật là một tôn giáo. Tuy
nhiên, đạo Phật không giống chút nào với các tôn giáo thông
thường đại cương nói trên đây. Đạo Phật cũng không có
những đặc tính chung với những tôn giáo hiện hữu trong
nhiều chiều hướng. Để cứu xét vấn đề sau này, chúng
tôi xin được trước tiên nghiên cứu ngắn gọn tôn giáo
đã có thể xuất hiện như thế nào.
Tại
sao tôn giáo đã bắt nguồn? Quí vị có thể đã nghe nguồn
gốc tôn giáo nằm trong sự sợ hãi của con người, và trong
sự bất an. Vào thời gian trước khi tôn giáo được tổ chức,
người dân không đủ kiến thức và cũng không hiểu nổi
thực chất của đời sống và cái gì đã xảy ra cho họ sau
khi chết. Họ cũng không hiểu nổi cả đến những hiện tượng
thiên nhiên hay những biến cố thiên nhiên. Theo sự hiểu biết
hạn hẹp của họ, họ nghĩ chắc chắn phải có những sức
mạnh “không biết đến” đã tạo thành những việc vừa
ý hay không vừa ý. Ngẫu nhiên, họ nhận thấy có một năng
lực sau các sức mạnh thiên nhiên mà họ gọi là “shakti”.
Họ
chứng nghiệm một ý thức kinh hãi, sợ sệt không thể giải
thích nổi về những sức mạnh đó mà họ cảm thấy có thể
làm hại họ được.
Cho
nên họ nghĩ rằng các sức mạnh đó phải được xoa dịu
và sử dụng để che chở họ hay ít nhất không đụng đến
họ. Không tin về khả năng có thể “nói chuyện” với
các sức mạnh đó bằng ngôn ngữ bình thường, họ nghĩ rằng
có thể diễn đạt thông điệp của họ trong thầm nín. Cuối
cùng những hành động ghi nhận sức mạnh này trở thành nghi
thức trong những dạng thức sùng bái. Một số người xem
như có thần thông đặc biệt để truyền đạt với các sức
mạnh ấy và những người này vui hưởng quyền uy lớn lao
trong nhóm.
Sau
khi sùng bái và cầu nguyện, những người thưở xưa nghĩ
rằng họ có thể kiểm soát được những biến cố có hại
và cũng đồng thời bảo đảm được mức độ che chở như
một phần thưởng từ những sức mạnh và năng lực vô hình.
Để giúp họ có thể mường tượng hữu hiệu hơn đến những
sức mạnh ( vô hình ) mà họ đang cố truyền đạt đến,
họ đặt tên, hình dung một hình ảnh cho mỗi sức mạnh –
hoặc hình dạng giống người hoặc hình dạng kỳ lạ không
giống người, nhưng luôn luôn gợi lên một hình ảnh kinh
hãi, sợ sệt.
Rồi
thời gian qua, họ quên hẳn ý nghĩa thực sự của các hình
ảnh tượng trưng ấy và cho những hình ảnh ấy là thực
và chấp nhận như là các thiên thần. Có
những văn hoá biến những ý tưởng và quan niệm thành những
hình dạng và khai triển các nghi lễ đặc biệt tôn vinh, sùng
bái các hình ảnh ấy như các Đấng Thiêng liêng. Dần dà,
khi các châu thị định cư lúc sơ khai bắt đầu việc thực
hiện an ninh xã hội, thấy cần thiết áp dụng một số thực
hành làm căn bản để mở mang luân lý, cư xử và để hướng
dẫn người công dân đúng đường lối và đảm bảo hạnh
phúc cộng đồng. Do đó các quan niệm như nhân đạo, trách
nhiệm của con người, và giá trị nhân bản như thành thực,
hảo tâm, từ bi, nhẫn nại, khoan dung, chân thành, đoàn kết
và hài hoà được khuếch trương . Để
đảm bảo cho các đức tính đó được nâng cao, các nhà lãnh
đạo áp đặt sự kinh hãi vào những đệ tử của mình và
hăm doạ họ sẽ bị trừng phạt đời sau này bởi các đấng
thiêng liêng nếu không tuân hành. Tôn giáo là kết quả hỗn
hợp của phẩm hạnh luân lý và lòng tin tưởng siêu nhiên.
Chúng tôi sẽ bàn về luân lý tỉ mỉ hơn ở phần sau. QUAN
NIỆM VỀ THƯỢNG ĐẾ Trên
đây cho thấy sự tưởng tượng và nhân đạo ngẫu nhiên
hỗn hợp với nhau tạo thành tôn giáo. Một số người nói
rằng thật khó để có thể tin là một đấng thiêng liêng
nào đó đã tạo ra tôn giáo. Có lẽ chúng tôi cũng có thể
nói con người tạo ra tôn giáo và sau đó giới thiệu quan
niệm đấng thiêng liêng vào tôn giáo. Một triết gia Hoa Kỳ,
giáo sư Whitehead (5), một lần đã tuyên bố nguyên thủy con
người tạo ra đấng thiêng liêng và sau đó đấng thiêng liêng
tạo ra người. Cái mà ông ta muốn giải thích là quan niệm
về đấng thiêng liêng do con nguời tạo ra và sau đó quan niệm
này biến thành thần thánh. Mặt khác, một triết gia Pháp,
Anatole France (6), nói nếu quan niệm về đấng thiêng liêng
không có, con người phải tạo một vị bởi lẽ rất cần
thiết cho tâm linh con người. Thế lực thần quyền cần thiết
để làm dịu bớt sợ hãi trong nội tâm, nghi ngờ, lo lắng,
bực dọc, băn khoăn, dục vọng. Để tránh các phiền não,
chúng ta phải trông vào một tha lực để chúng ta được an
ủi. Hiểu biết bản chất tâm linh con người, cho nên Anatole
France đã nói nếu không có đấng thiêng liêng, chúng ta phải
tạo ra một đấng thiêng liêng. Trong
ý nghĩa ấy chúng ta chỉ như trẻ nít. Khi em nhỏ đang khóc
và người mẹ đang bận rộn không bế em được, cái người
mẹ làm ngay là đưa vào miệng em một núm vú khiến em thoải
mái và em nín ngay. Quan niệm về đấng thiêng liêng cứu giúp
con người cũng như vậy. Để con người ngưng phiền muộn
và nước mắt khóc than ngưng chảy, người ta đã triển khai
mọi cách đem an lạc dưới những hình thức niềm tin tôn
giáo và hành đạo. ĐỨC
PHẬT Trong
bầu không khí tôn giáo như vậy, Đức Phật xuất hiện. Là
một thái tử sống trong cảnh xa hoa, Ngài bắt đầu suy tư
sâu xa tại sao chúng sanh lại đau khổ trên cõi đời này.
Cái gì là nguyên nhân của khổ đau? Ngài tự hỏi. Một
hôm Ngài ngồi dưới một gốc cây khi Ngài còn là một thiếu
niên, Ngày nhìn thấy một con rắn bất thình lình xuất hiện
và bắt một con nhái.Trong
lúc con nhái và con rắn đang tranh đấu với nhau, một con diều
hâu từ trên trời xà xuống và bắt con rắn trong khi con rắn
còn đang ngậm con nhái trong miệng. Sự
việc này là khúc ngoặt của vị thái tử trẻ tuổi để
từ bỏ cuộc đời trần tục. Ngài bắt đầu nghĩ ngợi làm
sao cho chúng sanh trên mặt đất cũng như dưới nước thoát
cảnh làm mồi cấu xé ăn thịt lẫn nhau. Đời sống này đang
cố tranh cướp đời sống kia, đời sống nọ đang cố vẫy
vùng để thoát hiểm, cuộc tranh chiến bất tận này cứ thế
tiếp diễn mãi theo thời gian khi thế giới còn tồn tại.
Phương pháp săn mồi bất tận này, và phương pháp tự bảo
vệ này là căn nguyên niềm bất hạnh của chúng ta. Đó là
nguồn gốc khổ đau. Thái tữ quyết định phải tìm phương
thức để chấm dứt khổ đau này. TỪ
BỎ THẾ TỤC Ngài
nghiên cứu học hỏi nhiều thầy của nhiều tôn giáo khác
nhau và thấy tất cả những gì các vị thầy đã dạy cũng
không thể tìm được phương cách chấm dứt khổ đau. Ngài
đã bỏ nhiều năm tháng suy tư về câu hỏi này. Cuối cùng
vào năm Ngài 29 tuổi, chứng kiến cảnh già, bệnh, chết và
niềm tự do qua việc từ bỏ (thế tục), Ngài quyết định
nếu không bỏ mối bận tâm, trách nhiệm và dục lạc của
cuộc đời trần tục thì Ngài sẽ không thể tìm được câu
trả lời. Cho nên tại sao Ngài rời bỏ cung điện thực hiện
cái được gọi là “Sự Từ Bỏ Vĩ Đại”. Sau sáu
năm phấn đấu, thời gian tiêu biểu cực điểm của dòng
đời bất tận, trau dồi và phấn đấu để mở mang trí tuệ,
cuối cùng Ngài đạt được giác ngộ và hiểu được bí
mật sự khổ đau của chúng ta. Đó làsự tiên khởi của
một “hệ thống tôn giáo” khác. Nhưng đó là một
tôn giáo không giống bất cứ tôn giáo nào con người từng
biết trong quá khứ. Thật
ra hiện tại có nhiều người không thích gọi đạo Phật
là một tôn giáo, vì lẽ chữ “tôn giáo” gợi lên một
số lớn các xúc cảm tiêu cực trong tâm trí họ. NIỀM
TIN VÀ SỰ HÀNH ĐẠO TẠI ẤN ĐỘ THỜI CỔ Không
có lý do nào cho Đức Phật lại giới thiệu thêm một tôn
giáo nữa vì vào thời đó, 2600 năm trước đây, riêng tại
Ấn đã có đến 62 tôn giáo. Những tôn giáo hiện hữu trong
thời gian đó đã không thể giải đáp đượccâu
hỏi của Đức Phật nên ngài quyết định không dùng các
chất liệu hay quan niệm của các tôn giáo đó để trình bày
những gì chính Ngài đã đạt được. Trong
thời gian đó, các tôn giáo tại Ấn nghĩ gì ? “Thượng
đế tạo ra tất cả mọi người. Thượng đế chịu trách
nhiệm tất cả mọi việc. Thượng đế ban thưởng và tha
thứ tội lỗi của chúng ta. Thượng đế chịu trách nhiệm
về cuộc đời chúng ta sau khi chúng ta chết ; Thượng đế
sẽ cho ta lên thiên đường hay bắt ta xuống địa ngục”. Trên
đây là những chất liệu căn bản của tất cả các tôn giáo
thời đó và ngay cả hiện tại nữa. Đồng thời cũng có
một số tôn giáo tại Ấn dạy các tín đồ mình phải hành
hạ thể xác, cho rằng làm như vậy có thể rửa sạch tội
lỗi trong cuộc sống và có thể lên thiên đàng sau khi chết.
Một số tôn giáo khác lại cổ vũ việc dùng nghi thức, nghi
lễ và đem hy sinh các súc vật dâng cúng để làm vừa lòng
các đấng thiêng liêng. Những người theo tôn giáo trên tin
tưởng là làm như vậy sẽ được lên thiên đường. Một
số tôn giáo khác lại dùng cách thức cầu nguyện, lễ bái,
xin được tha thứ các tội lỗi họ đã phạm. Đức
Phật không công nhận hiệu quả của các việc hành đạo
này. ĐỨC
PHẬT CÓ HỨA HẸN GÌ KHÔNG ? Đức
Phật không hứa hẹn hạnh phúc tuyệt đối hay ban thưởng
cho những ai tự nhận là tín đồ của Ngài và Ngài cũng không
hứa hẹn cứu rỗi cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài. Với
Ngài, tôn giáo không phải là sự mặc cả, mà là con đường
sống cao thượng để đạt đến giác ngộ và giải thoát.
Đức Phật không muốn các tín đồ của Ngài tin tưởng trong
mù quáng. Ngài muốn chúng sanh phải biết suy nghĩ và thấu
hiểu. Phật Giáo là con đường cao thượng cho đời sống
mà nơi đó, nhân đạo, bình đẳng, công bằng và an lạc chiếm
vị trí tối thượng. Cừu hận, ác cảm, chỉ trích, và oán
giận hoàn toàn xa lạ với Giáo Lý của Ngài. Thế
giới mang ơn Đức Phật do việc Ngài nêu cao sự hợp lý chống
lại những dị đoan trong tôn giáo. Phải chăng chính Ngài đã
giải thoát con người khỏi vòng áp chế của các thầy tu?
Phải chăng chính Ngài là nguời đầu tiên chỉ con đường
giải thoát cho con người thoát khỏi những sợi dây trói buộc
của đạo đức giả và của chính sách độc tài trong tôn
giáo? Trong
thời gian Đức Phật tại thế không có việc hành đạo nào
được coi là cao hơn tập tục lễ nghi và việc đem tính mạng
của chúng sanh cúng cho các đấng thiêng liêng ; nhưng với
Đức Phật, không có việc hành đạo nào có thể làm mất
phẩm giá con người hơn thế . Việcđem
sanh mạng làm vật hy sinh không khác gì hơn là việc hối lộ
; và sự cứu rỗi bằng hối lộ, tham nhũng không phải là
sự cứu rỗi mà bất cứ con người tự trọng nào lại muốn
có. THUẬT
NGỮ TRONG TÔN GIÁO Nhưng
trong khiđem trình bày giáo
lý, đức Phật đã dùng những từ ngữ tôn giáo thông dụng
tại Ấn thời đó vì lẽ bằng cách này Ngài trở nên gần
gũi với những người nghe. Những người này hiểu rõ được
Ngài muốn ám chỉ đến gì và Ngài có thể triển khai ý nghĩa
căn bản của Ngài từ một lập trường đại chúng. Pháp,
Nghiệp, Niết Bàn, Giải Thoát, Địa Ngục, Luân Hồi, Ngã
là những chữ rất thông dụng trong tất cả các giáo phái
thời đó. Nhưng trong giáo lý của Ngàiù, Đức Phật đã giảng
dạy những từ đó với ý nghĩa độc đáo và hết sức hợp
lý . PHÁP Chúng
ta thử xem chữ dharma hay dhamma (Pháp). Giải nghĩa theo lối
cổ, Pháp có nghĩa là luật ban bởi đấng thiêng liêng. Theo
niềm tin thời cổ, đấng thiêng liêng hứa thỉnh thoảng,
với nhiều hoá thân khác nhau, sẽ xuất hiện để bảo vệ
Pháp. Đức Phật không chấp nhận đấng thiêng liêng nào đó
có thể ban giáo lý, lời răn, và giới luật tôn giáo. Đức
Phật dùng chữ Pháp để mô tả toàn bộ giáo lý của Ngài,
Pháp có nghĩa là giữ vững, gìn giữ, hỗ trợ. Đức
Phật dạy Pháp để giúp chúng ta thoát khỏi khổ đau do nguyên
nhân cuộc sống và để khỏi mất giá trị nhân phẩm và
khỏi rơi vào nơi khổ đau như địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ,
địa hạt của ma vương. Pháp trình bày bởi Đức Phật, gìn
giữ , hỗ trợ chúng ta, và giải thoát chúng ta khỏi cảnh
khổ não tại các nơi trên. Pháp cũng có nghĩa là nếu chúng
ta theo những phương pháp do Ngài đề ra, chúng ta không bao
giờ bị sa vào những trường hợp bất hạnh như bị mù ngay
từ lúc mới sinh ra, tàn tật, điếc, câm hoặc điên dại.
Cho nên theo phương pháp của đức Phật, Pháp là lời khuyên
để giúp chúng ta tranh đấu thoát khỏi khổ đau và cũng để
nâng cao phẩm hạnh của con người. Các nhà triết học phương
Tây mô tả Phật giáo là một lối sống cao thượng, một
“
tôn giáo tự do và hữu lý” Pháp
không phải là một luật lệ phi thường tạo ra hay ban bố
bởi người nào đó. Thân thể của chính chúng ta cũng là
Pháp. Tư tưởng của chúng ta cũng chính là Pháp; tất cả
vũ trụ này cũng là Pháp. Hiểu được bản chất thân thể
vật lý của chúng ta, tính chất tư tưởng của chúng ta và
những điều kiện trần thế, chúng ta nhận ra Pháp. Đức
Phật dạy chúng ta hiểu bản chất sự hiện hữu của chúng
ta một cách hợp lý theo đường lối thực tế. Nó liên quan
đến cuộc sống ngay đây và bây giờ, của mỗi chúng sanh
và như thếù tương quan đến mọi sự hiện hữu. Thường
thường, khi nói đến tôn giáo, người ta thường hỏi “Tín
ngưỡng của Quí vị là gì ?”. Họ dùng chữ“tín
ngưỡng”. Đức Phật không lưu tâm đến việc triển khai
“tín ngưỡng” theo đúng nghĩa của nó, dù rằng rất là
hữu ích trong việc mở mang “tín ngưỡng” để phát triển
một tôn giáo lúc ban đầu. Cái nguy hiểm khi chỉ tin cậy
vào “tín ngưỡng” mà không có kiến thức phân tích, có
thể làm chúng ta trở thành cuồng tín. Những ai để tín ngưỡng
kết tinh trong tư tưởng của họ sẽ không nhìn thấy quan
điểm của người khác bởi lẽ họ đã khắc sâu vào tư
tưởng của họ chỉ cái gì họ tin mới là chân lý. Đức
Phật nhấn mạnh một người không nên chấp nhận cả đến
giáo lý của chính họ chỉ trên nền tảng bằng tín ngưỡng
không thôi. Một người phải có kiến thức, mở rộng tầm
hiểu biết qua nghiên cứu, bàn cãi, thiền định, và cuối
cùng : sự suy gẫm. Kiến thức là một việc, hiểu biết là
một việc khác nữa. Nếu có hiểu biết, người ta có thể
điều hoà cuộc sống theo các trường hợp biến chuyển dựa
theo sự hiểu biết mà người ta có. Chúng
ta có thể gặp nhiều người học thức hiểu biết rất nhiều
việc nhưng không thực tế bởi lẽ lòng vị kỷ chỉ nghĩ
đến mình, ích kỷ, sân hận và ganh tị của họ đã khiến
họ không có thái độ tinh thần vô tư và an lạc trong tư
tưởng. Khi cần thoả hiệp, chúng ta phải biết thoả hiệp
như thế nào. Khi cần khoan dung, chúng ta phải biết khoan dung
như thế nào. Khi cần giữ vững lập trường, chúng ta phải
biết giữ vững lập trường trong phẩm hạnh. NGHIỆP Chúng
ta hãy lấy một thí dụ khác, chữ Karma hay Kamma (Nghiệp).
Chữ này có nghĩa đơn giản là hành động. Nếu một người
có hành động xấu thì người này không thể tránh được
hậu quả xấu. Bằng cách này hay cách khác, ông hay bà đó
phải đương đầu với hậu quả xấu theo sau. Đấng
thiêng liêng phạt kẻ có hành động xấu, thưởng kẻ có
hành động tốt, đức Phật không chấp nhận niềm tin như
vậy. Ngài nói không một ai hay sức mạnh nào nắm giữ việc
điều động thi hành những tác dụng của nghiệp. Chính nghiệp
tự nó phát xuất ra kết quả như một tác động trung lập
của luật nhân quả. Ngài nói chúng ta có thể tránh, trong
một số trường hợp chúng ta có thể vượt khỏi tác dụng
của nghiệp nếu chúng ta hành động khôn ngoan. Ngài dạy chúng
ta không bao giờ tự chúng ta đầu hàng nghĩ rằng là định
mệnh khi chúng ta đã làm một hành động xấu và không còn
hy vọng gì nữa. Các tôn giáo khác dạy là đấng thiêng liêng
có thể vô hiệu hoá tác dụng của nghiệp bằng tha thứ nếu
tín đồ sùng bái, cầu nguyện và hy sinh. Nhưng Đức Phật
dạy rằng chúng ta phải tìm sự cứu rỗi của chúng ta bằng
sức cố gắng riêng của chúng ta và sự thanh tịnh tinh thần. “Đức
Phật có thể bảo chúng ta phải làm gì nhưng Ngài không thể
làm công việc đó thay chúng ta”. Chúng ta phải tự mình làm
công việc cứu rỗi cho chính chúng ta. Đức Phật dạy rõ
ràng không ai có thể làm thế việc cứu rỗi cho người khác
ngoại trừ chỉ dẫn con đường phải làm. Cho nên chúng ta
không nên ỷ lại vào đấng thiêng liêng, và cũng không ỷ
lại vào cả Đức Phật nữa. Chúng ta phải hiểu được những
gì là phẩm hạnh, nhiệm vu,ï trách nhiệm của một con người.
Ngài nói nếu chúng ta phạm một nghiệp xấu, chúng ta không
nên phí năng lực quí báu của mình bằng việc trở nên hoảng
sợ hay thất vọng trong việc cố điều chỉnh lại cho đúng. Việc
trước tiên phải làm là quyết định chấm dứt ngay việc
tái diễn nghiệp xấu đó bởi hiểu rõ nguy hại do nó gây
ra. Thứ hai là phải đào luyện nhiều thêm nữa các nghiệp
tốt. Thứ ba là chúng ta phải giảm thiểu tư tưởng tội
lỗi, ích kỷ, oán ghét, nóng giận, ghen tỵ, thù hận và ác
ý. Làm theo con đường này, chúng ta có thể giảm thiểu hậu
quả của nghiệp xấu mà ta đã phạm. Đó là phương pháp
của Đức Phật để vượt qua các nghiệp xấu. Ngài
không dạy là phải cầu nguyện và sùng bái Ngài để được
Ngài tha thứ cho các tội lỗi của chúng ta. Thanh tịnh hay
ô nhiễm trong tư tưởng của chúng ta tùy thuộc nơi chúng
ta. Không một đấng thiêng liêng nào, Phật hay một chúng sanh
nào có thể làm ô nhiễm hay thanh tịnh tư tưởng của chúng
ta. Tôi không thể tạo sự bất tịnh cho quí vị, tôi không
thể thanh tịnh hoá được tư tưởng quí vị. Nhưng theo lời
tôi và hành động của tôi, quí vị có thể tạo thanh tịnh
hay bất tịnh chính nơi quí vị. Người ngoài không thể làm
gì cho tư tưởng quí vị nếu quí vị có một tư tưởng mạnh
mẽ để đối kháng. Cho nên tại sao kiến thức và sự hiểu
biết lại quan trọng. Đức
Phật dạy cái cần thiết cho hạnh phúc con người không phải
là tôn giáo hay một mớ lý thuyết mà là sự thấu hiểu trật
tự , bản tính của vạn vật và tác động đầy đủ của
nó theo luật nhân quả. Cho đến khi việc đó được thấu
triệt hoàn toàn, sự hiểu biết của con người về cuộc
sống và vạn vật vẫn không trọn vẹn và sai lầm. “Con
đường mà Đức Phật chỉ cho chúng ta, theo tôi tin, là con
đường duy nhất nhân loại phải đi theo để tránh khỏi thảm
hoa.”. Jawaharial Nehru (7) NIẾT
BÀN Đức
Phật không bao giờ tuyên bố là đã tạo ra Pháp. Cái mà Ngài
khám phá ra là chân lý phổ quát của bản chất xác thực
của sự hiện hữu. Thật ra một số từ ngữ tôn giáo đã
được biết tại Ấn độ thời đó. Nhưng điều vô song của
Ngài là dùng những quan niệm sẵn có, bổ khuyết nghĩa lý
sáng suốt hơn và sâu xa hơn. Thí
dụ, trước thời Đức Phật, Niết Bàn ( Nirvana hay Nibbana)
đơn thuần chỉ có nghĩa là an lạc hay dập tắt. Nhưng Ngài
định nghĩa rộng ra. Niết (Ni) có nghĩa “Không” và “Bàn”
(Vana) có nghĩa dục vọng : Không còn dục vọng, không còn
luyến ái, và không còn vị kỷ. Chúng ta không thể chứng
nghiệm được Niết Bàn vì chúng ta còn dục vọng, luyến
ái và vị kỷ. Khi chúng ta đã quét sạch được những tính
xấu nhơ bẩn này, chúng ta sẽ chứng nghiệm hạnh phúc Niết
Bàn. Thật khó khăn để chúng ta chứng nghiệm được chân
hạnh phúc vì chúng ta có những cảm xúc, và chúng ta còn ham
muốn dục lạc. Nếu chúng ta sống vướng mắc mãi dục lạc
trên thế gian này, chúng ta không bao giờ có thể chứng nghiệm
được chân hạnh phúc. Lẽ dĩ nhiên thật ra chúng ta cũng
chứng nghiệm được một vài loại hạnh phúc trong cuộc sống,
nhưng không phải đúng “hạnh phúc” theo nghĩa tuyệt đối
vì lẽ hạnh phúc này không vĩnh cửu. Chúng
ta không thể đạt được hạnh phúc khi còn chứa chấp giận
hờn, oán ghét, vị kỷ hay ảo tưởng sai lầm. Đôi khi ở
một mức độ nào đó chúng ta chứng nghiệm được một sự
thoải mái về tinh thần nhưng bản chất của hạnh phúc đó
chỉ như ánh chớp : Nó vừa hiện ra lại biến mất ngay. Hạnh
phúc chân thật không phải như vậy. Nếu có chân hạnh phúc,
chúng ta sẽ chứng nghiệm cảm giác vĩnh cửu của sự thanh
thản, thoả mãn và an tâm. Cho nên mục đích chính của đời
sống chúng ta là phải thanh tịnh hóa những tư tưởng mờ
ám, sai lầm, lạc hướng của chúng ta và tự chúng ta giải
thoát khỏi các lo âu, băn khoăn, bối rối. Chúng ta còn bỏ
nhiều thời gian để giải quyết những khó khăn, lúc nào
cũng canh chừng, lúc nào cũng lo lắng phải làm cái gì tiếp
đây thì chúng ta không bao giờ được an lạc. MỞ
MANG TRÍ ÓC Lời
khuyên của Đức Phật là chúng ta nên thoát khỏi những cuồng
loạn đó nếu chúng ta muốn chứng nghiệm hạnh phúc. Tuy nhiên
sự giải thoát đạt được là do chính sự cố gắng của
chúng ta, đến từ nơi chúng ta. Chúng ta không thể đạt được
một sự cứu rỗi từ một Đấng Thiêng Liêng, Đức Phật
hay Trời. Chúng ta không thể đạt được sự tự do tối hậu
từ những yếu tố bên ngoài. Những đấng siêu nhiên không
thể giúp gì cho chúng ta để đạt được trí tuệ và sự
giải thoát cuối cùng dù chúng ta sùng bái các đấng này đến
đâu đi nữa hay tán dương các đấng này qua những hình thức
như khổ hạnh, tán tụng, bùa, chú, cầu đảo hay đem hy sinh
các súc vật để cúng. “Chúng
ta gặt được kết quả nơi cái gì chúng ta đã làm và chúng
ta sẽ có kết quả nơi cái gì chúng ta đang làm”. Hành động
điều kiện hoá hạnh phúc hay không hạnh phúc cho chúng ta,
và cuối cùng bảo đảm sự cứu rỗi cho chúng ta. Cứu rỗi
hay giải thoát là việc của cá nhân, giống như con người
phải ăn, uống, tiêu hoá và ngủ nghỉ cho chính mình. Tất
cả những hành động của nghiệp được giữ lại một phần
trong việc hình thành tâm trí của chúng ta và lưu giữ ngầm
tại đấy. Chúng ta quên đi những hành động quá khứ vì
lẽ những hoạt động tinh thần khác che mờ tâm trí nên chúng
ta không thể nhớ lại hành động quá khứ. Khi chúng ta mở
mang tâm trí qua thiền định, chúng ta ngưng những đắm đuối
của năm giác quan. Khi tâm trí trong sáng sẽ giảm đi lo âu,
tham dục, nóng giận, ghen ghét và ảo tưởng sai lầm. Tâm
trí trong sáng trở nên sung mãn và bén nhạy. Đó chính là
khi chúng ta có thể tác động được hoạt động tâm thần
và phát ra sức mạnh tiềm ẩn to lớn. Đó là sức mạnh tâm
linh. Sức mạnh này hiện hữu trong tất cả chúng ta; chúng
ta chỉ cần phải học cách phát ra sức mạnh này qua thiền
định. Một cách khác có thể tiến cận những hoạt động
tinh thần tàng trữ (trong đầu) là thôi miên. Qua thôi miên
một số người có thể phát triển một mức độ sức mạnh
tâm
linh nhưng môn này không được tiến dẫn vì lẽ thôi miên
dựa trên một tác nhân khác và không tác dụng đến việc
thanh tịnh hoá tâm trí. Đức
Phật khuyên các tín đồ trau dồi và mở mang sức mạnh tiềm
ẩn trong con người và chỉ cho tín đồ làm sao sử dụng hữu
hiệu nhất sức mạnh của ý chí và trí thông minh mà không
cần làm tôi mọi cho một cá nhân nào để mưu cầu hạnh
phúc trường cửu. Không
oán trách ai cả, Phật giáo dạy con người chịu trách nhiệm
hành động của chính mình. Con người phải đương đầu với
thực tại cuộc đời, gánh trách nhiệm và chu toàn nhiệm
vụ, bổn phận với bản thân mình cũng như đối với người
khác. Đau khổ hay sung sướng do chính mình tạo nên và chính
mình có khả năng quét sạch mọi phiền não đau khổ, giữ
an lạc, hạnh phúc bởi hiểu rõ những yếu điểm của chính
mình và tự gắng sức để vượt qua những trở ngại đó.
Tâm trí của con người không được rèn luyện chịu trách
nhiệm về tất cả các rắc rối, tai biến , nhiều loạn,
bất hạnh và cả đến những thay đổi của môi trường và
vật chất. Trái lại tâm trí con người được rèn luyện
có thể thay đổi tình trạng bất hạnh trên thế giới và
có thể đem lại hoà bình thịnh vượng và hạnh phúc khắp
nơi cho mọi người. Việc đó chỉ có thể làm được qua
việc thanh tịnh hoá sức mạnh tinh thần. PHƯƠNG
PHÁP CỦA ĐỨC PHẬT Kỹ
thuật giáo lý của Đức Phật khác hẳn các người khác.
Ngài không bao giờ sửa soạn “các bài giảng để nói trước
công chúng” hay những “bài diễn thuyết”. Ngài luôn luôn
quyết định đề tài căn cứ vào sự việc xảy ra bất ngờ
hay từ nhận xét. Một trong những điểm kỳ tài của Đức
Phật và tài năng của bậc Mô Phạm này là việc thực hành
phương pháp giáo huấn điêu luyện áp dụng từ “cái biết
đến cái không biết”. Thí dụ trong một dịp, Ngài cùng
các đệ tử đang đi bộ trên bờ một con sông, Ngài nhìn
thấy có một khúc gỗ đang bồng bềnh trôi giữa dòng nước,
Ngài dừng lại và hỏi :” Các ông nghĩ gì về khúc gỗ này
? Khúc gỗ sẽ ra sao ? Một đệ tử trả lời :”Khúc gỗ
sẽ dạt vào hòn đảo giữa sông “. Những đệ tử khác
nói :”Nước sẽ vào khúc gỗ và khúc gỗ sẽ bị chìm ”
,“ Khúc gỗ sẽ được người
ta lấy , cắt ra để làm củi sưởi “ , “Khúc gỗ sẽ trôi
ra biển “. Bây giờ ai là người nói đúng ? Ai là người
có thể tiên đoán trúng số phận khúc gỗ ? Rồi Đức Phật
giảng cuộc sống chúng ta giống khúc gỗ trôi trên dòng nước
hoàn toàn bất trắc. Không ai có thể biết được cái gì
sẻ xảy đến với chúng tangày
mai hay tháng sau. Phương pháp của Đức Phật là lấy những
bài học từ đời sống thường nhật cho nên giáo lý của
Ngài luôn rút từ mầm mống nơi này nơi kia và hoàn toàn thích
hợp cho kinh nghiệm của con người. Theo
đường lối như trên, Ngài thừa nhận con người hoàn toàn
tự do suy nghĩ, sử dụng giác quan thông thường để nhận
định. Ngài không trình bày một tôn giáo thực hành vì áp
bức, do sợ hãi và ham muốn dục lạc. Theo
Đức Phật, một ý nghĩ, một lời nói cao đẹp mà không có
hành động tương xứng theo sau, thì chẳng khác nào như bông
hoa đẹp không hương, không kết trái. Bát
chánh đạo trình bày bởi Đức Phật là lớp đào luyện văn
hoá và tiến bộ nội tâm. Chỉ tin cậy vào những sùng bái
bên ngoài, nghi lễ và cầu nguyện, con người không thể tiến
bộ trong việc phát triển nội tâm thích đáng. Chỉ trông
vào cầu nguyện để được cứu rỗi, theo Đức Phật, cũng
giống như :” đòi hỏi bờ sông bên kia chuyển qua bên này
để khỏi phải mất công mệt sức” . TỰ
KHÁM PHÁ Nhiều
tôn giáo cho rằng những thông điệp được khám phá cho nhân
loại do một đấng thiêng liêng. Tuy nhiên, một số nhà duy
lý luận hỏi nếu chỉ có một đấng thiêng liêng và đấng
này đã ban thông điệp lợi lạc cho tất cả nhân loại, tại
làm sao có quá nhiều niềm tin trên thế giới ? Nếu thông
điệp có ý nghĩa cho toàn thể con người thì điều khó khăn
gì cho đấng thiêng liêng này công khai loan báo cho toàn thể
để không còn chỗ nghi ngờ và giải thích sai lầm? Mọi người
phải chấp nhận thông điệp ấy và sẽ không có sự xích
mích giữa các tôn giáo và toàn thể thế giới chỉ cần theo
thông điệp của một đấng thiêng liêng là đủ. Nhiều
năm trước, có một cuộc hội thảo về tôn giáo tại Đại
học đường Mã Lai Á. Có tất cả năm thuyết trình viên,
mỗi tôn giáo một thuyết trình viên. Sau khi trình bày, một
sinh viên hỏi :”Khi chúng tôi nghiên cứu tôn giáo của chúng
tôi, chúng tôi thu lượm được một số thông tin về thế
gian, vũ trụ và cuộc đời. Khi chúng tôi nghiên cứu về
khoa học, thông tin thu lượm được hoàn toàn khác hẳn. Thông
tin khoa học ngược lại với quan điểm đạo giáo của chúng
tôi. Cho nên chúng tôi không biết nên chấp nhận tin việc
học hỏi nơi tôn giáo chúng tôi hay nơi khoa học”. Một
thuyết trình viên đáp :”Tôi tin là Thượng đế ban giáo
pháp của Ngài dưới hình thức một thông điệp cho một người,
người này truyền bá đến những người khác, cho nên chúng
ta phải tin lời Thượng đế”. Nhưng
người sinh viên khăng khăng :”Làm sao ông biết được
người nhận thông điệp thông suốt được thông điệp đó
một cách chính xác ? Có thể thông điệp đã sai lạc và được
giải thích lầm lẫn theo tư tưởng của họ và cứ thế truyền
lại cho hậu thế “. Đức
Phật, trái lại, không bao giờ cho rằng bất cứ việc gì
đều do nhận được từ nguồn tin bên ngoài. Trong suốt quá
trình hoằng pháp của Ngài, Ngài luôn luôn khẳng định các
người dự thính cứ tự do hỏi Ngài, chất vấn Ngài về
giáo lý của Ngài để họ có thể tự mình hiểu được chân
lý. Ngài nói “Hãy đến xem và nhận xét” (Ehipassiko).
Ngài không nói “Hãy đến để tin theo”. Bất
cứ lúc nào Ngài nói đến việc gì, việc đó đã được
đích thân Ngài trắc nghiệm giá trị của nó qua bản thân
Ngài như một con người bình thường. Ngài tuyên bố không
có thần linh. Ngài thấu rõ mọi sự vì lẽ Ngài biết vì
sao Ngài phải chứng nghiệm khổ đau trong nhiều tiền kiếp
do những hành động xấu Ngài phạm vì ngu si. Ngài đã khó
khăn mới học được. Ngài đã khuyên răn các tín đồ của
Ngài qua kinh nghiệm bản thân của Ngài. Ngài đã hoàn tất
một việc phi thường cho nhân loại bằng thực hành và nhận
xét những sự toàn hảo vĩ đại (perfections) qua nhiều cuộc
sống và cuối cùng chứng nghiệm được hạnh phúc tối thượng.
Chúng
ta phải tự hỏi cái nào đáng tin cậy, lời xác nhận do kinh
nghiệm bản thân của một người có thật hay tin cậy vào
một người mà họ cho rằng đã nghe thấy từ một người
nào đó và người này lúc nào cũng vô hình. TỰ
DO TƯ TƯỞNG
Lời
khuyên của Đức Phật là không nên tin vào lý thuyết, thờ
cúng và các trưởng giáo. Thực sự, bất cứ lúc nào chúng
ta cũng phải làm chủ chúng ta qua lòng tự tin. Chúng ta đừng
bao giờ chịu khuất phục phẩm giá hay sở thích của chúng
ta. Đức Phật cực lực ủng hộ giáo pháp về lòng tự tin,
thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và tình thương đại
đồng. Ngài nhấn mạnh sự cần thiết của hiểu biết vì
lẽ không hiểu biết, phần tâm linh bên trong đưa đến trí
tuệ không thể đạt được. Ngài nói :”Nếu quí vị muốn
chấm dứt khổ đau, sợ hãi, hãy triển khai kỷ luật, từ
bi và trí tuệ “. Lúc nào chúng ta cũng phải để cho đầu
óc chúng ta tự do suy nghĩ và hiểu rõ không cần ỷ lại vào
ảnh hưởng bên ngoài. Kẻ nào trông cậy vào người khác
thì chẳng khác trẻ nít. Chúng ta hãy theo gương Đức Phật,
Đức Phật nói khi Ngài thiền định để đạt giác ngộ thì
không đấng thiêng liêng nào đến thầm thì bên tai Ngài để
khám phá những bí mật giấu kín của sức mạnh tinh thần.
Không một ai cho ngài một điều răn hay giới luật nào. Ngài
nói :”Ta không bao giờ có một vị Thầy nào hay một thần
linh nào dạy ta hay bảo ta làm cách nào để đạt được giác
ngộ. Cái mà ta thành công là do sự cố gắng, năng lực, kiến
thức, thanh tịnh của chính ta để đạt được trí tuệ tối
thượng”.
Đó
là lý do tại sao Ngài nói trí tuệ “trỗi lên” nơi Ngài
khi Ngài giác ngộ. Trí tuệ tiềm ẩn trong tất cả chúng ta.
Chúng ta chỉ cần tạo điều kiện đúng, trí tuệ sẽ phát
sinh.
Tự
do tư tưởng, tự do tìm hiểu phát xuất từ nội dung tinh
thần và triết lý của Phật Giáo. Không có một tổ chức
tôn giáo nào trên thế giới lại tương tự, song hành như
vậy. Không bắt buộc, không cưỡng bách để tin theo hay chấp
nhận giáo pháp. Đường
hướng của Phật Giáo la` thấy và hiểu. Nó là thái độ
khoa học của tâm trí. Giáo pháp vể triết lý căn bản dạy
trong Phật Giáo càng ngày càng minh chứng vững vàng bởi những
khám phá mới của khoa học. Phật
Giáo ủng hộ lòng tự tin, tự kiềm chế, tự tín nhiệm,
tự thanh tịnh cho con người trong xã hội. Một
đặc tính đặc biệt của Phật Giáo là tôn giáo này liên
kết chặt với các lý tưởng dân chủ. Các cuộc bàn cãi
công khai phải được khuyến khích, cả đến những quan điểm
trái ngược cũng được phát biểu đưa đến tâm trí được
mở rộng và sung mãn. Những giới của các sư nam và sư nữ
được cấu tạo hoàn toàn theo các nguyên tắc dân chủ. Việc
này làm theo Pháp khám phá ra bởi Đức Phật tối thượng,
một đấng cởi mở và uy hùng can đảm khích lệ các đệ
tử không chấp nhận cả đến những gì Ngài tuyên bố mà
không khảo sát và xác tín. Thực ra, Đức Phật đã tuyên
bố Pháp là thầy của Ngài và tất cả những gìNgài
làm là để tìm ra chân lý của Pháp bao quát đã bị chìm
dắm nơi con người vì ngu si. Chúng ta phải để cho tâm trí
chúng ta được tự do suy nghĩ không thành kiến và không lệ
thuộc. Trước
khi Ngài qua đời, Ngài dặn dò những lới cuối cùng “Hãy
tìm nơi nương tựa ngay nơi các con”. Tại sao sau 45 năm
hoằng pháp, Ngài lại thốt ra những lời như vậy ? Tại sao
Ngài không khuyên mọi người tìm sự cứu rỗi nơi Ngài. Cái
Ngài muốn nói là chúng ta không nên tìm sự cứu rỗi ỷ lại
vào người khác. Chúng ta phát triển lòng tự tin ngay nơi chúng
ta. Lời khuyên răn thật tuyệt diệu và cao thượng biết bao
! Có lẽ bây giờ quí vị có thể hỏi :”Tại sao chúng tôi
nói “Buddham saranam gaccami “ ? “(Tôi
đến với Đức Phật để nương tựa ) Khi
chúng tôi nói như trên không có nghĩa là chúng tôi ỷ lại
vào Đức Phật. Chúng tôi muốn nói là nếu chúng tôi theo
những phương pháp dạy bởi Đức Phật, chúng tôi sẽ mở
mang lòng tự tin để đạt được sự cứu rỗi. Chắc chắn
chúng tôi không nghĩ một ngày nào Đức Phật sẽ đến và
mang chúng tôi đến “Thiên Đường” trong một chuyến bay
vinh quang. Một
số người nói rằng Đức Phật chỉ là một người bình
thường không phải là một Thượng đế, tại sao dân chúng
lại theo Ngài ? Những người này không hiểu rằng người
Phật tử không trông chờ sự cứu rỗi từ nơi Đức Phật
mà là thực hành phương pháp cao thượng do Ngài dạy. Phương
pháp của Đức Phật ngay từ lúc khởi đầu là chúng ta phải
làm thế nào để phát triển lòng tự tin qua việc rèn luyện
tâm trí của chúng ta. Tự mình cố gắng, tự mình thực hiện,
đó là con đường duy nhất tiến đến sự cứu rỗi. Bất
cứ ai cũng có thể đứng trước Đức Phật trong tư thế
một người có phẩm cách chứ không phải trong tư thế một
người nô lệ. Với hy vọng và tự tin, một người có thể
quyết định vận mạng của chính mình. Đức Phật hoan nghênh
quí vị nếu quí vị giữ lập trường như một con người
có phẩm cách. Nhưng quí vị phải sẵn sàng tỏ ra phải chăng
và chịu nghe các lý luận có ý thức trái ngược với niềm
tin của quí vị nhưng lý luận này đáng được chú ý đến.
Đó là thái độ của một người hiểu biết. Khi Ngài gần
tịch diệt, rất nhiều bậc quyền quí, thái tử, tộc trưởng,
và cả đến những thánh chúng với các vòng hoa đến gặp
Ngài để tỏ bày lòng tôn kính của họ với Ngài, nhưng Đức
Phật sai Anan, thị giả của Ngài, nói với họ rằng nếu
họ muốn tỏ lòng tôn kính Ngài, họ chỉ việc theo đúng
giáo lý của Ngài, vị thầy của họ. Trên đây cho thấy Ngài
không muốn cá nhân Ngài được vinh danh hay đòi hỏi một
sự phục tùng tuyệt đối cho uy quyền của Ngài. |
c
|
|||||||||||||||||||||||