Chương
3: Xây Dựng Gia Đình
Hạnh
Phúc Gia Đình
Gia
đình là môi trường hoàn hảo nhất để xây dựng đời sống
tình cảm của con người; vậy nên tạo cho gia đình một không
khí đầm ấm hạnh phúc tức cũng là đào tạo nên những
con người có trái tim biết yêu thương, biết trách nhiệm.
Có biết bao nhiêu gia đình đã là những địa ngục trần
gian khó thở và khó sống, ta quyết phải làm đủ mọi cách
cho gia đình ta trở nên ấm cúng và đầy thương yêu.
Chúng
ta phải biết rằng con người không tình cảm thì không phải
là con người. Không biết yêu thương cha mẹ mình và
anh chị em mình thì sẽ khó mà yêu thương được nhân loại.
Vì vậy cho nên Phật tử phải áp dụng phương pháp đạo
Phật trong sự xây dựng gia đình mình thành một cộng đồng
êm ấm và hạnh phúc. Giáo lý duyên khởi, tứ diệu đế
và bát chánh đạo cũng có thể áp dụng rất thích hợp vào
đời sống gia đình. Những Phật tử nào sắp lập gia
đình hay vừa mới lập gia đình chớ nên khinh suất trong công
trình xây dựng này, nếu không muốn tình trạng trở nên khó
khăn về sau.
Chú
Bảy mới lập gia đình cách đây bốn năm và chú đã có một
cháu gái hai tuổi tên là bé Phượng. Là một giáo viên
tiểu học, lương tháng không lấy gì làm to, nhưng chú Bảy
không nghĩ đến cách đổi nghề để làm ra tiền nhiều hơn.
Trái lại, chú yêu nghề và quyết tổ chức đời sống gia
đình mình theo những nguyên tắc đạo Phật, đem thì giờ
và năng lực thực hiện hạnh phúc cá nhân và gia đình theo
giáo lý Phật Giáo. Thím Bảy không phải là người sống
trầm tĩnh nhiều nội tâm như chú, thím còn trẻ mới hai mươi
bốn tuổi, rất đảm đương, hoạt bát, ưa chuộng hành động
hơn tri thức. Chú Bảy không buộc thím Bảy làm giống
như mình; trái lại, chú còn tôn trọng cách sống của thím
và tìm cách bổ túc cho thím. Niềm vui của thím không
những chỉ là chăm sóc bé Phượng, chăm sóc cửa nhà vườn
tược mà còn lo lắng cho các gia đình những trẻ em nghèo
trong xóm. Chú Bảy khuyến khích thím và giúp thím trong
công việc này dù rằng bài vở học trò của chú khá bề
bộn. Chính vì thái độ ấy của chú mà thím Bảy vừa
biết ơn vừa thương kính chú hơn. Thím biết tôn trọng
những giờ tĩnh tâm của chú, biết giữ bé Phượng yên lặng
hay đem bé Phượng đi chơi mỗi khi chồng cần sự yên tĩnh.
Điều quý hóa nhất là thím biết lắng nghe chồng mỗi khi
chú Bảy bàn luận về cách tổ chức đời sống gia đình
theo phương pháp đạo Phật và cộng tác với chồng trong sự
áp dụng những nguyên lý Phật Giáo.
Có
một hôm hai vợ chồng bất đồng ý nhau về một chuyện nhỏ
liên hệ tới giáo dục học đường. Thím Bảy làm chồng
giận vì nói năng vô ý. Chú Bảy biết mình giận nên
ra đi bách bộ ngoài bờ sông tới hai giờ đồng hồ.
Trong hai giờ đồng hồ ấy, chú tĩnh tâm và thấy được
rằng lỗi của thím Bảy rất nhỏ, so với đức hạnh và
con người đẹp cả tinh thần lẫn thể chất của thím.
Và chú thấy chú cần đem thương yêu để sửa chữa lại
cái lỗi bé nhỏ của thím hơn là giận dỗi trẻ con.
Thế là chú về nhà với tâm trạng bình tĩnh, an lạc và nụ
cười trên môi. Hai vợ chồng thương mến nhau nhưng kính
trọng nhau, nhờ vậy mà hạnh phúc lứa đôi rất bền vững.
Chú Bảy không bắt vợ phải nghĩ và làm giống hệt như mình;
chú không quan niệm như ở thời phong kiến rằng vợ là vật
sở hữu của chồng, chồng muốn gì là phải làm theo.
Chú biết trên căn bản nam nữ bình đẳng và với phương
pháp kính trọng nhau, hai vợ chồng có thể xây đắp và duy
trì hạnh phúc theo lời Phật dạy.
Gia
đình gần gũi nhất với gia đình chú Bảy là gia đình ông
Sáu, anh họ của chú. Chú thường hay đến chơi và rất
thân mật với các con của ông Sáu. Chú cũng muốn giúp
gia đình này một cách gián tiếp trong việc áp dụng giáo
lý đạo Phật vào đời sống. Ông Sáu bà Sáu đều theo
đạo Phật, các con đều biết đi chùa lễ Phật, nhưng họ
ít hiểu đạo Phật và không thấy đạo Phật liên hệ nhiều
tới đời sống kinh tế, tình cảm và giáo dục của gia đình.
Chú
Bảy biết là sự xây dựng bản thân vốn thiết yếu căn
bản cho sự xây dựng gia đình, nên đã suy nghĩ kỹ về vấn
đề xây dựng bản thân, và thiết lập những phương tiện
thực hiện.
Hai
Thế Hệ Sống Chung
Hai
thế hệ sống chung dưới mái nhà phải tìm hiểu tâm lý quan
niệm và sở thích của nhau để tạo nên sự hòa hợp, điều
kiện căn bản của hạnh phúc. Trong nhiều gia đình hiện
nay, đã có một sự ngăn cách gây nên bởi sự thiếu hiểu
biết giữa cha mẹ và con cái. Hai thế hệ có những nền
giáo dục khác nhau sinh ra dưới những điều kiện kinh tế
xã hội và văn hóa khác nhau thì cố nhiên là có những tâm
trạng, quan niệm và sở thích khác nhau. Bậc làm cha mẹ
phải tự nhủ rằng thế hệ trẻ bây giờ không thể nào
suy nghĩ và ưa thích như kiểu xưa được, phải cố gắng
tìm hiểu hoàn cảnh, tâm lý và sở thích của con cái để
dùng kinh nghiệm mình mà hướng dẫn họ. Mình phải cởi
mở, nhiều khi phải tùy thuận theo trẻ mà tân hóa một chút
để có thể tạo nên sự cảm thông. Ông Sáu bà Sáu
thường than phiền rằng lớp trẻ bây giờ bất trị, không
dạy được, và không chịu tùng phục cha mẹ như thuở xưa.
Thật ra thì hai ông bà không biết rằng bốn đứa con của
họ đều có thể là những đứa con khá. Xuân Thảo,
cô con gái đầu lòng năm nay hai mươi mốt mới vừa vào trường
sư phạm đầu niên khóa ở Cần Thơ, mỗi tháng hai lần cô
về thăm nhà vào những ngày cuối tuần. Cậu Nguyện
mười chín, năm rồi thi tú tài hỏng. Hà, con gái năm
nay mười bốn và Lộc, con trai mười hai đang học trường
công lập tỉnh. Cả bốn cô cậu đều sẵn sàng nghe
theo ý của cha mẹ, nếu ông bà Sáu biết dùng tình cảm để
hướng dẫn con. Nhưng ông bà Sáu lại cứ nghĩ theo kiểu
xưa, cho rằng cha mẹ có uy quyền tuyệt đối với con cho nên
thay vì lấy thương yêu mà dạy dỗ ông bà lại làm cho con
sợ, có khi dùng đến roi vọt. Nguyện có nhiều khi phản
đối bằng cách không ăn cơm và đi vắng suốt một hai ngày.
Ông bà Sáu không hiểu được cậu con trai mười chín này,
cho rằng cậu ta gan lì, cãi lại cha mẹ, không chịu học hành
đến nỗi thi rớt. Hồi Nguyện thi tú tài rớt, ông Sáu
đã đè Nguyện xuống đánh sáu mươi roi, bầm da nát thịt;
Nguyện bỏ đi suốt một tuần mới về. Mà hễ Nguyện
ló đầu về nhà là lập tức ông chửi mắng.
Chú
Bảy có nói chuyện riêng rất nhiều với đứa cháu mà ông
Sáu cho là một đứa con ngỗ nghịch này. Chú Bảy thấy
trong thái độ chán nản lì lợm của Nguyện những nguyên
do sâu xa. Ông thầy toán của Nguyện không hiểu vì duyên
cớ nào hễ thấy mặt Nguyện là ghét. Suốt năm như
vậy. Suốt năm, Nguyện không học toán được, cuối
năm Nguyện hỏng toán. Cái xe đạp của Nguyện bị mất
cắp hồi đầu niên học, và vì vậy Nguyện cũng đã bị
một trận đòn. Nguyện lại cũng bị ông Sáu phạt nhịn
cơm vì đánh lộn ngoài đường với một anh chàng trạc tuổi
Nguyện, mà không cần tìm biết lý do. Nguyện cho rằng
cả ba lẫn má đều ghét mình, nên không bao giờ nói chuyện
mình với ba má.
Chú
Bảy khuyên ông bà Sáu nên trầm tĩnh để tìm hiểu Nguyện.
Chú nói: “Thời bây giờ ta không thể xem con cái như vật
sở hữu của ta nữa. Ta không nên nghĩ là ta có quyền
bắt chúng phục tùng theo tất cả mọi ý muốn và sở thích
của ta. Giáo dục học đường đã thôi dùng roi vọt
và quyền uy của vị thầy giáo rồi. Giáo dục học đường
đã được cách mạng; thầy giáo chỉ là người hướng dẫn,
làm hiển lộ và phát triển khả năng của học trò mà thôi,
chứ không còn là người có thể bắt buộc học trò phải
nghĩ như mình nghĩ và làm như mình làm. Bậc cha mẹ có
ảnh hưởng lớn lao tới con cái, và ảnh hưởng này được
thực hiện bằng tình thương yêu chứ không phải bằng uy
quyền.
Luân
lý mỗi thời đại mỗi đổi khác, tùy theo quan niệm nhân
sinh của con người. Luân lý của đạo Phật không phải
là một mớ giáo điều chắc nịch mà là những nguyên tắc
linh động phù hợp với sự sống và sự sáng tạo. Đạo
Phật chống lại thái độ cố chấp và giáo điều. Nguyên
tắc đầu tiên của luân lý đạo Phật là thái độ cởi
mở: Phải bỏ hết mọi thành kiến, phải có óc cởi mở
để hiểu được kẻ khác, phải biết đứng vào hoàn cảnh
kẻ khác để mà hiểu kẻ khác; đừng đứng trong cái vỏ
cứng chật hẹp của thói quen để buộc tội và trách móc
họ. Bậc làm cha mẹ phải tự nhủ: Có lẽ mình đã
“xưa” quá rồi, mình phải thích ứng thêm với thời đại
mới một ít mới được. Tìm hiểu tâm lý trẻ bằng
cách nhận xét hoàn cảnh xã hội và học đường của chúng
để có thể thông cảm với chúng nhiều hơn. Mục đích
của luân lý đạo Phật là để gây nên hiểu biết cảm thông
và hạnh phúc, chớ không phải là để gò bó con người trong
sự chịu đựng khổ cực và đầy dẫy phiền muộn căng thẳng.
Nếu đạo đức mà chỉ gây nên phiền não, căng thẳng và
khổ đau thì đó không phải là đạo đức mà là sự cố
chấp. Đừng vì sự cố chấp vào những thành kiến và
những thói quen mà làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.
Xuân
Thảo, con gái lớn của ông bà Sáu, cho rằng ba má cô quá
khắt khe và cổ hủ. Cô rất buồn, không thể đem chuyện
tâm tình mà bàn với ba má, ít nhất là với má. Cách
đây mới hơn một năm, bạn trai của cô gởi thư cho cô, bị
ông bà Sáu bắt được. Ông bà làm như con gái mình đã
hư hỏng, phá hoại danh giá gia đình. Ông bà mắng nhiếc
cô con gái đủ điều. Thời xưa, thời trai trẻ của
hai ông bà, sự giao thiệp nam nữ bị cấm chỉ, nhưng thời
nay khác. Các cô các cậu bây giờ học chung một trường,
trao đổi ý kiến, làm việc xã hội chung, tìm hiểu nhau, biết
giá trị thật của nhau, hay yêu mến nhau, viết thư thăm nhau,
đó là chuyện thường. Theo tiêu chuẩn sinh hoạt xã hội
hiện thời, nhận thư của bạn trai không có gì là trái chống
luân lý đạo đức hết. Thái độ chật hẹp, không biết
thích ứng với thời đại cũng như sự thiếu hiểu biết
chỉ khiến cho sự đầm ấm gia đình chắp cánh bay mất mà
thôi.
Với
lại, con trai con gái bây giờ phải cho họ gặp gỡ nhau, tìm
hiểu nhau, để sau này sự chọn lựa hôn phối của họ được
cân nhắc kỹ càng. Sự giao thiệp nên để tự do, miễn
là trong mức độ lễ giáo. Cha mẹ nên nói chuyện thẳng
thắn và góp ý nhận xét với con cái về sự chọn lựa của
chúng.
Trong
một gia đình tân tiến, sự có mặt của người cha hay người
mẹ không lấn át sự có mặt của những người con, cha mẹ
không xử dụng uy quyền mình để làm cho con cái sợ hãi,
lấm la lấm lét. Phải để cho chúng có mặt với nhân
cách tự nhiên của chúng, miễn là chúng biết tôn trọng kỷ
luật và quyền tự do của kẻ khác trong gia đình.
Con
cái cũng nên biết rằng cha mẹ thuộc vào thế hệ xưa hơn
mình, rằng các vị đã chịu nhiều khổ đau khó khăn và va
chạm trong thời niên thiếu và trong công cuộc mưu sinh nên
dễ trở nên khó tính và cáu kỉnh. Con cái nên cư xử
thế nào để mình trở thành niềm vui và sự tự hào của
cha mẹ. Trước hết phải hiểu mọi nỗi khó khăn của
cha mẹ, phải hiểu những điều kiện và hoàn cảnh xã hội
của cha mẹ, phải ráng làm cho cha mẹ hiểu hoàn cảnh của
mình và sở thích của mình. Đừng giận dỗi hờn lẫy
và trách móc khi các vị chưa hiểu mình. Phải làm đủ
mọi cách để cha mẹ có thể tham dự vào những lo lắng buồn
vui của mình, mà phương pháp hay nhất là phải tham dự vào
những lo lắng buồn vui của cha mẹ.
Hai
chị em Xuân Thảo và Nguyện, trong thâm tâm, cũng biết rằng
hai ông bà xưa và hủ quá, không thể nào hiểu được mình;
có tìm cách giải thích cũng vô ích. Họ có biết đâu
họ cũng có trách nhiệm nặng nề về tình trạng thiếu cởi
mở của gia đình. Họ nông nỗi, chỉ biết hờn biết
giận mà không nghĩ sâu đến công ơn dưỡng dục và ước
vọng của ba má muốn cho mình nên người. Ba má không
hiểu mình thật, nhưng mình phải có bổn phận làm cho
ba má hiểu. Mà muốn làm cho ba má hiểu, trước hết
mình phải hiểu được ba má. Họ sinh ra trong những điều
kiện kinh tế, giáo dục và xã hội khác ta, họ không thể
có tâm trạng ta, cái nhìn của ta. Ta phải lưu tâm ân
cần chia xẻ những mối lo buồn của ba má, rồi dần dần
làm cho ba má hiểu ta. Chú Bảy đã nói với hai chị em
như thế.
Sự
Chia Xẻ Và Tham Dự Của Con Cái
Con
cái phải chia xẻ những lo âu nặng nhọc của cha mẹ và dự
phần vào những quyết định của cha mẹ. Nếu cha mẹ
ít đem những lo âu khó khăn của mình mà bàn với con cái,
là vì họ nghĩ rằng con cái mình đang trẻ dại quá, chưa
biết gì để chia xẻ những lo âu khó khăn ấy với mình.
Cũng là vì con cái thờ ơ, chỉ lo chuyện mình, chỉ biết
đòi hỏi trách cứ mà không biết chia xẻ. Một đứa
bé năm bảy tuổi thấy mẹ buồn đã có thể hỏi mẹ tại
sao mẹ buồn, và dù bà mẹ không thể nói cho con nghe những
lo lắng buồn phiền của mình chỉ vì đứa con còn nhỏ quá
chưa hiểu được, cũng cảm thấy được an ủi phần nào.
Bậc làm cha mẹ nào cũng có những lo âu khó khăn. Con
cái phải ân cần thăm hỏi, trước hết là để hiểu những
lo âu khó khăn đó sau là tìm cách chia xẻ bằng sự lưu tâm
của mình và bằng những cố gắng trong khả năng mình để
giúp đỡ cha mẹ. Sự hiểu biết chia xẻ những lo âu
khó khăn kia, thực ra, cũng đã là một nguồn an ủi lớn lao
cho cha mẹ rồi. Hiểu được cha mẹ, mình sẽ không còn
vô tâm làm những điều gây thêm buồn phiền bực dọc cho
quý vị, mình sẽ không đòi hỏi những điều quá đáng chỉ
làm cho cha mẹ thấy là mình vô trách nhiệm đối với gia
đình.
Con
cái nên được tham dự vào các quyết định của cha mẹ và
tìm cách để được tham dự vào các quyết định này.
Các bậc cha mẹ nếu cho con cái dự phần vào các quyết định
của gia đình, có thể là trong hình thức hỏi ý kiến của
con, thì thể tập cho con ý thức trách nhiệm về những vui
buồn thành bại của gia đình. Loại con cái ra khỏi những
cuộc bàn luận về các vấn đề gia đình cố nhiên sẽ đưa
chúng đến thái độ phó mặc vô trách nhiệm. Bác Tư
có một đứa con trai muốn vào đại học trong khi bác thấy
không đủ sức cho con đi Sàigon. Nhưng bác không gạt
ngang nói “không có tiền, mày sẽ không vào đại học”.
Trái lại, hai bác nói chuyện thân mật với Hùng về tình
trạng tài chánh gia đình, cho Hùng biết mọi chi tiết về
tình trạng này và hỏi con xem nó nghĩ như thế nào, và có
biện pháp gì không. Có thể là Hùng sẽ quyết định
thôi học; có lẽ Hùng sẽ đề nghị kiếm thêm tiền bằng
cách dạy kèm trẻ em mỗi ngày vài giờ để phụ vào ngân
sách gia đình khiến cho sự học của Hùng có thể tiếp tục
ở cấp đại học.
Con
Cái Và Ngân Sách Gia Đình
Con
cái từ mười bốn tuổi trở đi nên được dự phần vào
việc bàn cãi ngân sách gia đình. Không những điều này
làm khiến cho con cái trở thành có trách nhiệm trực tiếp
về sự sống gia đình mà còn khiến cho chúng sớm biết lo
lắng xây dựng cuộc đời của chúng. Gia đình phải
thực sự là một cộng đồng ruột thịt, tiền bạc do một
người trong gia đình làm ra phải thuộc về toàn thể gia đình.
Người cha chẳng hạn, làm ra tiền bạc, người mẹ chăm sóc
cửa nhà, nuôi nấng con cái. Các con có bổn phận phải
học hành tu dưỡng để nên người, đồng thời giúp đỡ
cha mẹ được gì thì giúp. Ngân sách gia đình là ngân
sách chung, người cha không nên cho rằng tiền mình làm ra thì
mình tự ý tiêu xài, đưa cho vợ con chừng nào thì tùy ý
thích của mình. Trừ ra khi con cái còn bé nhỏ quá chưa
biết gì thì không kể; còn lúc con cái đã đến tuổi biết
suy nghĩ và chia xẻ trách nhiệm thì các bậc cha mẹ nên cho
chúng biết rõ tình trạng ngân sách gia đình. Một
khi con cái đã được quyền biết đến và góp ý bàn cãi
về ngân sách gia đình thì tự khắc chúng biết từ bỏ những
đòi hỏi không hợp lý. Trái lại, chúng biết lo lắng
và thương yêu tin cậy cha mẹ hơn. Chia xẻ trách nhiệm
lo lắng về ngân sách gia đình, biết chung để lo chung và
quyết định chung về vấn đề ngân sách là thực hiện tinh
thần “lợi hòa đồng quân” trong đạo Phật.
Sự
Giàu Có Không Phải Là Hạnh Phúc
Mọi
người trong gia đình không nên nghĩ rằng hạnh phúc gia đình
là kết quả của sự đạt tới đầy đủ mọi tiện nghi
vật chất. Có nhiều bậc cha mẹ vì nghĩ rằng tiện
nghi vật chất là hạnh phúc gia đình, nên đã dành hầu hết
thì giờ của cuộc sống vào các cuộc kinh doanh, bỏ phế
sự sinh hoạt gia đình và xao lãng bổn phận đối với con
cái. Thực ra những tiện nghi vật chất căn bản cần
thiết cho hạnh phúc gia đình thật, nhưng chúng ta không thể
nói rằng đến mức nào những tiện nghi ấy được gọi là
đầy đủ. Nếu vì những tiện nghi này mà sinh hoạt
gia đình bị bỏ rơi, không khí thân mật ấm cúng không còn
mọi người có cảm tưởng là sống trong một quán trọ, thì
đó đã là một sự thất bại lớn. Ta phải sắp đặt
thế nào để gia đình thật sự trở nên một tổ ấm, một
nơi ai cũng muốn trở về những lúc mệt mỏi. Giờ cơm
chiều và giờ xum họp buổi tối sau bữa cơm chiều, dưới
ánh đèn… những giờ giấc sinh hoạt gia đình như thế không
thể không có. Có nhiều gia đình giàu có nhưng không
có hạnh phúc. Có nhiều gia đình như gia đình ông giáo
Năng chẳng hạn, tuy chỉ đủ ăn đủ mặc, nhưng đầy đầm
ấm thương yêu. Mọi người trong gia đình từ cha mẹ
đến con cái đều để tâm xây dựng hạnh phúc gia đình,
bằng sự hiểu nhau, tin nhau và yêu mến nhau. Hạnh phúc
gia đình họ lại cũng do sự đồng tâm nhất chí. Không
những chỉ là sự đồng tâm nhất chí để đạt tới một
nền tảng kinh tế tạm vững chãi cho gia đình, mà còn là
sự đồng tâm nhất chí để thực hiện lý tưởng xây dựng
con người và xã hội nữa.
Minh
và em gái là Trâm là những thiếu niên có lòng có chí.
Ông giáo dạy con thế nào mà cả hai đều rất tự hào về
cha mẹ mình. Không bao giờ phân bì là nhà mình nghèo
hơn nhà các bạn. Minh và Trâm cộng tác đắc lực với
ba trong những công việc vận động giáo dục mới mà ông
giáo Năng đề xướng trong tỉnh, như tổ chức diễn thuyết
về phương tiện giải trí lành mạnh, tổ chức văn nghệ
thiếu nhi, phát động phong trào chống đối sách báo văn nghệ
đồi trụy… Người ta thấy ba cha con ông giáo Năng thân ái
với nhau như những người bạn, những người đồng chí.
Một bữa trưa chủ nhật trong khi ba cha con cùng với một số
học sinh làm việc cực nhọc nhưng hăng hái ngoài sân vận
động để dựng sân khấu chiếu phim giáo dục bài trừ bệnh
sốt rét, người ta thấy bà giáo Năng đem nước đá chanh
muối cho mọi người uống. Bà tươi cười ở lại phụ
giúp công việc một cách hăng hái chừng một tiếng đồng
hồ trước khi xách giỏ về làm công việc nhà. Cả gia
đình thuận thảo sống trong hòa khí ấm áp vì hiểu nhau,
thương nhau và có chung chí hướng.
Nếu
mục đích của cha mẹ chỉ là để nuôi con ăn học để sau
này con mình có thể có địa vị trong xã hội và nếu mục
đích của các con cũng chỉ có từng ấy, thì chí hướng theo
đuổi của gia đình có vẻ quá nghèo nàn và hẹp hòi.
Lý tưởng của đạo Phật dạy ta phải xây dựng những con
người xứng đáng, biết lo lắng cho những người thân yêu
nhưng cũng biết lo lắng cho kẻ khác, cho quốc gia xã hội.
Xã hội đầy dẫy những đau khổ, bất công, nghèo đói…
chí hướng của người Phật tử không phải để giành giật
một địa vị trong xã hội đó mà là để đạt tới khả
năng thay đổi xã hội đó. Những câu chuyện trong gia
đình ông giáo Năng không bị giới hạn trong các vấn đề
thuộc phạm vi đời sống gia đình như vật giá, thực phẩm,
bạn bè, học hành… họ đề cập tới các vấn đề của
thôn xóm, quốc gia, xã hội. Mọi người trong gia đình
biết lưu tâm đến những khổ đau của đồng loại mình,
những tệ đoan về văn hóa, kinh tế và xã hộì trong thôn
xóm, quốc gia, xã hội… và biết un luyện cho mình lý tưởng
đại thừa của Phật giáo để nghĩ tới người. Sự
đàm luận và chia xẻ giữa cha mẹ và con cái về các vấn
đề xã hội, kinh tế và chính trị trong ánh sáng của giáo
lý đạo Phật có thể tạo nên cho mọi người trong gia đình
những quan niệm và kiến giải khiến cho tình gia đình gắn
bó thiết tha với lý tưởng Phật Giáo. Sự chia xẻ về
quan niệm và kiến giải trong tình thân ái này, Phật Giáo
gọi là “kiến đồng hòa giải”.
Học
Để Làm Người
Mọi
người trong gia đình phải học. Sự học hành của con
cái không nên chỉ hướng tới bằng cấp để kiếm việc
làm. Sự học hành phải nhắm tới sự xây dựng nhân
cách con người và khả năng phụng sự con người. Người
ta không chỉ học năm bảy năm ở học đường, mà phải học
suốt đời. Trí tuệ cũng cần những thức ăn bổ dưỡng
như thân thể. Trong gia đình mọi người phải đọc sách
đọc báo để mở rộng kiến thức. Phải chọn những
tờ báo có thể cung cấp những món ăn tinh thần lành mạnh.
Chỉ trừ những người có đời sống tâm linh phong phú, đa
số trong chúng ta nếu không đọc sách báo trong vòng nữa năm
đã có thể trở nên nghèo nàn và thô hậu. Ít nhất
là mọi người trong gia đình phải đọc sách để có kiến
thức phổ thông về lịch sử, khoa học, xã hội, chính trị
và văn hóa. Gia đình ông giáo Năng luôn luôn để ý đến
các buổi diễn thuyết và các buổi thảo luận công cộng
về các vấn đề trên. Ông giáo thường nói với hai
con của ông rằng những kiến thức ta thu nhập được dù
là ở trường hay ở nhà đều phải nhằm tới mục đích
cao hơn bằng cấp: Đó là học làm người và học phụng
sự con người. Phải làm sao để đừng tốn thì giờ
và việc học tập những điều không bổ ích cho sự sống.
Kiến thức về kinh tế, lịch sử và xã hội, cũng như kiến
thức về đạo Phật, cần phải thực tế, có thể áp dụng
được trong cuộc đời, cuộc đời bản thân, cuộc đời
gia đình và cuộc đời xã hội.
Cha
mẹ đừng nên nghĩ rằng mục đích duy nhất cho con đi học
là để cho con có kế sinh nhai về sau. Chúng ta phải nghĩ
cao hơn thế, và đòi hỏi rằng giáo dục phải đào tạo được
nhân cách con người và un đúc lý tưởng phụng sự đồng
loại.
Chia
Xẻ Quan Niệm
Phải
tạo ra những cơ hội đầm ấm để mọi người trong gia đình
có thể chia xẻ với nhau về quan niệm, về hạnh phúc, về
lý tưởng, cũng như để chia xẻ những lo âu, những hy vọng
của nhà. Những cơ hội này chính là những biểu hiện
cụ thể nhất của hạnh phúc gia đình và bất cứ ai trong
gia đình nếu tha thiết cũng có thể tạo ra được. Thường
thì mọi người trong gia đình ai cũng có những quan niệm riêng,
những lo âu riêng và chỉ khi nào không thể chia xẻ với người
trong gia đình thì mới đem chia xẻ với những bạn bè bên
ngoài. Thiếu những cơ hội đầm ấm trong gia đình thì
khó mà chia xẻ được những quan niệm, những lo âu đó.
Chính Xuân Thảo và Nguyện càng ngày càng cảm thấy xa cách
ông bà Sáu cũng vì nguyên nhân kia. Cả hai chị em đều
không tìm thấy sự đầm ấm trong gia đình và thường đi
tìm niềm vui với bạn bè bên ngoài. Gia đình không thực
sự là một tổ ấm chỉ bởi vì mọi người trong gia đình
không biết thiết lập được sự thông cảm hòa hợp để
sống cùng dưới một mái nhà. Theo đạo Phật, họ chưa
thực hiện được nguyên tắc “thân hòa đồng trú”.
Nếu
ta muốn tạo ra không khí thông cảm và thương yêu, ta phải
bỏ qua những bực bội phiền muộn lặt vặt, phải lưu tâm
đến những khó khăn và âu lo của những người trong gia đình.
Sau buổi cơm chiều, trong khi uống trà, ta ân cần thăm hỏi
việc làm ăn, việc học hành hoặc bất cứ vấn đề nào
mà những người thân của ta đang bận tâm nhất. Nếu
ta chịu khó lắng nghe và góp ý xây dựng một cách thân mật
thì tự nhiên người thân của ta sẽ có cơ hội than thở
biểu lộ và chia xẻ tâm sự với ta, như thế không khí tin
cẩn đầm ấm sẽ tự nhiên phát hiện. Cần nhất là
đừng có ý chế nhạo và đừng độc tài bắt ép nghe theo
ý kiến của mình. Một khi mình ân cần lắng nghe và
tỏ sự quan tâm thì người kia tất nhiên cũng sẽ lắng nghe
và chia xẻ với mình. Phải biết tôn trọng ý kiến của
kẻ khác, dù đó là ý kiến còn vụng dại non nớt của trẻ
em. Đừng khinh nhạo chê bai những ý kiến đó. Đừng
nói những ý kiến đó là ngu dại. Cần phải ôn tồn
giải thích và chia xẻ kiến thức cho nhau. Sự độc tài
về ý kiến giết chết những cơ hội trao đổi thân mật.
Nên khuyến khích những người ít nói phát biểu ý kiến và
đừng vội vàng phê bình chê bai những ý kiến nào không phù
hợp với kiến giải của ta. Sự bất đồng ý kiến
tự nó không phải là một chuyện xấu. Nếu trên đời
ai cũng có cùng một loại tư tưởng, một loại quan niệm
thì cuộc đời sẽ quá nghèo nàn. Một chế độ mà trong
đó người ta phải nghĩ như nhau, nói như nhau, làm như nhau
là một chế độ độc tài. Người ta có thể yêu mến
nhau và sống hòa thuận với nhau dù có những ý kiến khác
nhau. Điều kiện căn bản là phải có thái độ cở mở,
biết nghe, biết hiểu để dung hòa ý kiến với nhau.
Nhiều khi hai người cùng một ý kiến nhưng vì thành kiến
và kiêu căng mà họ cãi nhau, giận nhau làm như là ý kiến
của hai người khác nhau một trời một vực.
Thực
hiện được sự dung hòa ý kiến để tạo nên không khí êm
đềm thương yêu trong gia đình, đó là hành động theo tinh
thần “ý hòa đồng duyệt” của đạo Phật. Thái độ
nhã nhặn thông cảm thường đưa đến lời nói ôn tồn, có
thể tránh mọi cuộc cãi cọ giận dỗi. Điều này
trong đạo Phật gọi là “khẩu hòa vô tránh”.
Chú
Bảy trong những ngày gần đây thường nói chuyện với ông
Sáu và bà Sáu về vấn đề Nguyện và Xuân Thảo. Ông
Sáu là thầu khoán giỏi, nhưng tâm lý con thì ông không giỏi.
Nguyện không tha thiết gì đến đạo Phật dù rằng trong khi
học sử, Nguyện biết đạo Phật đời Lý Trần đã có đóng
góp nhiều cho sự xây dựng văn hóa và xã hội của quốc
gia Việt Nam. Nguyện thấy ba má đi chùa, ăn chay mỗi
tháng hai lần, nhưng không thấy những điều này có lợi ích
gì cho ba má hết; không phải vì ba má theo đạo Phật mà gia
đình được êm ái, hạnh phúc thêm lên. Chú Bảy thấy
Nguyện có lý một phần nào, bởi vì theo chú ông bà Sáu chưa
thực sự đem áp dụng đạo Phật vào cuộc sống, mà chỉ
là Phật tử truyền thống. Kỳ rồi trong lúc tu bát quan
trai tại chùa, chú Bảy đã nói chuyện với ông Sáu về việc
ấy, và ông Sáu hứa sẽ từ từ tìm hiểu Nguyện với một
thái độ cởi mở và yêu thương hơn. Được một điều
là ông Sáu rất biết nghe lời chú Bảy. Để xem ông
Sáu có thành công không.
Sám
Hối Và Tụng Giới
Mỗi
tháng ít nhất một lần gia đình phải tổ chức lễ sám hối
và đọc lại giới luật trong gia đình. Sám hối không
phải là xin tội với Phật mà để quán chiếu tự tâm và
phát nguyện cố gắng không lập lại những hành động, những
lời nói đáng tiếc. Lễ sám hối trong gia đình có thể
mở đầu cho những giờ sinh hoạt gia đình thanh tịnh và đạo
vị. Chúng ta có thể tổ chức lễ này theo cách thức
gia đình ông giáo Năng. Ông giáo Năng chỉ tổ chức lễ này
mỗi tháng một lần, không vào ngày rằm hay ngày mồng một
mà vào chiều thứ bảy đầu tháng. Tối ấy cả gia đình
ăn chay. Nhưng ông giáo, Minh và Trâm sáng mắt ra khi nói
tới ăn chay, chỉ vì bà giáo nấu chay rất ngon và công phu
hơn cả những buổi cơm mặn thường ngày. Những bữa
cơm chay của bà nấu vừa ngon lành vừa bổ dưỡng, có đủ
nấm, rau đậu, đậu hủ và được thay đổi luôn luôn.
Gia đình ông Sáu cũng có ăn chay, nhưng bốn đứa con của
ông bà Sáu và cả ông Sáu nữa, không ai hăng hái với chuyện
ăn chay hết bởi vì bà Sáu chỉ luột rau, làm muối đậu
phụng ăn tạm. Ăn chay mà như vậy chỉ làm cho trẻ em
khiếp vía.
Bàn
Phật của họ đẹp lắm, tuy không lòe loẹt xanh đỏ đủ
màu, tuy không có đèn nê-ông. Hình Phật Thích Ca ngồi
đơn giản bên hồ nước, khuôn mặt trầm lặng và an lạc.
Hai chân đèn đồng lúc nào cũng sáng và một lư trầm, một
bình hoa lúc nào cũng có cắm hoa hoặc một cành cây xanh.
Trâm rất ưa cắm hoa; cô gái mười sáu tuổi này rất có
khiếu cắm hoa. Cô không cần nhiều hoa. Thường
thường cô chỉ cắm một hoặc hai bông hoa và mấy cái lá
nhưng bình hoa vẫn đẹp và trang nhã. Trâm thay nước
bình hoa mỗi ngày. Sáng chủ nhật, cô ra vườn tìm hoa
mới, và nếu không có hoa thì cô cắt một nhánh cây thay hoa.
Chiều
thứ bảy tụng giới già cửa được quét dọn sạch sẽ,
trên bàn Phật có dâng nước lọc và trái cây. Sau khi
nhà cửa và bàn Phật đã được dọn dẹp trang hoàng, mọi
người đi tắm, thay áo mới cho khoan khoái nhẹ nhàng.
Ông giáo Năng làm chủ lễ. Nghi thức là nghi thức sám
hối đơn giản, có bài dâng hương, có xướng hiệu các vị
Phật và bồ tát để lạy bài kinh sám hối và bài phát nguyện
tu trì. Buổi lễ rất trang nghiêm, một phần nhờ âm
thanh của cái chuông rất tốt để cạnh bàn Phật. Bắt
đầu buổi lễ, Trâm đốt một cây nhang cắm rất ngay thẳng
trên lư hương, thắp đèn cầy và tắt điện. Trong ánh
sáng êm dịu và trong không khí trang nghiêm thơm ngát hương
trầm ấy, cả gia đình tề tựu trước bàn Phật và ngồi
xuống chiếu chừng mười phút để tĩnh tâm.
Sau
mười phút ấy, ông giáo đứng dậy thỉnh chuông; cả gia
đình đều đứng dậy và lạy Phật ba lạy. Sau đó,
nghi thức bắt đầu. Khi nghi thức đã chấm dứt, họ
xá Phật và trở ra đọc giáo luật. Gia đình ngồi lại
quanh bàn, chiếc bàn có trải khăn trắng và có đặt bình
hoa. Thường thường ông giáo ngồi đối diện Trâm còn
bà giáo ngồi đối diện Minh. Giáo luật có khi do ông
giáo tuyên đọc, có khi để cho bà giáo, Minh hay Trâm đọc.
Minh và Trâm được ông giáo chỉ dạy đọc giáo luật rất
chậm rãi và nghiêm trang. Thời gian tuyên đọc giáo luật
kéo dài chừng mười phút. Giáo luật ở đây là THẬP
THIỆN NGHIỆP ĐẠO tức là con đường sự nghiệp của mười
điều thiện, những nguyên tắc hướng dẫn cuộc sống gia
đình và xã hội của đạo Phật. Nghi thức sám hối
thì ta có thể tìm trong cuốn Nghi Thức Tụng Niệm. Còn
nguyên văn giáo luật THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO mà gia đình
ông Năng dùng thì như sau:
Ba
tiếng chuông thong thả
Mọi
người tụng “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” (3 lần)
Một
tiếng chuông
Người
tuyên đọc giáo luật (có khi là ông Năng, có khi là bà Năng,
Minh hay Trâm):
“Lạy
Phật, giáo lý Thập Thiện Nghiệp Đạo cao siêu và mầu nhiệm,
chúng con may mắn lắm mới được biết đến và phụng hành.
Xin đem hết tâm tư lắng nghe để hiểu sâu xa lời dạy của
Đức Như Lai”
“Hôm
nay tôi được ủy đọc giáo luật thập thiện cho cả gia
đình. Xin được tất cả mọi người hộ niệm cho.
Xin quý vị lắng lòng nghe: Giáo luật thập thiện là bó đuốc
soi đường, là con thuyền đưa lối, là bậc thầy hướng
dẫn chúng ta. Xin quý vị lắng nghe từng giáo luật một
với tâm hồn thanh tịnh, xem giáo luật là tấm gương trong
sáng để soi chiếu nội tâm mình”.
Một
tiếng chuông.
“Đây
là nội dung giáo luật Thập Thiện Nghiệp Đạo”.
Thứ
nhất: Phật tử không giết hại nhân mạng, không được tán
thành sự chém giết. Phải tìm mọi cách có thể để
bảo vệ sinh mạng, ngăn ngừa chiến tranh, xây đắp hòa bình.
Đó là giáo luật thứ nhất. Quý vị trong tháng qua có
học tập và giữ gìn giáo luật này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
hai: Phật tử không lấy làm tư hữu của mình những tiền
bạc và của cải bất hợp pháp. Phật tử tôn trọng
quyền tư hữu của kẻ khác nhưng phải biết ngăn cản những
kẻ làm giàu một cách bất lương và trên sự đau khổ của
quần chúng. Đó là giáo luật thứ hai. Quý vị trong
tháng qua có học tập và giữ gìn giáo luật này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
ba: Phật tử không được tà dâm, phá hoại danh giá và
hạnh phúc gia đình người khác. Phải biết bảo vệ
danh dự cho bản thân và cho kẻ khác. Đó là giáo luật
thứ ba. Quý vị trong tháng qua có học tập và giữ gìn
giáo luật hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
tư: Phật tử không được nói dối để mưu cầu tài
lợi và sự kính phục. Phải can đảm nói lên sự thực
để cứu người vô tội và để làm hiển lộ những gian
dối bất công và tàn ác. Không được phê bình lên án
những điều mình không biết chắc. Đó là giáo luật
thứ tư. Quý vị trong tháng qua có học tập và giữ gìn
giáo luật này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
năm: Phật tử không được lưỡng thiệt, nói lời ly gián,
tạo nên sự bất hòa giữa những người khác, gây chia rẽ
và đổ vỡ trong đoàn thể. Phải nói lời xây dựng,
hòa giải; phải làm mọi cách để gây đoàn kết, hòa giải
những vụ bất hòa, dù lớn hay nhỏ. Đó là giáo luật
thứ năm. Quý vị trong tháng qua có học tập và giữ
gìn giáo luật này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
sáu: Phật tử không ác khẩu, to tiếng cãi vã, nói những
lời chửi mắng nguyền rủa, tạo nên sân hận oán thù.
Phải nói lời ôn hòa, dịu dàng để đạo đạt quan điểm
và ý kiến của mình. Lời nói phải nhắm tạo nên thông
cảm và sự cộng tác. Đó là giáo luật thứ sáu.
Quý vị trong tháng qua có học tập và giữ gìn giáo luật
này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
bảy: Phật tử không được ỹ ngữ, nói lời văn hoa
dối mỵ, những lời tục tằn, thêu dệt, loan truyền những
tin mà mình không biết chắc có thiệt. Phải nói lời
đứng đắn và chân thực, có thể gây sự tín nhiệm và kính
nể nhau. Đó là giáo luật thứ bảy. Quý vị trong
tháng qua có học tập và giữ gìn giáo luật này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
tám: Phật tử không để cho tâm tham dục điều khiển
mình, không lấy sự thỏa mãn danh lợi tài sắc làm mục tiêu
chính cho lý tưởng đời mình. Phải biết sống giản
dị để có thì giờ nghĩ đến những kẻ khác đang chịu
nhiều khổ đau. Phải lấy sự yêu thương con người
và phụng sự con người làm lý tưởng. Đó là giáo luật
thứ tám. Quý vị trong tháng qua có học tập và giữ
gìn giáo luật này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
chín: Phật tử không được giữ tâm sân hận và oán
thù. Phải quán từ bi và duyên sinh để dẹp trừ tâm
niệm sân hận oán thù của mình ngay sau khi tâm niệm ấy phát
sinh. Đó là giáo luật thứ chín. Quý vị trong tháng
qua có học tập và giữ gìn giáo luật này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
Thứ
mười: Phật tử không được níu chặt những tà kiến,
những quan điểm và lý thuyết trái chống lại với nguyên
lý duyên sinh và nhân quả. Không nên yên trí rằng những
kiến thức mình hiện có là những chân lý bất di bất dịch
để trở thành cố thủ và hẹp hòi. Phải học hỏi
thái độ phá chấp và cởi mở để đón nhận quan điểm
của kẻ khác và làm hiển lộ sự thật duyên sinh về con
người, về cuộc đời và về vũ trụ. Đó là giáo luật
thứ mười. Quý vị trong tháng qua có học tập và giữ
gìn giáo luật này hay không?
(Im
lặng vài giây, chuông)
“Thưa
quý vị, tôi đã hoàn tất trách nhiệm tuyên đọc giáo luật
thập thiện. Tôi xin cám ơn quý vị đã giúp tôi hoàn
tất phận sự tuyên đọc một cách thanh tịnh. Xin tất
cả hãy cùng tôi chắp tay tụng bài phát nguyện”.
(Mọi
người chắp tay tụng)
Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền
não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành
(Ba
tiếng chuông)
Đọc
giáo luật xong thường thường ông bà Năng và hai con ngồi
lại thêm mươi phút để nói chuyện và nhận xét về những
giáo luật mới đọc. Có một lần Trâm nói: “Kỳ này
khi đọc đến giáo luật thứ sáu con mắc cỡ quá. Tại
vì con nhớ vì giận con Lan học cùng lớp, con đã chửi nó
là thiếu giáo dục. Chắc bây giờ nó cũng còn giận con, và
nếu ba má nó mà nghe được chắc cũng còn giận con hết chỗ
nói”. Bà Năng nói: “Má chắc lần sau con sẽ không
làm như vậy nữa”.
Bữa
cơm chay tiếp theo đó rất vui. Bà giáo Năng sửa soạn
bữa cơm rất công phu, từ hồi trưa; hai anh em Minh giúp má
hăm lại các thức ăn, dọn bàn, lau chén đủa. BỮA CƠM
NÀY LÀ MỘT CƠ HỘI ĐỂ MỌI NGƯỜI TRONG GIA ĐÌNH TỰ XÉT
TỰ TÌNH, THIẾT LẬP THÔNG CẢM, THA THỨ VÀ THƯƠNG YÊU VỚI
NHAU. Một bữa cơm như thế cần vui, mọi người ăn ngon.
Ăn chay mà sống được trong không khí hòa thuận và tin yêu
thì sự ăn chay mới thực có ích lợi. Gia đình ông bà
Sáu cũng ăn chay một tháng mấy kỳ đó, nhưng không khí của
bữa cơm so với không khí ngày thường nào có hơn kém gì
đâu. Nếu một gia đình cùng học hỏi, chấp nhận và
giữ gìn một giáo luật như giáo luật THẬP THIỆN NGHIỆP
ĐẠO để xây dựng đời sống của mình, thì gia đình ấy
đã thực hành được nguyên tắc “giới hòa đồng tu” của
đạo Phật.
Đi
Chùa
Ngoài
trường hợp lên chùa cá nhân, tất cả mọi gia đình nên
đi chùa với nhau mỗi tháng một lần. Có thể là ngày
rằm, mồng một hay một ngày chủ nhật. Nên chọn một
ngày không có 1ễ lược gì tại chùa, trong trường hợp mình
muốn được hưởng không khí thanh tịnh. Đi chùa cũng
phải chuẩn bị cẩn thận. Nên tắm rửa, mặc áo đẹp,
và phải dự định lên chùa sống một vài giờ đồng hồ
cho thoải mái và an lạc. Cố nhiên phải chọn chùa nào
có khung cảnh ấy. Dâng hoa lễ Phật xong, mọi người
có thể xin nói chuyện với một vị tăng sĩ, hoặc về giáo
lý, hoặc về những vấn đề khác có liên hệ tới sự áp
dụng đạo Phật trong đời sống cá nhân, gia đình, xóm làng,
xã hội… Sau đó, gia đình có thể mượn xem sách Phật, đi
bách bộ trong vườn trên đồi hay ngồi đàm đạo với nhau
dưới những hàng cây. Nên chọn một cảnh chùa thanh
tịnh và thiền sư làm biểu hiện cho quê hương tâm linh của
mình.
Sáu
Nguyên Tắc Sống Hòa Hợp
Hồi
Đức Phật Thích Ca tại thế, ngài có thiết lập sáu nguyên
tắc sống chung hòa hợp cho đoàn thể tăng sĩ của ngài.
Sáu nguyên tắc này có thể làm căn bản cho một đời sống
gia đình hạnh phúc nhất và tiến bộ nhất:
1.
THÂN HÒA ĐỒNG TRÚ: Cùng chia xẻ với nhau một mái nhà
hay một hoàn cảnh sinh hoạt cộng đồng, chấp nhận một
cách hoan hỷ sự có mặt của nhau.
2.
GIỚI HÒA ĐỒNG TU: Cùng học tập và giữ gìn với nhau
những kỷ luật đã được chấp nhận như là nguyên tắc
hướng dẫn đời sống của cộng đồng.
3.
KIẾN HÒA ĐỒNG GIẢI: Chia xẻ và trao đổi với nhau
những ý kiến và những nhận thức của nhau. Những ý
kiến và nhận thức này có thể trái chống nhau, nhưng nếu
mọi người đều biết cởi mở, lắng nghe và phá chấp thì
họ có thể hiểu rõ được quan điểm kẻ khác, học được
những điều mới lạ.
4.
LỢI HÒA ĐỒNG QUÂN: Tài sản của chung; mọi người
đều có quyền sử dụng và chia xẻ tùy theo nhu yếu của
mình. Mọi người có trách nhiệm giữ gìn bồi đắp
những tài sản chung đó.
5.
KHẨU HÒA VÔ TRÁNH: Giữ gìn lời nói từ tốn, không
cãi cọ, tranh chấp và giận hờn với những người khác.
Nói lời xây dựng và bồi đắp, không gây chia rẽ, không
làm tan rẽ đoàn thể.
6.
Ý HÒA ĐỒNG DUYỆT: Biết dung hòa những ý kiến khác
nhau để chấp nhận nhau và sống an vui với nhau.
Sáu
nguyên tắc sống chung gọi là LỤC HÒA này được áp dụng
cách đây trên 2500 năm, bây giờ nghĩ lại vẫn có thể là
căn bản để thiết lập một đời sống cộng đồng rất
thích hợp. Không những ta có thể áp dụng lục hòa vào
đời sống gia đình, ta cũng có thể áp dụng lục hòa trong
đời sống học đường, làng mạc và quốc gia nữa.
Áp dụng vào đời sống làng mạc và quốc gia ta có thể thiếp
lập được một thể chế xã hội nhân bản, cộng đồng
và tự do, biểu lộ được tinh thần từ bi và bình đẳng
của đạo Phật.