| c
ĐẠO PHẬT VÀ ĐỜI
SỐNG HIỆN ĐẠI
Nguyên tác
tiếng Anh: HT. Dhammananda
Thích Tâm
Quang dịch
VÔ
TƯ
Sau
khi biết chân lý, những người hiểu biết cố gắng trau dồi
tư tưởng của họ để phòng và bảo vệ chính họ. Họ không
chấp nhận hoặc bác bỏ cái gì mà có người nói. Khrisnamurti
nói những ai lúc nào cũng ỷ lại vào ý kiến người khác
là những con người thuộc hạng hai. Không chấp nhận hay tin
tưởng bất cứ cái gì được dạy trong phần thực hành tôn
giáo và đồng thời không bác bỏ hoàn toàn. Có những điều
chúng ta chấp nhận là đúng nhưng sau đó chúng ta khám phá
ra những điều ấy lại sai. Ngược lại, có khi chúng ta bắt
buộc chấp nhận một số điều ta cho là sai lúc đầu thì
cuối cùng là đúng. Cho nên Đức Phật khuyên chúng ta hãy
chờ đợi một thời gian để nghiên cứu, suy gẫm , quan sát,
điều tra trước khi chúng ta quyết định điều mà chúng ta
nghe phải hay không phải, nên hay không nên, chấp nhận hay
bác bỏ. Chỉ dựa vào tình cảm hay niềm tin mù quáng hay niềm
lo âu, chúng ta có thể chấp nhận một số điều ngay cả
khi chúng ta còn hoài nghi. Kết quả của biếng nhác, tâm trí
bối rối, chúng ta có thể bác bỏ hay không tin những điều
chúng ta nghe thấy. Nhưng chúng ta phải để cho tâm trí chúng
ta có dịp may để suy tư, và hiểu được phải hay không phải
, đúng hay sai.
NIỀM
TIN
Niềm
tin không thôi thì không nghĩa lý gì vì lẽ niềm tin phải
được rèn luyện với sự hiểu biết phát xuất từ một
tâm trí được rèn luyện. Mục đích chính của tôn giáo là
làm sao chỉ cho tín đồ cách sử dụng kiến thức với sự
hiểu biết phê phán để đạt được tối đa tình cảm hạnh
phúc và nhiệm vụ của chính mình. Dù kiến thức có nhiều
thế nào đi nữa, nếu chúng ta không nhổ được gốc rễ
những hoen ố và nghi ngờ trong đầu óc chúng ta, chúng ta vẫn
còn trong tình trạng không hạnh phúc. Khi chúng ta đạt được
thanh tịnh ở mức cao nhất (A-La-Hán), chúng ta hoàn toàn bật
được gốc rễ tham dục, sân hận, ảo tưởng sai lầm của
chúng ta và chúng ta thiết lập được một trạng thái bình
thản trong tâm hồn chúng ta. Rồi khi những “thanh tịnh”
đến thì không một tư tưởng xấu xa nào có thể phát sinh
được. Chúng ta không thể thốt ra những lời gay gắt hay
phạm những hành động tội lỗi. Một người đã thanh tịnh
được tâm trí cao hơn cả trăm lần những người có thế
lực hay những người chỉ có niềm tin và kiến thức đắm
chìm trong những nhơ bẩn của tâm trí. Chúng ta cho rằng chúng
ta “văn minh”,nhưng
làm sao chúng ta có thể nhận mình văn minh khi đầu óc chúng
ta còn hiện rõ những nét nhơ bẩn cùng mức độ như những
tổ tiên “cổ xưa” của chúng ta đã có từ hằng ngàn năm
qua ?
Trên
thế giới, dân chúng chen chúc tại các chùa, nhà thờmgiáo
đường và các nơi sùng bái để cầu nguyện, hy sinh các sinh
vật, thực thi khổ hạnh. Nhưng khi họ vừa ra khỏi các nơi
trên, họ vẫn sân si, tham dục, ganh tị, thù hận, ác cảm
như trước. Người dân cho rằng là người có đạo lý khi
họ cầu nguyện, lễ bái và thực thi các nghi lễ tôn giáo,
nhưng “tâm trí” họ vẫn ích kỷ và bất chánh. Nếu quả
họ là những người có đạo lý, họ sẽ không còn kỳ thị
lẫn nhau, làm cho nhau đau khổ hay chế diễu lẫn nhau trong
việc hành đạo. Đức Phật cố gắng khai thị tâm trí của
chúng ta để chúng ta hiểu tường tận mọi điều mà không
phát triển niềm tin cuồng tín và kỳ thị.
DỊ
GIÁO
Một
lý do khác tại sao giáo lý của Đức Phật không rơi vào một
loại tôn giáo đã đượcthiết
lập là vì không có chỗ cho “dị giáo” trong hệ thống
giáo lý của Ngài. Dị giáo là cái gì nó thách thức “lời
của đấng thiêng liêng”. Đức Phật đã chân thành mời
cả đệ tử Ngài lẫn các người chống đối Ngài đến thách
thức giáo lý của Ngài từ mọi góc độ để không còn chỗ
nào nghi ngờ nữa. Đúng theo lệnh truyền của Ngài, các đệ
tử của Ngài đã lý luận về giáo lý của Ngài và ngay khi
họ đã thiết lập các trường Phật Học khác theo sự hiểu
biết của họ mà khôngxảy
ra bạo động hay đổ máu. Hiện nay, trường Đại Học Phật
Giáo nổi tiếng Nalanda (đã bị phá hủy bởi bàn tay cuồng
tín của tôn giáo khác), những tín đồ của các trường Phật
Giáo Nguyên Thủy và Đại thừa, sống cùng nhau, nghiên cứu
và bàn bạc các quan điểm dị biệt hoàn toàn trong hoà hài.
Đức Phật dạy nếu một ai tin rằng mình biết chân lý thì
đừng nên sợ sệt sự thách đố vì lẽ chân lý bao giờ
cũng thắng. Hơn thế nữa Ngài còn tích cực khuyến khích
bất cứ ai thách đố giáo lý của Ngài. Những giải đáp
của Ngài cho nhiều câu hỏi làm giàu thêm giáo pháp trong cánh
đồng rộng lớn của sự tu hành được ghi lại một cách
trung thực bởi các đệ tử của Ngài. Ngày nay chúng ta có
thể trả lời bất cứ câu hỏi nào về Phật Giáo, chỉ việc
đơn giản tham khảo các lời giải thích của Đức Phật.
Suy nghĩ hợp lý và khích lệ việc phê phán là tối quan trọng
trong Phật Giáo.
KHOA
HỌC
Sự
thử thách của một giáo lý tôn giáo nằm trong sự thích ứng
của giáo lý với các khám phá của khoa học và sự lôi cuốn
đạt được trong tâm trí của con người có trí thông minh
cao độ. Một vài tôn giáo từng trải nghiệm sự bối rối
ở một chừng mực nào đó, vì khoa học tiết lộ các khám
phá của các tôn giáo này. Kết quả đưa đến vài sửa đổi
hay việc thuyết minh lại thánh kinh của họ trở nên cần
thiết. Trên phương diện này, Đạo Phật, với giáo pháp hợp
lý của Đấng Đại Giác, không phải đương đầu với các
bối rối như trên vì nguyên lý căn bản rất phù hợp với
những khám phá của khoa học. Chúng ta hãy nghiên cứu một
thí dụ.
Dưới
ánh sáng nghiên cứu mới nhất về nguyên tử, khái niệm cổ
của thế giới thay đổi giống như khái niệm về nguyên tử
cũng tự nó thay đổi. Không còn vật chất giống như đã
từng được tin tưởng trong quá khứ; khái niệm về vật
chất được giảm thiểu đến mức năng lượng, rồi đến
khái niệm về năng lực cuối cùng cũng biến đi , đến mức
độ vi tế hơn và chính các nhà khoa học cũng không biết
gọi nó là gì nữa. Những nhà khoa học bây giờ đi đến
kết luận ngay đến nguyên tử chỉ là một khái niệm, nói
rộng ra thế giới cũng không là gì cả mà chỉ là một quan
niệm. Các nhà khoa học càng đi sâu vào việc nghiên cứu sự
cấu tạo của nguyên tử, họ càng chịu tin kết luận trên.
Trong
Phật Giáo, lý thuyết trên đã được trần thuyết từ 16
thế kỷ qua, nếu không phải là sớm hơn. Vào thếkỷ thứ
Tư sau Công Nguyên, nhà triết học Phật Giáo Asanga (Vô Trước
)triển khai một lý thuyết gọi là Vijnapti_matra hay Citta-matra
(Duy thức) căn cứ theo tài liệu nguyên thuỷ cho là thế giới
chỉ là một khái niệm, chỉ là một tư tưởng, chỉ là một
ý kiến. Ngài Asanga ( Vô Trước ) đã định nghĩa nguyên tử,
và định nghĩa của Ngài từ 16 thế kỷ qua vẫn còn giá trị
đến ngày nay. Nguyên tử (Paramanu) dược hiểu như không có
thực thể (Nissarira). Sự xác quyết thể tánh của nguyên tử
được hoàn thành bởi các nhà trí thức qua việc phân tách
khối vật chất đến mức độ tối hậu. Dĩ nhiên Ngài Asanga
không chú tâm đến vật lý, nhưng Ngài nói về phương diện
siêu hình học và triết học. Việc quan tâm của Ngài là bày
tỏ thế giới mà người bình thường cho là thực thể, thật
ra không có gì cả, ngoại trừ một khái niệm. Theo Albert Einstein
(8) khi vũ trụ được đem phân tách không còn gì tồn tại
dưới dạng vật chất cả, chỉ còn lại âm ba rung chuyển
hay các làn sóng.
Ngày
nay, lý thuyết của Phật Pháp vẫn đứng vững, không bị
ảnh hưởng của tiến trình thời gian và sự tăng trưởng
kiến thức, vẫn giữ nguyên như lúc ban đầu được bày tỏ.
Dù cho kiến thức khoa học tăng trưởng đến thế nào trên
chân trời trí óc của con người, trong Giáo Pháp vẫn có chỗ
để thừa nhận và đồng hoá các khám phá xa hơn nữa. Lý
do vì Phật Giáo không căn cứ vào sự dẫn dụ của trên quan
niệm hẹp hòi của các tri giác sơ khai hay vì sức mạnh của
nó trên tư tưởng tiêu cực.
PHÉP
LẠ
Khoa
học ngày nay không bác bỏ sự có thể có được các phép
lạ, như đã từng thấy, nhưhg chỉ là bước đầu chấp nhận
những cái được biết là phép lạ và những hiện tượng
phi thường chưa được biết. Đức Phật tự Ngài đã bày
tỏ quan điểm : Với Ngài các phép lạ không được coi
là chứng minh được chân lý mà chỉ trình bày thành thạo
được một số ít thần thông phát triển nơi một số người.
Những người có phép lạ không nhất thiết là bậc giác ngộ
hay các bậc thánh.
Như
vậy, Đức Phật không những dạy đệ tử Ngài đề cao cảnh
giác việc thi triển bất cứ loại thần thông phép lạ nào
mà họ đạt được mà còn báo cho quần chúng không nên lưu
tâm quá mức tới những việc thi triển thần thông. Cho nên,
xét những tôn giáo khác lợi dụng phép lạ đến hết mức
để thu phục quần chúng, Phật Giáo coi những việc đó không
đáng kể và không thích đáng với nhiệm vụ chính là mở
mang tinh thần và giải thoát. Theo Đức Phật, thần thông phép
lạ cao nhất phải là : làm sao biến một người ngu si thành
một người khôn ngoan.
Liên
quan đến việc trên, Swami Vivekananda nói :”Ý tưởng về
siêu nhiên lên đến một mức độ nào đó, đem thần thông
sức mạnh cho con người, nhưng nó cũng đem lại ỷ lại, sợ
hãi và dị đoan. Nó suy thoái thành một niềm tin khủng khiếp
trong cái yếu đuối tự nhiên của con người “.
Quan
điểm khoa học và nội dung của Phật Giáo đã khiến Albert
Einstein (8) tuyên bố :”Nếu có tôn giáo nào có thể đương
đầu với nhu cầu khoa học hiện đại, tôn giáo đó phải
là Phật Giáo.”
ĐẠO
ĐỨC VÀ XÃ HỘI
Một
phương diện quan trọng khác của Phật Giáo như một tôn giáo
của thế giới là quan điểm về những vấn đề xã hội,
kinh tế và chính trị. Một số người không am tường thường
cho rằng Phật Giáo muốn đào thoát hay rút lui khỏi cuộc
sống thực tại, ẩn náu trong một ngôi chùa, trong một hang
động hay trong rừng và sống một cuộc đời biệt lập khỏi
xã hội. Đó chỉ là sự thiếu hiểu biết mà thôi, chính
ngay Đức Phật, Ngài là một người làm việc tích cực nhất
chưa từng thấy trên thế giới. Mỗi đêm Ngài chỉ ngủ có
hai tiếng rưỡi, và Ngài làm việc suốt thời gian còn lại.
Ngài đi bộ ngang dọc khắp Ấn Độ, nói chuyện và dạy bảo
dân chúng. Không phải lúc nào Ngài cũng chỉ nói đến Niết
Bàn với tất cả mọi người Ngài gặp. Ngài nói về đời
sống của họ. Đức Phật nói, Ngài không kỳ vọng người
mới vào đạo có thể thi hành ngay được Chân Lý cao thượng
nhất. Theo Ngài thì phải tuần tự vi tiến. Cho nên giúp đỡ
bằng nhiều cách, phù hợp trình độ và mức tiến triển,
là một phần của tôn giáo này. Một cuộc sống xã hội,
kinh tế và chính trị tích cực không thể tách xa cuộc sống
đạo lý thực sự.
Trong
tôn giáo của Đức Phật, ta thấy một hệ thống đạo đức
toàn diện và một lý thuyết siêu hình siêu việt bao gồm
một tâm lý cao thượng. Nó thích hợp với mọi tầng lớp.
Với những người bình dị,nó
cung cấp một qui tắc luân lý, một sự thờ phượng đẹp
đẽ, một niềm hy vọng cuộc sống tại thiên đường. Với
những người nhiệt tình sùng đạo, nó là một hệ thống
tư tưởng trong sạch, một triết lý cao thượng, và những
lời giáo huấn về đạo đức đưa đến giác ngộ, giải
thoát khỏi khổ đau. Nhưng giáo lý căn bản vẫn là sự thanh
tịnh hoá con người. Sự tiến bộ về tinh thần không thể
có được nơi người không có cuộc sống trong sạch và từ
bi.
Trong
hình thức thực hành phổ thông cho đại chúng vời những
lễ nghi, diễu hành, và các hội liên hoan hoà nhập các tập
tục truyền thống, Phật Giáo tạo một động cơ thúc đẩy
rộng lớn, kinh nghiệm và thực tế cho nền giáo dục. Những
hoạt động trong gia đình, các cuộc lễ trong xóm làng, hoạt
động văn hoá và các dịp như sanh, tử, cưới xin, tưởng
niệm là những lúc giáo lý được sử dụng bán chính thức
để dạy con người. Các em nhỏ học hỏi được nhiều về
tập quán, phong tục, giá trị và cả đến những nguyện vọng
qua quan sát hay tham dự vào những hoạt động giáo dục bán
chính thức này. Thanh niên và các người đứng tuổi cũng
được hưởng lợi ích từ các hoạt động này.
Ngoài
trình độ cá nhân và sự giải phóng con người, Phật Giáo
công nhận gia đình là một đơn vị của xã hội và quốc
gia. Cho nên từ một người nội trợ tầm thường mà mục
đích tối thượng là đạt được vật chất đầy đủ nơi
cuộc đời hiện tại và về với cảnh trời sau này, Phật
Giáo cung cấp một qui tắc giáo lý đơn giản -nói
trong kinh Sigalovada (Thi-Ca-La-Việt)- sự thực hành làm vững
mạnh sự đoàn kết trong cộng đồng. Qui tắc giáo lý này
bảo đảm sự liên hệ chính đáng giữa người trong gia đình,
giữa chủ nhân và người làm công.
Trong
một bài thuyết giảng, Đức Phật đề ra 10 điều khuyên
răn dạy ta phải kính trọng và chu toàn bổn phận trách nhiệm
đối với cha me., con cái, chồng vợ, những người liên hệ
trong gia đình, những bậc cao niên, những người đã chết,
thánh thần và để sống hoà hợp trong xã hội không phương
hại đến quần chúng và tiến bộ với một cuộc sống không
tội lỗi.
Giáo
lý trên đem hạnh phúc cho mọi người trong xã hội vì mục
đích là đem lại sự thực hành chuyên cần, những hành động
thân hữu, đặc điểm của con người thật sự vị tha.
Mặt
khác người tiến bộ hiểu được các chướng ngại của
cuộc sống gia đình ( con đường hoen ố của dục vọng )
có thể lựa chọn qui tắc giáo lý và đạo đức cao hơn đề
cập trong Giới Luật Vinaya ( Luật Tạng). Những phẩm hạnh
này giúp cho người đó sống đời thanh tịnh, thánh thiện,
từ bỏ mọi xiềng xích của các dục lạc trần tục.
GIÁO
LÝ
Giáo
lý của người Phật tử căn cứ vào sự tự do và hiểu biết.
Vì lẽ giáo lý phát xuất từ nhu cầu của xã hội, để tự
gìn giữ, nó cần thiết phải phù hợp với hoàn cảnh và
thời gian, cho nên giáo lý phải tương đối. Thật ra, không
thể có giáo lý hay đạo đức nào được chấp nhận nếu
nó bắt nguồn từ sự ép buộc hay can thiệp của bất cứ
yếu tố bên ngoài nào vào cá nhân đó. Cá nhân phải được
hoàn toàn tự do khỏi tất cả ràng buộc để giáo lý được
thực sự hữu hiệu.
Tâm
từ (Metta) là căn bản của tất cả giáo lý và đạo đức
trong Phật Giáo. Do lòng từ bi, phát xuất các giới luật luân
lý và đạo đức, các cơ quan xã hội, pháp lý, an sinh. Bình
đẳng, tình huynh đệ, khoan dung, thông cảm, kính trọng đời
sống, kính trọng quan điểm của người khác, kính trọng
tôn giáo khác, tất cả những thứ đó bắt nguồn từ tâm
Từ. Dựa theo nguyên tắc cao thượng vĩ đại, Phật Giáo luôn
luôn là một tôn giáo hoà bình. Chiều dài lịch sử của Phật
Giáo không dấu vết của chiến tranh, ngược đãi hay tranh
chấp vì dị giáo. Về phương diện trên, Phật Giáo là duy
nhất trong lịch sử các tôn giáo. Gương cao thượng của Đức
Phật trong vấn đề này được Swami Vivekananda đề cập trong
một thời thuyết giảng về karmayoga (nghiệp trong Du Già ):
“Toàn thể nhân loại đã xuất hiện một người như thế,
một triết lý như thế, một cảm tình sâu đậm như thế.
Nhà triết học vĩ đại thuyết giảng triết lý cao thâm nhất,
thương cảm sâu xa đến cả loài vật thấp hèn nhất, và
không bao giờ đòi hỏi một chút gì cho mình cả. Ngài là
lý tưởng của Du Già Karma, hành động hoàn toàn không động
cơ nào thúc đẩy, và lịch sử nhân loại chứng minh Ngài
là người chưa từng có, không thể so sánh, một sự kết
hợp vĩ đại của con tim và khối óc chưa bao giờ từng có.”
Về
phương diện xã hội và luân lý, nhà Triết học Đức, giáo
sư Max Muller nói: “Giáo lý căn bản của người Phật tử
tự nó là một hệ thống hoàn hảo nhất mà thế giới chưa
bao giờ biết đến.”
Về
điểm trên, tất cả các lời chứng nhận từ bốn phương
chống đối cũng như thiện cảm đều đồng ý; dù họ đã
là các triết gia, các nhà thuyết giáo, các nhà siêu hình học
tinh tế, các nhà lý luận, vì nơi đâu chúng ta có thể tìm
được một hoá thân của tình thương, tình thương không phân
biệt giai cấp, tín điều, màu da, tình thương vượt qua biên
giới của nhân loại bao gồm tất cả chúng sinh, một tình
thương biểu hiện chân lý của lòng thương yêu thân ái bao
la (Metta) và không tổn hại ?
Albert
Schweitzer nói :”Trên quả địa cầu này, Đức Phật đem
ý nghĩa chân lý giá trị trường cửu và tiến bộ đạo đức
không chỉ riêng cho Ấn độ mà cho tất cả nhân loại. Đức
Phật là một bậc đạo đức kỳ tài vĩ đại nhất chưa
từng thấy có trên hoàn vũ.”
Xa
hơn nữa, giáo sư Rhys Davids (9) nhận định :”việc nghiên
cứu Phật Giáo phải được coi là phần cần thiết của bất
cứ một lớp nào về đạo đức và không nên chỉ bàn đến
qua loa trong một hay hai trang mà phải có được sự thừa nhận
thích đáng chiều sâu lịch sử của sự tiến hoá đạo đức.”
PHÁT
TRIỂN KINH TẾ
Trong
phạm vi cơ cấu tổ chức của người Phật tử, khả năng
phát triển kinh tế trên căn bản tích cực và hiệu quả nhận
được sự chú ý đặc biệt của các quốc gia giàu có cũng
như các quốc gia đang phát triển. Lý thuyết phát triển kinh
tế hiện đại đã thất bại trong việc kìm hãm mức gia tăng
các vấn đề môi sinh và xã hội trong hầu hết các xã hội
phát triển thì Phật Giáo có lối thoát khỏi bế tắc này.
Kinh
Cakkavatti Sihananda (Ca Diếp Sư Tử Hống) trong Digha Nikaya (Trường
bộ kinh) nêu rõ rằng nghèo khổ là nguyên nhân của tội ác
và vô luân. Đức Phật và các đệ tử Ngài dạy dân chúng
giá trị của cải kiếm được và sự quan trọng của sự
phát triển kinh tế cho đời sống hạnh phúc của họ. Trong
kinh Kutadanta (Cửu La Đàn Đầu) trong tập Digha Nikaya Đức
Phật cũng bày tỏ tội ác như cướp bóc không thể ngăn được
bằng hình phạt. Để có thể kiểm soát được hữu hiệu
và ngăn chận được những tội ác,phải tạo cơ hội cho
họ có công ăn việc làm để họ có được một đời sống
thoải mái.
-An
ninh kinh tế (atthi Sukha)
-Vui
trong sung túc (bhoga-sukha)
-Không
mắc nợ (anana-sukha)
-Sống
cuộc đời không tội lỗi (anavajja-sukha)
Trên
đây là bốn hạnh phúc cho người cư sĩ. Khả năng trong
nghề nghiệp (uthana sampada ), gìn giữ được của cải,
thân hữu với bạn tốt (kalyana mittata), chi tiêu trong
khuôn khổ lợi tức (samajivikata) là bốn điều đem lại
hạnh phúc cho dân chúng trên thế giới.
Nhiều
ý tưởng mẫu mực cho một xã hội tiến bộ, cũng như nhiệm
vụ, bổn phận cho gia đình lẫn xã hội, vì lợi ích qua lại
của cả hai, được ghi trong các bài giảng trong kinh Sigalavoda
(Thi Ca La Việt), Parabhava (Tác Hữu) và Vasala (Tỳ Xá Li).
Bằng
chứng hiển nhiên, từ lời nhận định trong kinh Dhammapada
(Pháp Cú) cho thấy Đức Phật chú ý thẳng đến những vấn
đề khó khăn của chính phủ với lòng từ bi và một quan
điểm khuyến khích một hình thức pháp lý không làm tổn
thương đau khổ cho người dân. Pháp lý phải ngăn ngừa đau
khổ dưới ách chuyên chế , sưu cao thuế nặng đặt ra bởi
các nhà cầm quyền bất chính.
Phật
Giáo dạy một nước phải cai trị theo đúng 10 nhiệm vụ
của một vị vua theo đúng chánh pháp (dasan raja dharma) :
-Tự
do tư tưởng (dana)
-Luân
lý (sila)
-Cho
tất cả những gì lợi ích cho dân (pariccaga)
-Trung
thực và liêm chính (ajjava)
-Ân
cần và hoà nhã (maddava)
-Mộc
mạc chân phương trong thói quen (tapa)
-Xa
lánh oán ghét, ác ý, căm thù (akkadha)
-Bất
bạo động (avihimsa)
-Kiên
nhẫn, chịu đựng, khoan dung, thông cảm (khanti)
-Không
chống đối, không che dấu, nghĩa là không bao che, cản trở
bất cứ biện pháp gì mang lại hạnh phúc cho dân (avirodha)
Theo
đường lối này, Đức Phật và các đệ tử dạy dân chúng
các ý niệm quan trọng liên quan đến sức khoẻ, vệ sinh,
kiếm tiền cho đời sống, giao tế hỗ tương, hạnh phúc xã
hội và một chính quyền công bằng- tất cả vì lợi ích
cho người dân.
Bà
H.P Blavatsky, chủ tịch hội Thần học vào cuối thế kỷ 18
đã tuyên bố như sau :”Đức Phật là người đầu tiên
biểu hiện đạo đức cao thượng ấy trong giáo lý của Ngài
cho đại chúng và đã làm cho quần chúng trở thành nền tảng
cốt yếu nhất của giáo pháp đại chúng của Ngài. Điều
này cho thấy sự cách biệt lớn lao giữa Phật Giáo đại
chúng và bất cứ tôn giáo nào khác. Trong khi các tôn giáo
khác, nghi thức và giáo điều nắm giữ trước nhất và nằm
chỗ quan trọng nhất nhưng trong Phật Giáo đạo đức bao giờ
cũng là điều được nhấn mạnh nhất”.
CHÍNH
PHỦ
Ngay
cả đến hệ thống nghị viện ngày nay cũng mang sắc thái
giống hệt như đã thường áp dụng trong Phật Giáo. Hầu
tước của Zetland, nguyên phó vương Ấn độ phát giác :”Quả
thật theo tài liệu Phật Giáo, chúng ta phải thừa nhận cách
thức điển hình về các cơ cấu đại diện tự quản trị
lúc sơ khai được chỉ đạo. Có thể là một điều ngạc
nhiên cho nhiều người khi họ biết rằng trong các cuộc Hội
nghị của Phật Giáo từ trên 2500 năm qua, người ta đã thấy
những hoạt động giống như ngày nay của chúng ta thực thi
tại nghị trường. Thẩm quyền trong hội nghị được bảo
vệ bằng cách bổ nhiệm một giới chức đặc biệt-Viện
trưởng đầu tiên trong Hạ nghị viện của chúng ta. Một
giới chức thứ hai được bổ nhiệm để kiểm soát khi túc
số cần thiết được bảo đảm – theo kiểu nghị viện
Chief Whip trong hệ thống của chúng ta. Một nhân viên phụ
trách điều động dưới hình thức biểu quyết sau khi vấn
đề được mang ra thảo luận. Trong một vài trường hợp,
vấn đề chỉ phải làm một lần, và đến ba lần trong các
trường hợp khác, thủ tục tại nghị viện đòi hỏi dự
án phải được đọc lần thứ ba trước khi dự án này thành
luật. Nếu cuộc thảo luận có những ý kiến dị biệt, vấn
đề phải được quyết định bằng đa số tuyệt đối trong
một cuộc đầu phiếu kín.”
HẠNH
PHÚC
Tôn
giáo này không phải một tôn giáo để người dân chỉ biết
tuân theo mà là để học hỏi, hiểu biết và thực hành để
đạt kinh nghiệm vàhạnh phúc.
Một
hôm Đức Phật đi bộ trong rừng, Ngài nắm trong tay vài chiếc
lá cây và tuyên bố những gì Ngài dạy đệ tử chỉ như
chiếc lá trong lòng bàn tay của Ngài. Toàn bộ giáo Pháp giống
như tất cả các lá cây trong rừng. Giáo Pháp mênh mông rộng
lớn không tưởng tượng nổi, Đức Phật dạy những điều
chủ yếu, cần thiết ngay cho nhiệm vụ cấp thời để chấm
dứt khổ đau và được giải thoát. Đức Phật dạy chúng
ta phải làm thế nào để tự chúng ta thoát khỏi khổ đau.
Kiến thức trần tục còn lại không quan trọng. Vì ngu si,
chúng ta đã dành thời gian cả cuộc đời cố gắng đương
đầu với các khổ đau ấy, như lo lắng, đau buồn và mâu
thuẫn. Việc đó là do chúng ta không hiểu bản chất thực
sự của cuộc sống và những nguyên nhân của khổ đau. Thí
dụ chúng ta hãy lấy ba đặc tính của Pháp là Vô thường
(Anicca), Bất toại nguyện (Dukkha) và Không có thực chất (Anatta,
vô ngã). Toàn thể vũ trụ này đều chung số phận của ba
đặc tính trên. Không có sức mạnh nào có thể ngăn chận
được bước tiến của sự thay đổi hiện hữu từ lúc ta
sanh ra và trong đó đã ẩn tàng nguyên nhân của đau khổ.
Chúng ta chẳng cần gì khác nữa để nhận thức được về
nguồn gốc của khổ đau.
Chúng
ta muốn gì ngoài đời sống? Làm sao để chúng ta đạt được
hạnh phúc? Bất toại nguyện và hậu quả là không hạnh phúc
đến từ nơi chúng ta không hiểu mọi vật đều thay đổi
và đi đến tan rã. Đó là luật của vũ trụ. Nhưng vì sự
ngu si và niềm tin lầm lẫn về cái ngã của chúng ta, chúng
ta muốn sinh tồn trong trạng thái luôn luôn không bao giờ thay
đổi. Việc đó không bao giờ có thể xãy ra được. Chúng
ta muốn giữ của cải tài sản, sức khoẻ và tuổi thanh xuân
của chúng ta. Nhưng rồi ngày nào đó tất cả mọi thứ đó
đều bị quét sạch như ngọn đèn bị gió thổi tắt. Khi
chúng ta nhận thấy những nét đẹp kiều diễm thay thế bằng
những nếp da nhăn nheo và tóc bạc, chúng ta lo lắng và trở
nên không hạnh phúc vì chúng ta từ chối chấp nhận sự thay
đổi bản chất của vạn vật.
Đức
Phật dạy chúng ta hãy suy gẫm các điều đó, chúng ta sẽ
hiểu và nhổ tận gốc nguồn không hạnh phúc của chúng ta.
Giáo lý của Đức Phật soi sáng đường lối cho nhân loại
để bước qua thế gian mù quáng bởi dị đoan, căm thù và
sợ hãi để tiến tớimột
thế giới ánh sáng mới, một thế giới của tình thương,
hạnh phúc và phẩm hạnh.
Edwin
Arnold (10) mô tả con đường của Đức Phật trong thi phẩm
“Ánh sáng Á châu” :
“Đây
hoa nở trên cây nhân loại
Đã
bừng nở qua nhiều vạn kỷ
Làm
thế giới chan hoà
Hương
thơm trí tuệ
Và
mật ngọt tình thương”.
VÔ
THƯỜNG VÀ CÁI CHẾT
Khi
chúng ta còn trẻ, chúng ta cũng phải lưu ý đến điều này
dù chúng ta đang còn trẻ, theo dòng thời gian, chúng ta sẽ
già. Chúng ta đang mạnh khoẻ, chúng ta phải nghĩ đến lúc
nào đó chúng ta sẽ phải đau yếu. Khoẻ mạnh không tồn
tại mãi. Khi chúng ta sửa soạn cho chúng ta một cách khôn
ngoan cho việc suy tàn, già, bệnh và cuối cùng : cái chết,
thì chúng ta sẽ không bị khó khăn trong việc chấp nhận các
bất hạnh này. Hiểu biết những việc đó là điều kiện
trần thế mà mọi người phải đối mặt, chúng ta có thể
dũng cảm chịu đựng bất cứ một khổ đau nào. Đó là sức
mạnh, nơi “nương tựa” mà Đức Phật hứa khả. Có những
kẻ rên siết và khóc than khi gặp bất hạnh. Điều này không
là gì ngoài sự thiếu hiểu biết. Than van về các bất hạnh
đó không làm cho đau khổ mất đi.
Muốn
tránh đau thương và bất hạnh đến với chúng ta, chúng ta
phải làm cho tâm trí chúng ta vững mạnh hơn bằng sự thấu
hiểu.
Không
có gì hay bất cứ ai đến với cuộc sống mà thoát được
tiến trình thiên nhiên “đưa đến kết thúc”. Phải
có một kết thúc. Nếu không thì mọi thứ không hiện hữu.
Chúng ta cần phải không sợ hãi hiện tượng hoàn toàn thiên
nhiên ấy. Tất cả chúng ta phải lưu ý ngay cả đến cái
chết chưa phải là kết liễu cuộc sống mà là bắt đầu
một cuộc sống khác. Chúng ta được biết với thi sĩ Wordsworth
:”Linh
hồn nổi lên với chúng ta, ngôi sao của đời chúng ta, đã
mọc tại nơi nào đó, đến từ xa”. Khi chúng ta biến
đi từ thế giới vật chất này, một đời sống khác hiện
ra nơi nào đó – tại sao chúng ta phải lo lắng? Phải chăng
đơn giản là chúng ta có một giấy thông hành mới trong cuộc
hành trình của chúng ta qua ngả luân hồi (samsara) ?
Các
dân tộc tiến hoá rồi diệt vong; các đế quốc trỗi lên
rồi tan rã; các lâu đài đồ sộ được kiến thiết rồi
sụp đổ dưới cát bụi - con đường của thế giới là như
vậy. Những bông hoa lộng lẫy quyến rũ khách qua đường;
ngày hôm sau đã tàn lụi và héo khô.
Từng
cánh hoa rơi và rồi tất cả đi vào lãng quên. Những cuộc
vui và những thành quả đạt được tột bực trên thế gian
cũng chỉ là trò biểu diễn nhất thời. Kẻ đắm mình trong
dục lạc than van khóc hận khi dục lạc không còn và càng
chịu nhiều đau khổ. Vì lẽ không có gì trường tồn trên
thế gian này nên con người không nên hy vọng đạt được
hạnh phúc tối đa của nó. Lời khuyên của Đức Phật là
hãy suy gẫm sự tạm bợ của trần gian và những dạng thức
bất toại nguyện (khổ) tiềm ẩn trong mọi biểu hiện cuộc
sống trần ai.
Thế
giới này, mặt trời, mặt trăng, giải ngân hà, chính cả
vũ trụ, tất cả đều bị chi phối bởi luật bất di bất
dịch : Vô thường.
Nếu
chúng ta vâng theo lời dạy của Đức Phật, chúng ta sẽ không
phiền não trước viễn cảnh chia lìa người thân, tài sản
và của cải. Điều này không có nghĩa là người Phật tử
không được nếm vui trần tục. Chúng ta phải theo con đường
Trung Đạo. Chúng ta vẫn có thể có những thú vui vừa phải
mà không vi phạm nguyên tắc luân lý, không trở thành nô lệ
cho các thú vui này và hiểu thấu thú vui này phải không gây
trở ngại việc phát triển tinh thần.
Chồng
vợ, cha mẹ con cái phát triển mạnh mẽ dây thân ái với
nhau. Điều này hoàn toàn tự nhiên. Điều này quan trọng cho
họ để sống cuộc đời trên trần thế. Tuy nhiên đồng
thời chúng ta phải đương đầu với sự thực là chính những
luyến ái đó là nguồn gốc của đau thương và khổ não có
thể đưa đến sự tự tử nữa. Để loại bỏ điều khó
khăn này, luyến ái được chấp nhận nhưng với hiểu biết.
Bổn phận của một người là phát triển thương yêu bởi
biết rằng ngày nào đó sẽ có chia lìa. Dưới điều kiện
như vậy, con người sẽ biết làm sao để đương đầu với
trường hợp chia ly khi nó xảy đến. Một người tránh được
nóng giận và tự tử vì đầu óc người đó đã được huấn
luyện.
Cái
mà Đức Phật đóng góp cho nhân loại là an ủi, giúp chúng
ta hiểu đượctất
cả những khó khăn có thể xảy ra và làm sao để đương
đầu với các khó khăn ấy. Cầu nguyện sức mạnh bên ngoài
có thể là giải pháp nhất thời cho ta thấy an lạc trong thời
gian ngắn ngủi. Nhưng chẳng khác chúng ta nhức đầu mà chỉ
uống có hai viên thuốc giảm đau. Sau ba tiếng cơn đau lại
tái phát, vì nhức đầu không phải là bệnh mà là triệu
chứng mà thôi. Thuôc giảm đau không phải là thuốc để trị
bệnh. Những ai hiểu được là có khả năng làm hết nguyên
nhân của khổ đau. Giáo lý của Đức Phật cho chúng ta sự
hiểu biết đó.
KẾT
LUẬN
Tôi
hy vọng rằng việc trình bày này khiến quí vị thấy được
Phật Giáo đứng tách rời như một hệ thống tôn giáo thực
hành. Đức Phật là một bậc Thầy vĩ đại, đem lợi ích
và là một lương y. Ngài luôn nhắc nhở các tín đồ mục
đích của Ngài là giảng giải cho con người biết bản chất
của khổ đau và bất toại nguyện như thế nào và phải làm
sao để đoạn trừ nó. Ngài hứa hẹn hạnh phúc trên đời
này cho những ai theo phương pháp cao thượng của Ngài bằng
quyết tâm và quán triệt thích đáng.
Thật
không may vì trong nhiều tôn giáo hiện hữu, các tín đồ không
được khích lệ để kính trọng các bậc lãnh đạo tôn giáo
khác. Họ lại được răn dạy là nếu làm như vậy, họ đã
phạm tội, và tệ hơn nữa, là họ phải xuống địa ngục
vì tội lỗi đó. Đức Phật dạy rõ ràng cho chúng ta là phải
kính trọng những ai đáng kính trọng. Mặc dù chúng ta có
thể không đồng ý với một vài quan điểm mà họ nắm giữ,
nếu họ thành thực cố gắng để phục vụ và nâng cao nhân
loại, chúng ta phải kính trọng họ vì lẽ đó. Đạo nào
cũng có người cao quí.
Đức
Phật không khuyên các đệ tử của Ngài đi cải đạo dân
chúng, những người mà (nếu không theo ) sẽ đoạ địa ngục.
Đúng hơn là chỉ cho họ thấy trên thế giới này cái gì
phải, cái gì trái, cái gì tốt và cái gì không tốt, khuyến
khích họ đến xem để tự nhận xét sự thật mà Ngài dạy.
Ngài
và tín đồ của Ngài không chỉ trích những người khác đạo
là những người “phạm tội” bị đày đoạ vĩnh
viễn nơi địa ngục. Theo người Phật tử, cả đến những
người “không đạo” nhưng sống trong phẩm hạnh có
lòng từ bi và thiện chí có thể “lên thiên đường”,
đó là chứng được hạnh phúc.
Khi
chúng ta được mãn nguyện, chúng ta ở “thiên đường”.
Khi chúng ta đau đớn về thể xác và tinh thần, chúng ta ở
“địa
ngục”. Chẳng cần phải chờ đến lúc chết mới chứng
nghiệm được những trạng thái đó.
Phật
Giáo là độc nhất vô nhị vì lẽ chúng ta có thể nói đến
“tôn
giáo” này cả đến khi không cần nhắc đến thiên đường
hay địa ngục. Tôi tin là các người khác không thể nói đến
tôn giáo theo cách này.
Thông
điệp thiện chí và hiểu biết của Đức Phật cho tất cả
chúng sanh là một thông điệp vũ trụ. Thế giới ngày nay
cần thông điệp cao thượng này hơn bao giờ hết trong lịch
sử nhân loại.
Phật
Giáo là một tôn giáo duy nhất trình bày chân lý tuyệt đối
chỉ dạy con người làm sao sống hoà bình, hoà hợp với chúng
sanh đồng loại.
CHÚ
THÍCH CỦA DỊCH GIẢ
(1)ALDOUS
LEONARD HUXLEY
: (1894-1963). Một trong những tiểu thuyết gia hàng đầu của
thế kỷ 20. Những tác phẩm chính của ông gồm có : Thế
Giới Mới Lộng Lẫy, ấn hành năm 1932; Triết Lý Vĩnh Cửu,
xuất bản năm 1945 và Những Cửa Ngõ Của Tri Giác, phát hành
năm 1954.
(2)SARVEPALLI
RADHAKRISNAN
: Sanh 5 tháng 9 năm 1888 tại Tiruttani, tiểu bang Andhara Pradesh
(Đông Nam Ấn độ). Là nhà giáo dục kiêm chính trị gia Ấn.
Ông làm giáo sư dạy triết tại Đại học Calcutta từ năm
1921 đến 1931; giáo sư dạy môn tôn giáo và đạo đức Đông
phương tại Đại học Oxford (Anh quốc) từ năm 1936 đến năm
1952. Ông giữ chức Viện trưởng Đại học Delhi (thủ đô
Ấn) từ năm 1953 đến 1962 và được bầu làm Tổng thống
Ấn độ từ năm 1962 đến 1967. Ông qua đời tại Madras (Nam
Ấn) ngày 16 tháng 4 năm 1975. Những tác phẩm chính của ông
: Triết học Ấn độ, 2 cuốn xuất bản năm 1923-1927; Triết
lý Áo Nghĩa Thư ấn hành năm 1924; Tôn giáo Đông Phương và
Tư Tưởng Tây Phương.
(3)HERBERT
GEORGE WELLS : (1866-1946). Là sử gia, nhà văn và cải cách
xã hội nước Anh. Năm 1893 ông dạy môn khoa học và làm ký
giả. Những tác phẩm của ông gồm có các truyện khoa học
giả tưởng : Máy Thời Gian, ấn hành 1895; Con Người Vô Hình,
1897. Cuốnsách nổi
tiếng của ông là Lịch Sử Đại Cương xuất bản năm 1920.
(4)IMMANUEL
KANT : (1724-1804). Triết học gia Đức. Các tác phẩm của
ông nhằm vào việc phân tích lý thuyết, lẽ phải tinh thần
và khả năng xét đoán của con người. Ông đã gây ảnh hưởng
rộng lớn đến các phong trào hoạt động trí thức của thế
kỷ 19 và 20.
(5)ALFRED
NORTH WHITEHEAD
: (1861-1947). Toán học gia và Triết gia Anh quốc. Ông tập trung
vào toán hợp lý (lô gíc), chứng minh tất cả toán nguồn
gốc do một số khái niệm hợp lý. Ông cũng phát minh một
hệ thống triết học toàn diện đi đôi với khoa học hiện
đại.
(6)ANATOLE
FRANCE : (1824-1924). Tiểu thuyết gia và Triết gia Pháp. Các
tác phẩm của ông thể hiện cả về mặt văn chương trong
sáng lẫn phản ánh một sự châm biếm sâu sắc. Ông tượng
trưng bộ mặt chủ yếu về truyền thống tự do nhân bản
của văn chương Pháp.
(7)JAWAHARLAL
NEHRU : (1889-1964). Nhà lãnh đạo quốc gia vĩ đại Ấn,
tranh đấu độc lập và cải cách xã hội, là vị Thủ tướng
đầu tiên của Ấn độ độc lập, giữ chức vụ này đến
khi mất.
(8)ALBERT
EINSTEIN : (1879-1955). Nhà Vật lý học Hoa kỳ sanh tại Ulm
(Đức). Năm 15 tuổi, ông nhập tịch Thụy Sĩ. Làm giáo sư
Đại học Zurich (Thụy sĩ) năm 1909-1911, Đại học Prague (Tiệp
khắc) 1911-1912; Đại học Bá linh (Đức) năm 1914. Năm 1933,
ông sang Hoa kỳ, được mời làm hội viên Viện Nghiên Cứu
Tiến Bộ Princeton (New Jersey). Năm 1940, ông nhập tịch, trở
thành công dân Mỹ. Tác giả thuyết Tương Đối, phổ biến
nguyên nhân tổng quát lý thuyết này năm 1916. Được tặng
Nobel Vật Lý năm 1921. Tác giả cuốn Ý Nghĩa về Thuyết Tương
Đối xuất bản năm 1923 và cuốn Những Nhà Kiến Tạo Vũ
Trụ ấn hành năm 1932 v.v
(9)RHYS
DAVIDS (1842-1922).
Sanh tại Colchester, Anh quốc. Tiến sĩ Davids là một học giả
nghiên cứu đặc biệt về tiếng Pali và Phật Giáo. Các tác
phẩm của ông gồm có : Phật Giáo, xuất bản năm 1978. Phật
Giáo từ tiếng Pali, ấn hành 1871, Phật Giáo tại Ấn, xuất
bản 1903, và Phật Giáo Nguyên Thủy, xuất bản 1908.
(10)EDWIN
ARNOLD (1832-1904). Nhà thơ và ký giả nước Anh. Tốt nghiệp
Đại học King College ở Luân đôn. Viện trưởng viện Đại
học Deccan, Bombay từ năm 1856 đến 1861; Chủ bút báo Daily
Telegraph phát hành tại Luân đôn từ 1873-1901; Tác giả tập
thơ nổi tiếng “Ánh sáng Á châu” diễn tả cuộc đời
và giáo lý của Đức Phật, xuất bản năm 1879.

|