Chương
5: Xây Dựng Giáo Hội
Ðạo
Phật Phù Hợp Với Ðời Sống Mới
Ðạo
Phật không thành lập trên những tín điều không thể kiểm
chứng bằng thực nghiệm. Mỗi khi người ta hỏi Phật
về những vấn đề siêu hình viển vông, ngài thường không
trả lời họ mà chỉ khuyên họ trở về để tâm vào những
vấn đề thực tiễn và thực nghiệm: Những khổ đau,
những nguyên nhân tạo nên khổ đau và phương pháp diệt khổ
tạo nên an lạc. Nhận thứ Duyên Khởi, Tứ Diệu Ðế
và Bát Chính Ðạo của Phật Giáo rất phù hợp với nhận
thức của khoa học thực nghiệm. Không những thế, các giáo
lý trên lại phù hợp hoàn toàn với nguyên tắc DÂN CHỦ,
BÌNH ÐẲNG và TỰ DO. Theo nguyên tắc duyên sinh, vạn
loại nương vào nhau mà sinh thành, tồn tại và phát triển,
không ai có thể làm chủ vận mệnh của ai; ai cũng có những
quyền làm người làm dân: Tinh thần này là bản chất
của đời sống dân chủ, tự do và bình đẳng. Ngày
xưa Ðức Phật thâu nhận vào giáo đoàn ngài tất cả mọi
người không phân biệt chủng tập và giai cấp. Một
ông vua theo ngài thì cũng ngồi ngang hàng với một người
cùng đinh theo ngài. Phương pháp phá chấp và nguyên tắc
tôn trọng sự sống của đạo Phật chứng tỏ đạo Phật
rất tự do. Vì giáo lý đạo Phật phù hợp tinh thần
khoa học thực nghiệm và vì giáo lý ấy biểu lộ tinh thần
dân chủ, bình đẳng và tự do nên đạo Phật KHÔNG LÂM VÀO
TÌNH TRẠNG KHỦNG HOẢNG ÐỨC TIN như một vài tôn giáo khác.
Ðạo Phật tuy rất cũ nhưng lại rất mới, phù hợp hoàn
toàn với đời sống mới. Vì nhận thức như thế, nên
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thấy mình có nhiệm vụ tiếp
tục duy trì sự nghiệp của đạo Phật là xây dựng con người
và xã hội Việt Nam. Ngôi chùa và giáo hội địa phương
đối với xóm làng và khu phố cũng có trách vụ tương đương
với giáo hội toàn quốc đối với đời sống quốc gia.
Ðạo Phật không muốn trở thành độc tôn, đạo Phật tôn
trọng sự có mặt của các tôn giáo và quyết duy trì tình
thân hữu với mọi tôn giáo.
Mục
Ðích Ði Chùa
Tới
chùa, người Phật tử không những tới để lễ Phật, hộ
niệm, cầu an và cầu siêu mà còn để học hỏi giáo lý và
trao đổi kinh nghiệm áp dụng giáo lý vào đời sống.
Cố nhiên sự học Phật phải nhắm đến hướng thực dụng:
Người Phật tử không học Phật để nói ba hoa và khoe khoang
về sự hiểu biết của mình. Nếu chùa, mà không cho
cơ hội để học Phật, thì đó là một thiếu sót lớn.
Ta phải làm thế nào để tại chùa có những lớp dạy về
đạo Phật hàng tuần, cho người lớn, cho thanh niên và cho
trẻ em. Ta phải làm sao để xin thầy trụ trì (viện
chủ hay giám tự) mời được một vị giảng sư. Giảng
giáo lý cho trẻ em thì chúng ta có thể nhờ những đạo hữu,
những thanh niên hay những huynh trưởng Gia đình Phật tử
nào đã hiểu khá về giáo lý phụ trách. Muốn đi đúng
tinh thần thực dụng của đạo Phật, chúng ta nên có những
buổi đàm luận tại chùa về vấn đề áp dụng đạo Phật
trong đời sống hàng ngày. Trong những buổi gặp gỡ
như thế ta có thể trao đổi với nhau những kinh nghiệm về
sự áp dụng giáolý. Ta nên nhớ rằng giáo lý áp dụng
được vào sự sống mới đích thực là giáo lý Phật giáo,
còn giáo lý chỉ để đàm luận suông và không dính líu gì
đến đời sống thì không phải thực sự là giáo lý đạo
Phật. Một người học trường canh nong ra thì biết phép
canh tác ruộng, một người học Phật chân chính thì biết
áp dụng đạo Phật vào đời sống hàng ngày. Chùa phải
tạo cho ta cơ hội để học Phật như thế.
Học
Theo Ðại Bi, Ðại Trí, Ðại Nguyện
Trong
không khí thanh tịnh của chùa, người Phật tử tìm về tự
tâm, soi sáng tự tâm để đạt đến sức mạnh tinh thần,
đức bình tĩnh và lòng thương yêu. Là học trò của
Phật, ta tới chùa không phải chỉ để lạy lục và cầu
xin mà chính là để học theo hạnh nguyện của Phật.
Hãy nhìn đức bồ tát Văn Thù Sư Lợi: Ngài là một con người
có trí tuệ lớn nhờ học hỏi và chiêm nghiệm không ngừng.
Hãy nhìn đức bồ tát Quán Thế Âm: Ngài là một người có
tình thương rộng lớn, luôn luôn lắng nghe tiếng kêu bi thương
của người khổ đau để tìm tới cứu độ. Hãy nhìn
đức bồ tát Ðịa Tạng Vương: Ngài là một con người có
đạo nguyện sâu thẳm, quyết tâm lưu lại trong chốn khổ
đau để cứu độ chúng sinh. Lạy Phật là để bày tỏ
sự cung kính của đệ tử với một bực thầy; nhưng lạy
Phật không đủ. Phải học theo trí tuệ, từ bi và đại
nguyện của Phật.
Bảo
Vệ Ngôi Chùa
Ðừng
bao giờ đem sự tranh chấp lên chùa. Nếu có mầm mống
nào của một sự tranh chấp tại chùa thì phải tìm cách loại
bỏ ngay. Hãy bảo vệ chùa: Hãy duy trì không khí trang
nghiêm và thanh tịnh của chùa. Như thế, chùa có thể
trở nên một môi trường cởi mở và bao dung, nơi đó ta có
thể tạo nên sự đoàn kết và hòa giải giữa mọi người.
Hai người hàng xóm giận nhau có thể làm lành lại với nhau
khi gặp nhau tại chùa, nhất là khi có một người thứ ba
có ý muốn hòa giải giữa hai người. Cô ba Tý là một
Phật tử hòa giải rất khéo. Bà hai Hạt và thím Tám
Ngọ mà vui vẻ với nhau là nhờ cô Ba Tý. Cô rất ngọt ngào
với cả hai người. Bữa đó lên chùa cúng rằm tháng
bảy, cô gặp cả hai người và mời cả hai người vào bếp
để phụ cô nấu cỗ chay. Thế rồi không biết họ chuyện
trò và làm việc chung như thế nào mà sau đó đến giờ lễ
Phật ba người cùng đứng một hàng và khi ăn cơm chay thì
cả ba bà rủ nhau ngồi chung một bàn. Ðó, không khí
của chùa là phải cởi mở dễ thương để tạo ra sự hiểu
biết và hòa thuận.
Xây
Dựng Ngôi Chùa
Ngôi
chùa cần tượng trưng cho nền văn hóa tâm linh của đạo
Phật. Chùa phải được kiến trúc trang nhã, không lòe
loẹt và có vẻ thợ mã, diễn tả được tinh thần bi trí
dũng và tinh thần dân tộc. Cố nhiên không phải ai trong
chúng ta cũng là kiến trúc sư dựng chùa, nhưng chúng ta có
thể nói ý kiến của chúng ta cho thầy trụ trì và kiến trúc
sư nghe. Ngôi chùa của chúng ta phải có tính chất Việt
Nam, ta không thể bắt chước và vá víu một chút kiến trúc
Tàu, một chút kiến trúc Thái Lan, một chút kiến trúc La Mã.
Những nét kiến trúc phải biểu lộ được đức điềm tĩnh,
hiền hòa mà thanh thoát. Khi nào có một ngôi chùa sắp
xây, ta nên tìm dịp nói lên ước nguyện của ta. Muốn
cho chắc thì nên thỉnh ý Giáo Hội Trung Ương về bản đồ
kiến trúc chùa bởi vì Giáo Hội Trung Ương có liên lạc với
những kiến trúc sư biết rộng về kiến trúc Phật giáo.
Chùa phải được giữ gìn sạch sẽ, trang nghiêm và thanh tịnh.
Ngoài những ngày có đại lễ, hội họp, chùa phải là nơi
thanh tịnh để làm nơi sinh hoạt tâm linh. Làm thế nào
để mỗi khi tâm hồn xáo trộn bất an, ta lên chùa thì sẽ
nhờ không khí trang nghiêm thanh tịnh ấy mà tìm lại được
an vui và trầm tĩnh. Giữ gìn cho chùa cái không khí trang
nghiêm thanh tịnh ấy không phải chỉ là bổn phận của thầy
trụ trì mà còn là bổn phận của mỗi chúng ta nữa.
Chú Bảy thường nói với các bà hay tới làm công quả cho
chùa: “Quý cô bác đóng góp công của vào công việc Phật
sự thì công đức không thể kể xiết. Nhưng nếu quí
cô bác còn giữ được cho chùa không khí trang nghiêm thanh
tịnh nữa thì công đức lại còn lớn lao hơn”. Ý của
chú Bảy là quý cô bác thỉnh thoảng cứ đem chuyện tranh
chấp dưới xóm ra nói và bình phẩm. Ðáng lý đến chùa,
ta chỉ nên nói chuyện xây dựng mà thôi.
Ủng
Hộ Phật Sự Của Chùa
Có
nhiều Phật tử sốt sắng đóng góp công của cho chùa chỉ
vì niềm vui được thấy chùa mình khang trang đẹp đẽ.
Một ngôi chùa đẹp và có đủ tiện nghi cho sự tu học đã
đành là một chuyện quý, nhưng nếu ta đóng góp công của
vào những dự án học hỏi, tu tập và phụng sự do chùa tổ
chức, thì đó mới là thực sự xây dựng cho chùa. Chúng
ta ai cũng thấy chùa đất Phật vàng là quý hơn chùa vàng
Phật đất: Một ngôi chùa tráng lệ mà bên trong không có
những sinh hoạt học tập giáo lý, những ngày tĩnh tu, những
buổi lễ sám, những cuộc hội thảo đàm luận về phương
pháp áp dụng đạo Phật trong đời sống thường nhật…
một ngôi chùa như thế thì chỉ là cái vỏ trống không.
Ta phải bàn tính với nhau. Trong trường hợp tại chùa
không có thầy lãnh đạo, ta phải biết hợp nhau mà liên lạc
với giáo hội tỉnh hay giáo hội trung ương.
Phải
Học Mới Thực Sự Biết Hành
Ông
Tư ở xóm Thượng luôn luôn nói rằng theo đạo Phật, ông
chỉ cần tu tâm, làm lành lánh dữ là đủ. Ông nói như
vậy thì không ai cãi ông được bởi vì chính đức Phật
đã dạy: “Ðừng làm các điều dữ, vâng làm các điều
lành, gạn lọc tâm lý mình, là lời chư Phật dạy”.
Nhưng ta cũng biết rằng ông Tư tuy nói đúng, nhưng điều
ông Tư nói chính ông Tư cũng không hiểu. Làm lành lánh
dữ, phải rồi, nhưng LÀM LÀNH là làm như thế nào, LÁNH DỮ
như thế nào, nếu ta hỏi thì ông Tư không trả lời được.
Lại còn TU TÂM nữa, ông Tư áp dụng phương pháp nào để
tu tâm? Thật ra ông Tư chỉ nói để mà có nói chứ không
thực sự biết con đường tu tâm, làm lành lánh dữ.
Cũng vì lý do đó mà ông Tư cũng cần đi chùa học Phật như
các bà con khác.
Ở
chùa Long Thành, các Phật tử hội họp để đàm luận về
việc tổ chức quỹ tương trợ để giúp đỡ những người
rủi ro bị bệnh tật và mất mùa. Ðó là một cách LÀM
LÀNH. Các Phật tử chùa Long Thành cũng bàn luận về
việc bài trừ rượu chè cờ bạc trong xóm bằng cách tạo
ra những môn giải trí lành mạnh. Ðó là một hình thức
LÁNH DỮ. Bớt ích kỷ, biết lo lắng cho lợi ích chung,
biết nghĩ tới người khổ cực, tập hỷ xả không giận
hờn, không cố chấp… đó là TU TÂM. Tất cả những
điều đó cần phải học hành và thực tập có phương pháp
mới có thể thành công. Ðâu phải chỉ nói suông mà
được. Chùa chính là trung tâm của sự học hành và
thực tập giáo lý đạo Phật. Phật tử góp sức vào
việc tổ chức những lớp giáo lý tại chùa cho mọi giới
già cũng như trẻ. Phật tử lại tham dự vào những dự
án nhằm áp dụng những điều đã học trong việc tu tĩnh
tu tâm, cải tiến đời sống y tế, kinh tế, giáo dục và
tổ chức của xóm làng hay khu phố.
Phụng
Sự Chúng Sanh Là Cúng Dường Chư Phật
Có
bao nhiêu là vấn đề trong thôn làng hay khu phố cần phải
giải quyết. Nếu những vấn đề ấy đáng được xóm
làng và khu phố giải quyết thì Phật tử nên tham dự góp
công góp của vào những nỗ lực này. Nếu có những
vấn đề giáo dục, vệ sinh, y tế và kinh tế cấp bách mà
chưa ai nghĩ tới, chưa có cố gắng nào để giải quyết,
thì Phật tử nên họp nhau tại chùa trong không khí thương
yêu và trầm tĩnh để tìm ra những phương pháp và dự án
giải quyết tốt đẹp trên tinh thần tự nguyện. Một
khi chùa khởi xướng, một công tát cải tiến và phát triển
dù trong lãnh vực kinh tế giáo dục hay y tế, tất cả mọi
Phậtt tử trong vùng phải tham gia tích cực và đẩy mạnh
công tác cho đến thành công. Ta hãy nhớ lời Phật dạy:
“Phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật”.
Trong trường hợp của chúng ta, chúng sanh không phải là ai
xa lạ mà là bà con, cô bác trong xóm, kể cả chính chúng ta
và con cháu chúng ta nữa.
Chùa
Linh Phong tổ chức nhà giữ trẻ trong xóm. Không những
nhà giữ trẻ thu nhận trẻ em con nhà Phật tử mà là thu nhận
trẻ em các gia đình theo tôn giáo khác nữa. Phật tử
chùa Linh Phong như thế đã thực hành được lời dạy lục
hòa và bình đẳng của Phật. Chùa còn dự tính tổ chức
hợp tác xã rau cải, và quỹ tín dụng. Ðó, như thế
ngôi chùa mới thực xứng đáng là nơi học tập và thực
hành đạo Phật. Tuy nhiên các vị tăng sĩ và Phật tử
không muốn đặt văn phòng làm việc tại chùa, sợ chùa trở
thành nơi náo nhiệt. Họ đặt trường học, văn phòng,
vựa chứa hàng hóa ở những trụ sở khác, dành cho chùa không
khí thanh tịnh trang nghiêm rất cần thiết cho chùa. Tuy
vậy, ai cũng biết chùa là trái tim của mọi công tác áp dụng
đạo Phật.
Ủng
Hộ Người Thực Hành Chánh Pháp
Trong
ý nguyện thực hành những lời Phật dạy. Phật tử
nên biết kính trọng và hổ trợ cho những vị tăng sĩ có
can đảm làm theo chính pháp và đáp ứng được những nhu
cầu chân thực của con người trong xã hội mới. Vị
tăng sĩ nào cũng trải qua một thời gian ở tu viện hay Phật
Học Viện, ở đó các vị tăng sĩ học Phật, và thực tập
phương pháp tu dưỡng tâm linh. Khi một vị tăng sĩ rời
tu viện đi hành đạo tại một địa phương, thì vị tăng
sĩ đó chia thì giờ của mình làm hai phần: Một phần để
tiếp tục công việc tu tâm thiền quán, một phần hướng
dẫn Phật tử địa phương học Phật và áp dụng đạo Phật
trong cuộc đời. Biết vậy ta nên kính trọng thì giờ
tĩnh tu của vị tăng sĩ, bởi nhờ có thì giờ tĩnh tu đó
mà vị tăng sĩ có khả năng lãnh đạo tinh thần cho địa
phương. Nhưng công tác giảng dạy Phật pháp và hướng
dẫn Phật tử địa phương học Phật và thực hành Phật
giáo cũng quan trọng không kém. Có những vị tăng sĩ
chỉ hướng dẫn Phật tử học Phật, tụng kinh, sám hối,
cầu an và cầu siêu. Nhưng có những vị tăng sĩ lại
tha thiết đến sự áp dụng đạo Phật trong đời sống hàng
ngày ở gia đình, ở thôn làng và ngoài xã hội. Thỉnh
thoảng ta gặp những vị tăng ni trẻ chuyên làm việc xã hội,
biết tổ chức trường học, nhà giữ trẻ, lập hợp tác
xã nông nghiệp vân vân… Giáo Hội Phật Giáo hiện đang chủ
trương đem đạo Phật áp dụng vào cuộc đời để phát triển
xã hội, nâng cao nhân phẩm và mức sống của người dân.
Nếu ta thấy có những vị tăng ni biết thao thức thực hành
đạo Phật vào xã hội, đó chính là vì họ đã học theo
chủ trương tiến bộ của Giáo Hội. Chúng ta nên gần
gũi và hỗ trợ họ. Trái lại có thể có một số tăng
sĩ chỉ biết chiều đãi người cư sĩ mà không thể hiểu
được tinh thần đạo Phật, xem đạo Phật như là một phương
tiện sinh sống, ta không nên ủng hộ những vị này.
Trách
Nhiệm Về Hội Ðồng Giáo Hội Trung Ương
Ta
phải tìm hiểu đường lối và công việc của Hội Ðồng
Lãnh Ðạo Giáo Hội Trung Ương. Theo hiến chương của
Giáo Hội Phật Giáo, các cấp lãnh đạo Phật Giáo đều do
Phật tử công cử Viện Tăng Thống do đức Tăng Thống lãnh
đạo gồm có Hội Ðồng Trưởng Lão, gồm nhiều vị đạo
đức cao trọng trong toàn quốc, đại diện cho đức độ và
sự lãnh đạo tinh thần của Giáo Hội Viện Hóa Ðạo gồm
có bảy tổng vụ, phụ trách các ngành tùng sự, cư sĩ giáo
dục xã hội, thanh niên, văn hóa và tài chính kiến thiết.
Ta nên tìm hiểu cơ cấu tổ chức của Giáo Hội và đường
lối của Giáo Hội để ủng hộ và để góp ý. Nếu
ta nhận thấy Giáo Hội không đi con đường mà ta mong ước,
ta nên tự do nói lên ý nghĩ của ta và tìm cách ảnh hưởng
tới đường hướng của Giáo Hội. Một trong những điểm
của đạo Phật là tinh thần tự do: Mọi người Phật
tử đều có trách nhiệm, bổn phận và quyền phát biểu và
hành động. Bằng cách tham dự vào giáo hội địa phương,
và đứng trên cương vị Giáo Hội địa phương, mọi người
Phật tử đều có thể ảnh hưởng tới đường lối của
Giáo Hội Trung Ương và do đó có thể thay đổi đường lối
Giáo Hội Trung Ương. Sở dĩ ta có thể làm được như
vậy chính là vì đạo Phật có tinh thần dân chủ và Giáo
Hội đã được tổ chức như một cơ cấu dân chủ.
Ta
nên tìm hiểu lập trường của Giáo Hội về hòa bình, về
thống nhất, về xây dựng dân chủ và xã hội. Nếu
đường hướng ấy chưa được rõ ràng với ta, ta sẽ yêu
cầu các cấp Giáo Hội làm cho sáng tỏ hơn. Như vậy
trong lúc tìm hiểu học tập, ta cũng xây dựng được cho Giáo
Hội. Ta cũng cần đòi hỏi Giáo Hội những chương trình
thực tiễn xây dựng về giáo dục cũng như về xã hội, về
thanh niên cũng như về tăng sự, để chúng ta có thể ủng
hộ và cộng tác.
11.
Dung Hợp Hòa Đồng
Đạo
Phật có nhiều pháp môn: Phật tử phải biết chấp nhận
những quan điểm hành đạo khác với quan điểm hành đạo
của mình. Phật giáo không những gồm có bắc tông nam
tông mà còn được chia ra nhiều tông phái. Sự dị biệt
đó là do những điều kiện tâm lý xã hội và kinh tế khác
nhau. Tuy đạo Phật có nhiều phân phái, nhưng giữa các
phái Phật giáo từ mấy ngàn năm nay từng có xung đột bao
giờ. Đó là do ở tinh thần tự do và bao dung của đạo
Phật. Áo vàng, áo nâu, nguyên thí, đại thừa, thiền
tịnh độ, khất sĩ, trú trì, ẩn sĩ, tác viên… có nhiều
hình thái tăng sĩ Phật giáo khác nhau, có nhiều đoàn thể
Phật giáo khác nhau. Phật tử nên tìm hiểu để thấy
được cái hay của mỗi truyền thống, mỗi tổ chức để
thấy được cái hay của mỗi truyền thống, mỗi tổ chức.
Nhờ vậy chúng ta học được cái hay của nhau. Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất gồm có cả Phật Giáo Đại
Thừa và Phật Giáo Nguyên Thỉ. Hai truyền thống này
đã từng chứng tỏ có thể cộng tác với nhau mật thiết
trong khi mỗi truyền thống vẫn giữ được cách hành đạo
của mình. Cố nhiên trong đạo Phật có nhiều khuynh hướng
hành đạo khác nhau: Khuynh hướng chuyên về nghi lễ,
khuynh hướng chuyên về thuyết giảng, khuynh hướng chuyên
về ẩn cư, khuynh hướng chuyên về xã hội, vân vân… Ta
nên làm thế nào cho các khuynh hướng ấy bổ túc cho nhau và
tránh mọi tranh chấp phê phán chỉ đem lại sự chia rẽ trong
nội bộ Phật giáo.
12.
Thái Độ Cởi Mở
Đối
với những người không cùng tôn giáo. Phật tử cũng
giữ thái độ cởi mở để tìm hiểu, đối thoại, thiết
lập thông cảm và cộng tác với họ trong những chương trình
phát triển ích nước lợi dân. Đạo Phật không phải
là đạo hẹp hòi, cố chấp. Có nhiều người tự cho
là Phật tử mà thật ra rất cố chấp, hẹp hòi còn hơn những
người không theo đạo Phật. Điều đó cũng do thiếu
sự học hỏi và thực hành giáo lý. Trong những dự án
bài trừ mê tín, cờ bạc, rượu chè, trong những dự án trường
học, nhà trẻ, hợp tác xã… ta nên trân trọng mời các bạn
không cùng tôn giáo cộng tác. Nếu họ là người tốt
và có khả năng ta có thể ủy cho họ những trách nhiệm lãnh
đạo mà không cần ngần ngại gì.
Hôm
ba mươi Tết các em thiếu niên Phật tử làng Cầu Kinh đi
dán giấy hồng điều hình trái trám tại các nhà trong xóm.
Những mãnh giấy hồng điều này có viết phước, lộc, thọ,
đức, hòa, bi, trí... bằng chữ nho, ý là để làm tươi cửa
nhà và chúc tết luôn. Nhà nào cũng được dán hai mảnh
hồng điều hai bên cửa ra vào, và nhà nào cũng hoan hỷ.
Nhưng khi tới nhà bác Lê, một gia đình Công Giáo, các em ngần
ngại. Không phải là các em muốn kỳ thị tôn giáo: Các
em chỉ ngại mình là Phật tử mà dán giấy hồng điều chúc
Tết nhà Công Giáo theo kiểu Phật giáo thì có làm phật lòng
những người bạn Công Giáo hay không. Nhưng các em cũng
không dám bỏ đi, bởi vì như thế thì tỏ ra kỳ thị tôn
giáo. Các em đứng ở trước cổng một hồi lâu.
Bỗng có một em nảy ra ý kiến: “Chúng ta phải vào và lễ
phép hỏi xem gia đình bác Lê có muốn dán giấy hồng điều
chúc tụng không. Nếu muốn thì ta dán. Nếu không
thì ta đi, như thế khỏi mang tiếng kỳ thị”. Kết
quả là các em vào xin phép bác Lê và nói cho biết sự do dự
của các em. Bác Lê rất thông cảm. Bác nói: “Các
cháu khỏi phải dán, bác cảm ơn các cháu. Và tuy các
cháu không dán, bác cũng thấy như các cháu đã dán rồi”.
Thái độ của các em thiếu niên Phật tử ấy đã phản chiếu
được tinh thần đạo Phật. Phật tử ấy đã phản
chiếu được tinh thần đạo Phật.
Trong
tình trạng xã hội ta, sự thông cảm và cộng tác giữa các
tôn giáo rất cần thiết. Chúng ta hãy cố gắng phá vỡ
thành kiến và sự sợ hãi giữa những người không cùng tôn
giáo, và làm như thế ta phụng sự cho xã hội. Không
những đối với những người không cùng tôn giáo mà đối
với những người có nhận thức khác ta về cuộc đời cũng
phải đối xử như vậy.