Chương
4: Xây Dựng Xóm Làng (hay khu phố)
Xây
Dựng Từ Dưới Lên Trên
Sự
tu dưỡng bản thân, sự xây dựng gia đình và quốc gia tùy
thuộc mật thiết vào sự phát triển xóm làng và khu phố.
Cố nhiên đời sống xóm làng tùy thuộc đời sống quốc
gia và quốc gia có độc lập và tự do thì xóm làng mới dễ
phát triển. Nhưng trái lại độc lập và tự do quốc
gia một phần cũng do những cố gắng trong phạm vi xây dựng
xóm làng. Nếu ta sống trong xóm làng hay khu phố mà chẳng
làm được gì tối thiểu cho xóm làng và khu phố thì ta chẳng
mong gì có đủ khả năng phụng sự quốc gia. Phải thực
hiện tự do, dân chủ và công bình, xã hội ngay trong xóm làng
và khu phố của mình, dù rằng sự thực hiện này không được
hoàn toàn và tùy thuộc đến tình hình chung của cả nước.
Ta phải biết bắt đầu xây dựng TỪ DƯỚI LÊN TRÊN.
Trường
Học Địa Phương
Trước
hết, ta hãy góp sức xây dựng trường học địa phương về
các phương diện trường ốc, chương trình và giáo chức.
Giáo dục là một khía cạnh quan trọng của công cuộc phát
triển cộng đồng. Ta phải có bổn phận kiểm soát,
cải tạo và bồi đắp nền giáo dục của thời đại ta.
Nếu ta nghĩ rằng chương trình giáo dục phải để hoàn toàn
cho bộ quốc gia giáo dục định đoạt và giao phó tất cả
cho bộ thì ta đã thiếu trách nhiệm. Một ông bộ trưởng
giáo dục có bằng cấp ngoại quốc, không biết nhiều về
tình trạng Việt Nam sẽ không thể lãnh đạo nền giáo dục
quốc gia. Ta phải đặt câu hỏi: Nền giáo dục hiện
tại ở trường làng, trường quận hay trường khu phố đưa
con em ta đến đâu? Chuẩn bị cho chúng những gì để
chúng ra đời? Sự học hành của con em ta có liên hệ
gì đến đời sống của xóm làng của chúng không? Lâu
nay nhiều người trong chúng ta cứ cho rằng mục đích của
sự học là nhắm tới một văn bằng với mục đích mưu sinh.
Không những điều bậc cha mẹ nghĩ như thế và nhiều người
trẻ cũng nghĩ như thế. Trường học trở thành một
thứ công cụ để chọn lọc và hạn chế. Không ta phải
để cho trường học đóng vai trò quan trọng của nó.
CHƯƠNG
TRÌNH HỌC PHẢI LIÊN HỆ MẬT THIẾT VỚI THỰC TRẠNG ĐỊA
PHƯƠNG
Ví
dụ trong làng Vân Thủy, trẻ em và người lớn nhiều người
bị bệnh đau mắt, mắt đỏ cả lên. Ấy vậy mà trong
trường tiểu học làng, suốt năm các thầy giáo chỉ dạy
có một bài vệ sinh về bệnh đau mắt; học trò học thuộc
lòng và trả bài bệnh đau mắt dài tới một trang giấy học
trò. Đến khi thầy giáo chuyển sang dạy bài bệnh thương
hàn, thì bệnh đau mắt trong làng vẫn không vì sự giáo dục
mà giảm bớt.
Ở
làng Cầu Khê ba năm trước đây người ta cũng bị đau mắt
nhiều như vậy. Nhưng từ khi thầy giáo Liêm về dạy
ở trường tiểu học Tình Thương thì dân làng bắt đầu
cộng tác với nhau chống bệnh đau mắt, và trong vòng bốn
tháng, bệnh đau mắt bị quét sạch. Thầy giáo Liêm bàn
với các thầy giáo khác mở một cuộc vận động (họ gọi
là một “chiến dịch”) chống bệnh đau mắt. Đầu
tiên, học sinh trong trường được dạy kỹ lưỡng về bệnh
đau mắt, tự nguyện thực hành những điều đã học để
chữa lành mắt của chính mình. Ngày nào vấn đề bệnh
đau mắt cũng được nói tới ở học đường. Các em
học sinh cộng tác với thầy giáo mình về những bích chương,
tổ chức một buổi trình diễn nhạc kịch ca vọng cổ về
vấn đề bệnh đau mắt. Một em học sinh trước đó
bị bệnh đau mắt nay đã lành, đứng lên kể chuyện đau
mắt của mình, và tỉ mỉ kể làm sao mà em chữa lành được
bệnh đau mắt. Các thầy giáo và học sinh của họ đẩy
cuộc vận động cho tới thành công mới thôi. Có nhiều
anh và nhiều chị trong làng cộng tác với họ; không những
họ chỉ dẫn, làm “áp lực tinh thần” để mọi người
lo trị cho hết bệnh đau mắt mà họ còn tìm đến tận nơi
những người có bệnh đau mắt để giúp đỡ săn sóc nữa.
Nhưng
trong làng Cầu Khê không phải chỉ có vấn đề bệnh đau
mắt. Dân làng ở đây phần lớn sống về ngư nghiệp,
đời sống rất cực khổ mà dân làng ít có ai khá giả lên
được. Có cậu học sinh nào học khá thi xong tiểu học
liền tìm lên tỉnh kiếm việc không chịu ở lại làng đem
cái học của mình mà làm cho làng có tổ chức hơn, ít nghèo
đói, ít bệnh tật hơn. Các thầy giáo, cô giáo trường
Tình Thương đã nghe lời đề nghị của thầy giáo Liêm, chỉ
dạy học sinh mình một cách tổng quát về các môn ít có
dính líu nhiều đến đời sống dân làng. Ví dụ về
sông ngòi họ chỉ dạy sơ qua về con sông Thames ở Anh, dạy
nhiều hơn một chút về sông Hồng ở Bắc và dạy rất kỹ
về con sông Cửu Long chảy qua làng Cầu Khê. Họ dạy
sơ lược về cách trồng cà phê (đất trong làng không trồng
cà phê được) trái lại dạy rất kỹ về ngư nghiệp.
Cố nhiên trẻ em trong làng biết rất nhiều về nghề đánh
cá; có em mười hai tuổi đã phải đi theo ông chú đánh cá
suốt buổi sáng, chỉ có thể đi học buổi chiều, và em ấy
biết nhiều hơn thầy giáo Liêm về nghề đánh cá. Nhưng
các thầy giáo biết nhiều chuyện khác mà dân làng không biết.
Ví dụ họ biết về chuyện phát triển ngư nghiệp ở những
địa phương nơi đó kỹ thuật đánh cá đã được cải tiến
rất nhiều, về chuyện tổ chức hợp tác xã ngư nghiệp trong
đó có ngư dân chung sức và chung vốn nữa để đạt được
những lợi tức quan trọng hơn. Hợp tác xã là một phương
thức để phá vỡ cái vòng tròn nghèo khó. Các thầy
giáo được dân làng mến chuộng, những buổi tiếp xúc chuyện
trò đang đi dần đến chuyện thành lập hợp tác xã.
Sở
dĩ các thầy giáo ở đây có thể thay đổi chương trình học
cho thích hợp và lợi ích thiết thực là vì đây không phải
là trường của chính phủ lập mà là trường của dân làng
tự đóng góp lập nên. Trường này, từ khi thầy Liêm
tới, đã thay đổi theo chiều hướng trường TIỂU HỌC CỘNG
ĐỒNG, tức là một trường học kiểu mới, học nhiều về
các vấn đề có liên hệ đến đời sống cộng đồng.
Học trò học xong vẫn có thể thi tốt nghiệp tiểu học như
những trường khác, bởi vì hiện nay trường cộng đồng
đã được bộ giáo dục công nhận. Các thầy giáo ở
trường Tình Thương tổ chức luôn tại trường những buổi
học cho các cô bác chưa biết đọc biết viết, các lớp học
về y tế, vệ sinh, hợp tác xã… Ta có thể nói rằng đây
là một trường học mà chương trình liên hệ mật thiết
với đời sống dân làng. Nhiều bậc phụ huynh gặp khó
khăn trong vấn đề giáo dục con em: đôi khi những nguyên nhân
ấy nằm ở học đường và ngoài xã hội. Sự liên lạc
và cộng tác giữa phụ huynh học sinh, và các giáo chức tại
học đường trở nên rất cần thiết trong trường hợp này
cũng như trong nhiều trường hợp khác.
Phần
lớn trong chúng ta chỉ mong cho con cháu thi đậu, có bằng cấp,
chớ ít để ý đến nội dung của nền học vấn con em.
Con em học toán giỏi, Anh văn Pháp văn giỏi, thế là tốt
rồi, chúng ta nghĩ. Chúng ta nên biết làm mất mười
mấy năm trời ở học đường chỉ với một mục đích là
kiếm một văn bằng thì đó là một sự phung phí thời gian
rất lớn. Có bao nhiêu người có bằng cấp cao mà nhân
cách và đời sống rất thô lậu và thấp hèn. Con cái
chúng ta đi học không phải chỉ vì để có bằng cấp mà
là để nên người. Do đó giáo dục học đường phải
đáp ứng lại hoài vọng của ta, ta phải lưu tâm và tìm mọi
cách để ảnh hưởng tới đường lối giáo dục học đường.
Những tổ chức phụ huynh học sinh có thể ảnh hưởng tới
trường học và đường lối của bộ quốc gia giáo dục.
Tham dự vào những tổ chức ấy, đồng thời giữ liên lạc
với các giáo chức tại trường và theo dõi sự học hành
của các con, ta sẽ ảnh hưởng giáo dục học đường.
Nếu phòng xá và trường ốc thiếu, ta bàn nhau trong xóm làng
hay trong khu phố, tìm cách xây dựng thêm, dù là đơn sơ, miễn
có chỗ cho con cháu học hành. Nếu chương trình quá xa
cách với sự sống, ta bàn nhau cùng tỏ ý với ban tổ chức
tìm cách thích ứng chương trình với sự sống. Nếu
giáo chức không xứng đáng, ta can thiệp để đổi thay.
Tóm lại ta phải có trách nhiệm về học đường trong xóm
làng hay khu phố ta ở.
Công
Tác Xã Hội
Tại
trường học, tại phòng thông tin hay trong trung tâm thanh niên
hoặc nhà việc ta nên cộng tác với các giáo sư để tổ
chức những lớp học về vấn đề thực hiện vệ sinh công
cộng, bài trừ cờ bạc, bài trừ văn chương và phim ảnh
đồi trụy. Ta cũng nên cộng tác trong việc tổ chức
và tham dự vào những sinh hoạt lành mạnh như thiết lập
phòng đọc sách công cộng trình diễn ca kịch, du ngoạn, cắm
trại, thể thao, hội chợ, hội chùa… Nếu người lớn và
trẻ em đi tìm những loại giải trí có hại như uống rượu,
đánh bạc… đó là vì xóm làng hay khu phố không có những
tổ chức giải trí lành mạnh. Ta chớ nên lấy cớ là
không có thì giờ để từ chối đóng góp công của vào các
sinh hoạt lành mạnh như thư viện, cắm trại, thể thao, hội
chợ… Trẻ con trong làng cứ mong có dịp bỏ làng lên tỉnh
cũng vì chúng không có giải trí lành mạnh. Vì sinh khí
của làng, vì thế hệ tương lai, phải lưu tâm nhiều đến
những hoạt động này. Giáo sư và học sinh trong các
trường học địa phương nên khởi xướng và tổ chức sinh
hoạt giải trí lành mạnh, kêu gọi sự tham gia của mọi người
trong thôn làng hay khu phố để tạo nên không khí vui tươi
lành mạnh cần có của cộng đồng.
Trong
một làng nghèo, ta vẫn có thể tổ chức được thư viện.
Một căn phòng tại nhà việc, tại trường học, tại chùa
hay tại trung tâm thanh niên, một cái tủ đựng sách báo và
một người phụ trách cho mượn sách mỗi tuần vài lần là
đủ. Sách báo có thể xin ở từng gia đình. Thầy
giáo Liêm đã tổ chức một phòng đọc sách rất đặc biệt.
Với sự giúp sức của các bạn giáo viên và học sinh, thầy
đã mượn và xin được hơn ba trăm cuốn sách và gần một
trăm tờ báo, chưa cũ lắm. Thầy xin phép ông Tám để
đặt phòng đọc sách nơi nhà ông. Nhà ông Tám rộng,
mát cả ngày không có ai. Vườn sau trồng rất nhiều
cây xanh và mát. Thầy Liêm mua tới sáu cái võng.
Mỗi chủ nhật, thầy tới thư viện mắc võng sau vườn, đọc
sách. Các thầy giáo khác và một ít học sinh cũng làm
như thế, và họ khuyến khích nam nữ trong làng làm như thế.
Có nhiều sách rất dễ đọc, nhiều hình ảnh, nhiều hí họa.
Ai muốn tới đọc sách thì tới thứ năm hay chủ nhật, có
người giữ tủ sách, biên tên họ người mượn sách.
Nếu người nào không muốn đọc ngay tại chỗ mà muốn mượn
đem về nhà một tuần hay mươi bữa thì ký tên vào sổ và
hẹn ngày đem trả.
Trong
thôn xóm, ta nên thành lập gia đình Phật tử. Gia đình
Phật tử là một tổ chức giáo dục thiếu niên và nhi đồng
theo tinh thần thương yêu (bi) hiểu biết (trí) và can đảm
(dũng). Các giáo viên học sinh và các con em khác của
chúng ta đều nên tham dự tổ chức này. Về thể thức
tổ chức Gia Đình Phật tử, ta nên liên lạc với Giáo Hội
Phật Giáo địa phương để tìm hiểu. Gia đình Phật
tử, ngoài công việc học tập tu dưỡng, rất có khả năng
tổ chức các sinh hoạt văn nghệ, ca kịch, du ngoạn, cắm
trại, thể thao, hội chợ, hội chùa vân vân… Các thầy giáo
trong trường mà cộng tác với Gia đình Phật tử thì chắc
chắn sẽ gây được nhiều sinh khí lành mạnh vui tươi trong
thôn xóm.
Chấm
Dứt Thái Độ Thụ Động
Thầy
giáo Liêm thường nói với đồng bào cô bác trong làng “TA
KHÔNG NÊN THỤ ĐỘNG NGỒI ĐÓ MÀ CHỜ CHÍNH QUYỀN GIÚP TA
THOÁT KHỎI TÌNH TRẠNG NGHÈO TÚNG, BỆNH TẬT VÀ THIẾU HỌC.
Chúng ta chờ đợi đã quá lâu rồi; chúng ta nên tự mình
xây dựng cho mình trước. “Tinh thần tự lực này quả
là đúng tinh thần “Tự mình thắp đuốc mà đi của đạo
Phật”. Thầy giáo Liêm lại nói: “Bà con cô bác mình
nên HỢP SỨC VỚI NHAU NGAY TỪ BÂY GIỜ ĐỂ BẮT ĐẦU THỰC
HIỆN NHỮNG DỰ ÁN PHÁT TRIỂN XÓM LÀNG VỀ MỌI MẶT Y TẾ,
GIÁO DỤC, KINH TẾ”.
Thật
vậy, vì nghèo nên con cháu trong làng thiếu học, thua sút người
ta. Càng thiếu học thì càng nghèo, bởi vì chỉ khi nào
ta có học thức ta mới biết cách cải tiến đời sống, chống
lại nghèo đói. Rồi cũng vì nghèo mà con cháu ta lại
không được đi học, cho nên vì nghèo mà sinh ra thiếu học,
vì thiếu học mà cứ nghèo mãi. Đó là một cái vòng
lẩn quẩn. Bệnh tật cũng do nghèo và thiếu học mà
ra; bởi vì do nghèo nên không có đủ tiền đi bác sĩ và thuốc
men, do thiếu học mà không biết cách ngăn ngừa bệnh tật.
Bệnh tật cũng nằm chung trong cái vòng lẩn quẩn với nghèo
và thiếu học. Đây cũng là một cái vòng luân hồi cần
phải đập vỡ. Sau đây là những phương pháp đập vỡ
cái vòng lẩn quẩn “thiếu học-nghèo-bệnh tật”, căn cứ
trên giáo lý duyên sinh và tứ diệu đế của đạo Phật.
Kiểm
Điểm Tình Trạng
Học
tập để kiểm điểm và thấy rõ tình trạng kinh tế xã hội
và văn hóa trong thôn xóm và tìm cách đối trị. Đây
là áp dụng sự thực thứ nhất (khổ đế) và sự thực thứ
hai (đạo đế) trong tứ diệu đế. Trong các buổi học
tập như thế, tổ chức tại trường học, chùa hay nhà việc,
thường thường ta tìm ra những nguyên nhân sau đây của sự
chậm tiến:
-
Người dân ít học, ít biết về các vấn đề y tế, kinh
tế, văn hóa và xã hội.
-
Người dân chưa biết cách tổ chức các hợp tác xã sản
xuất và tiêu thụ.
-
Người dân có thái độ thụ động và trông chờ.
-
Người dân không biết tổ chức tương trợ.
-
Người dân chưa dứt bỏ những tập tục và thói quen có hại.
Tổ
Chức Hợp Tác Xã
Tổ
chức và tham dự vào các hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ.
Đây là phương pháp thần hiệu nhất để thắng vượt tình
trạng nghèo khổ. Một cá nhân đơn độc khó mà có thể
vùng vẫy thoát ra vòng tròn nghèo khổ nhưng, nếu nhiều cá
nhân cộng tác với nhau, thì tình trạng sẽ khác hẳn.
Có rất nhiều hình thức hợp tác xã, nhưng tựu trung hợp
tác xã nào cũng là những nổ lực chung của nhiều người
về các phương diện như: vốn liếng, đất đai, nhân lực
và phương tiện. Một nông dân không đủ sức mua nổi
một máy cày, và dù cho có mua máy cày thì cũng phí, bởi vì
nông dân này đất ít nên để cho máy cày nằm không.
Nhiều nông dân hợp lại làm một tổ hợp máy cày: Mỗi nông
dân chỉ cần bỏ ra một số vốn nhỏ thích ứng với diện
tích canh tác của mình, và máy cày phục vụ cho tất cả mọi
hội viên của tổ hợp. Hợp tác xã là như vậy.
Vần công cũng là một hình thức hợp tác xã. Phân công
cũng là một hình thức hợp tác xã. Góp vốn để khai
thác hay canh tác chung cũng là hình thức hợp tác xã.
Tổ chức mua sỉ và chuyên chở hàng hóa về làng rồi bán
lại cho dân làng bằng giá vốn (kể tiền chuyên chở và lương
nhân viên) cũng là một hình thức hợp tác xã. Hợp tác
xã phục vụ cho mọi người, tạo nên sức mạnh chống lại
gian thương, chống lại bóc lột. Làng Trà Lộc có một
hợp tác xã phân bón; dân chúng ai cũng được mua phân bón
với giá rẻ mà lại được mua ngay tại chỗ, khỏi phải
đi xa chuyên chở về. Dân làng lại được chỉ dẫn
cách thức xử dụng phân bón nữa. Còn ở làng Bảo Liên,
từ ngày có hợp tác xã, thím Tư bán trà được giá cao hơn
trước mà khỏi phải đi xa. Cũng ở làng này, từ ngày
có quỹ tín dụng, bà Sáu đã mượn được hai lần tiền
vốn để phát triển trại gà của bà hiện có tới hơn ba
trăm con. Gà của bà bây giờ nuôi theo kiểu mới, không
chết nữa, bởi vì bà cũng tham dự hợp tác xã nuôi gà.
Gà con mua của hợp tác xã, dựng bằng tre cho gà ăn uống
cũng mua của hợp tác xã, rất rẻ: Thực phẩm cho gà ăn cũng
mua của hợp tác xã. Đến khi bán gà, bà chỉ cần bán
cho hợp tác xã, khỏi phải đi xa mà lại bán được giá.
Nhà giữ trẻ làng Vĩnh Phước thật đáng là niềm tự hào
của cả làng. Khu đất thì rộng, cây cối xanh tốt,
xa các chuồng trâu, chuồng heo, chuồng bò nên không khí rất
tinh khiết. Buổi mai trước khi ra đồng, các cô bác ghé
nhà giữ trẻ để gửi con. Bốn người được hợp tác
xã trả lương để giữ tất cả trẻ em nhỏ tuổi trong làng,
tập chúng chơi, dạy chúng học. Từ khi có nhà giữ trẻ,
cô bác trong làng thông thả hơn và yên tâm hơn để lo việc
canh tác sản xuất. Buổi chiều khi đi làm về, họ ghé
tìm con. Đứa nào mặt mũi chân tay cũng đều sạch sẽ.
Áo quần không lấm lem như trước. Lại được học chữ
học số nữa. Có em nào đau bụng hay nhức đầu thì
đã có tủ thuốc của nhà giữ trẻ có chuyện cần hơn thì
một trong bốn người giữ trẻ đi tìm cô y tá xã. Nhà
giữ trẻ cũng là một hình thức hợp tác xã.
Nhất
định là chúng ta phải tổ chức và tham dự hợp tác xã.
Nỗ lực về mọi mặt phát triển chung là một hướng đi
rất thích hợp với giáo lý đạo Phật vốn chủ trương vượt
ra khỏi cái vỏ cứng của bản ngã cá nhân và điều hợp
với những người khác để tạo nên y báo tốt đẹp.
Giáo lý lục hòa (sáu nguyên tắc sống chung hòa hợp) là nền
tảng vững chãi cho đời sống tập thể cộng đồng.
Giáo lý lục hòa hướng đến một thể chế có tính cách
xã hội, nhân bản và tự nguyện. Thực hiện hợp tác
xã là thực hiện giáo lý lục hòa theo tinh thần duyên sinh.
Cải
Tiến Và Phát Triển
Tham
dự vào những buổi học về cải tiến nông nghiệp, phát
triển tiểu công nghệ, cải tiến kỷ thuật chăn nuôi và
ủng hộ mọi dự án thực hiện các công trình này để phát
triển kinh tế địa phương. Nông nghiệp cần được
cải tiến để lượng sản xuất tăng gia. Đứng về
phương diện hạt giống, phân bón, nông cơ và thị trường
cần có nhiều sự đổi mới thì lượng sản xuất mới gia
tăng được. Vấn đề chăn nuôi cũng vậy. Ngoài
việc canh tác và chăn nuôi, ta có thể thiết lập những ngành
tiểu công nghệ nông thôn như làm nón, làm bánh tráng, trái
cây khô, đan tre, đan mây… Những công nghệ này dựa trên
sản phẩm địa phương như tre, mây, đá, đất sét… một
khi phát triển sẽ tăng gia ngân quỹ gia đình. Muốn cho
các công nghệ này phát triển mạnh, chúng ta cũng cần tổ
chức thành hợp tác xã. Ta phải tham gia các hợp tác
xã này bằng vốn liếng, vật liệu hay nhân công.
Tổ
Chức Nghiệp Đoàn
Tham
dự vào các tổ chức nghiệp đoàn để bênh vực quyền lợi
của nông dân và lao động. Ở các nước tiến bộ, các
nghiệp đoàn tổ chức rất chặt chẽ. Các nghiệp đoàn
này có đủ sức chống lại tư bản bóc lột, gian thương
và áp chế bằng cách đoàn kết, tương trợ và đình công.
Nông dân và thợ thuyền nếu không tổ chức thành nghiệp
đoàn thì không thể nào chống lại được những áp chế
và bóc lột. Ta phải tìm hỏi những phương pháp và nguyên
tắc tổ chức nghiệp đoàn và khuyến khích những người
quen biết gia nhập các tổ chức nghiệp đoàn.
Tổ
Chức Tương Trợ
Sống
trong cùng một cộng đồng, ta phải tương trợ nhau những
khi khó khăn, lỡ bước. Nhưng sự tương trợ này phải
được tổ chức hẳn hoi, chớ không phải gặp đâu làm đó.
Sự tương trợ nên được tổ chức trên căn bản hợp tác
xã: Nhiều người cùng giúp một người. Sự tương
trợ có thể thực hiện bằng nhân công, phẩm vật hay tiền
bạc. Cô Ba ở An Cửu, sau khi trở thành góa bụa, không
đủ sức nuôi con đi học. Hợp tác xã tìm cho cô một
việc làm, và cấp hàng tháng số tiền cần thiết cho hai đứa
con của cô có thể tiếp tục theo học. Bù lại cho vốn
hợp tác xã, mỗi hội viên đóng năm đồng một tháng trong
vòng hai năm (chẳng bao nhiêu). Những hội viên hợp tác
xã nào không đóng tiền thì đóng góp mỗi tháng nửa ngày
công cho hợp tác xã. Khi chú Tám bị mất mùa dưa, hợp
tác xã cho vay vốn làm mùa khác và cấp tiền cho chú
chi dụng trong vòng ba tháng. Các hội viên hợp tác xã
cũng đóng góp hoặc bằng tiền bạc hoặc bằng nhân công
cho hợp tác xã để bù lại khoản chi tiêu tương trợ của
hợp tác xã. Như vậy trong một cộng đồng ai cũng góp
phần vào sự cứu trợ những gia đình đang ở vào tình trạng
quẩn bách nhất trong tình trạng khó khăn cũng được giúp
đỡ qua cơn thiếu thốn.
Hướng
Về Nếp Sống Cộng Đồng
Phật
tử không sống một cuộc sống khép kín, nhắm mắt trước
khó khăn cực nhọc của những người chung quanh. THEO
LÝ DUYÊN SINH ĐỜI SỐNG MỌI NGƯỜI CÓ LIÊN HỆ MẬT THIẾT
VỚI NHAU. Nếp sống xã hội cộng đồng rất thích hợp
với người Phật tử. Ta phải chấm dứt thái độ chỉ
biết lo cho mình ta, thái độ nhắm mắt tai ngơ đối với
những vấn đề chung của xóm làng hay khu phố. Nạn cờ
bạc, những đống rác lớn, những đám du đảng và bao nhiêu
tệ đoan khác trong thôn làng, ta phải xem là vấn đề của
chính ta. Trách nhiệm thuộc về mọi người trong thôn
xóm. Thái độ phó mặc, ai chết mặc ai là thái độ
trái chống hoàn toàn với tinh thần đạo Phật. Chừng
nào ta biết đau cái đau của kẻ khác, biết vui cái vui của
kẻ khác, chừng đó ta mới xứng đáng là một Phật tử.
Đạo lý duyên sinh (mọi người nương nhau) và đạo lý lục
hòa (sáu nguyên tắc sống chung hòa hợp) cho ta thấy đạo
Phật quí trọng nếp sống cộng đồng, chia xẻ vui buồn,
hạnh phúc và khó nhọc với kẻ khác. Đạo Phật hưởng
về nếp sống cộng đồng trong tinh thần tự nguyện, bởi
vì đạo Phật chủ trương không ép buộc kẻ khác theo mình
bằng bạo lực. Phật tử tham dự nếp sống cộng đồng
vì nhận thấy nếp sống này biểu lộ được tình thương
yêu và ý hướng tiến bộ. Những nguyên tắc lãnh đạo
nếp sống cộng đồng, theo Phật tử, là ý thức trách nhiệm,
tinh thần tự nguyện và tình thương yêu mà không phải là
những giáo điều hoặc luật lệ sắt thép của những đảng
phái chính trị. Cũng vì vậy mà người Phật tử phải
chú trọng đến đời sống tâm linh, bởi vì nếu thiếu thương
yêu, trách nhiệm và tự nguyện, thì dù có tham dự nếp sống
cộng đồng đi nữa nếp sống cũng trở nên khô khan, bó ép
và khó thở.
Thắp
Đuốc Mà Đi
Về
phương diện quản trị thôn làng hay khu phố, người Phật
tử cần thực sự để tâm vào việc bầu cử hội đồng
xã hay hội đồng khu phố. Nếu nhận thấy có sự mờ
ám gian lận khi bầu cử, phải biết can đảm hợp sức cùng
nhau để phản đối. Nên bàn luận, tìm hiểu và chọn
lọc những ứng cử viên. Khi ta đã bầu xong một ban
lãnh đạo xóm làng, ta phải ủng hộ cho ban ấy làm việc.
Nhất định là ta phải tìm đủ cách cho ban ấy thực sự
làm việc cải tiến đời sống địa phương. Không những
ta có thể góp ý kiến xây dựng, ta còn có thể đóng góp
kiến thức chuyên môn của ta, và khi cần thì có thể đóng
góp cả công lao của ta để hỗ trợ cho ban này làm việc
phụng sự cho xóm làng. Trong trường hợp đặc biệt,
để công việc không ngưng trệ, ta có thể xúc tiến sự thành
lập những ủy ban tư nhân gồm có những người có thiện
chí để tổ chức học hỏi các vấn đề trong làng và tìm
cách phát khởi những công tác, cải tiến và phát triển thôn
xóm. Chúng ta đừng buông xuôi tay khi thấy hội đồng
xã, hội đồng khu phố hay hội đồng tình bất lực.
Ta đừng nói: “Nếu tôi là họ thì tôi sẽ…”. Ta
nên tự hỏi mình: “Họ đã như thế, thì mình với tư cách
người dân, mình phải làm gì?” Tự hỏi như thế để
bắt tay vào việc tự lực xây dựng. Đó mới thực là
đi vào con đường bát chánh, con đường “tự thắp đuốc
mà đi” của đạo Phật.