Chương
1: Đạo Phật Và Sự Sống
Đạo
Phật Việt Nam Trong Quá Khứ
Đạo
Phật Việt Nam trong quá khứ đã góp phần xây dựng con người
và xã hội Việt Nam. Đạo Phật được đưa vào nước
ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai do những vị tăng sĩ
và những thương gia Ấn Độ và Trung Á tới Việt Nam bằng
đường biển Ấn Độ Dương. Từ đấy tới cuối thế
kỷ thứ sáu các vị tăng sĩ và thương gia này liên tục tới
Việt Nam. Và cộng tác với họ, dân ta đã dựng chùa,
xây tháp, thờ Phật và đọc kinh. Các kinh điển thời
đó hoặc bằng tiếng Sanskrit hoặc là bằng chữ Hán do những
tăng sĩ Ấn Độ dịch ra với sự cộng tác của những người
Việt giỏi Hán tự. Vào cuối thế kỷ thứ sáu, ở thủ
đô Luy Lâu của nước ta đã có hai mươi ngôi chùa, hơn năm
trăm vị tăng sĩ và mười lăm bộ kinh đã được phiên dịch
và lưu hành. Nước ta hồi ấy là một trung tâm Phật
Giáo, từ đó đạo Phật được truyền qua Trung Hoa. Các
tăng sĩ từ Ấn Độ sang thường lưu trú tại Giao Châu để
hoằng hóa một thời gian trước khi đi Trung Quốc. Từ
đó tu sĩ Trung Quốc trên đường hành hương Ấn Độ cũng
thường ghé qua lưu trú tại Giao Châu.
Cuối
thế kỷ thứ sáu, một vị tăng sĩ Ấn Độ tên Tỳ Ni Đa
Lưu Chi (Vinitaruci) sau khi vân du Trung Hoa, tới kinh đô Luy Lâu
ở lại chùa Pháp Vân và thành lập phái thiền tông đầu
tiên tại nước ta gọi là phái TỲ NI ĐA LƯU CHI. Vào
đầu thế kỷ thứ chín, một vị thiền sư Trung Hoa tên là
Vô Ngôn Thông sang nước ta, trú tại chùa Kiến Sơ và thành
lập phái thiền tông thứ hai tại nước ta gọi là phái
VÔ NGÔN THÔNG. Giữa thế kỷ thứ mười một cùng với
Tháo Đường Thiền Sư, vua Lý Thánh Tông thành lập một phái
thiền tông thứ ba gọi là phái THẢO ĐƯỜNG. Vào thế
kỷ thứ mười ba, vua Trần Nhân Tôn sau khi xuất gia, lập
một phái thiền tông thứ tư nữa gọi là phái TRÚC LÂM YÊN
TỬ.
Các
phái thiền tông này đã đóng góp rất nhiều trong công trình
xây dựng nền độc lập chính trị và văn hóa của nước
ta. Phái TỲ NI ĐA LƯU CHI đã hỗ trợ đắc lực cho các
triều đại độc lập đầu tiên ở Việt Nam là triều đại
Đinh, Tiền Lê và Lý. Pháp Thuận Thiền Sư và Vạn Hạnh
Thiền Sư là những vị cao tăng của phái này đã từng làm
cố vấn văn hóa, chính trị và quân sự cho các triều đình
Việt và đem thế lực Phật Giáo hỗ trợ cho việc xây dựng
quốc gia. Khuông Việt Thiền Sư của phái VÔ NGÔN THÔNG
cũng đã phụ tá đắc lực cho vua Đinh Tiên Hoàng trong việc
dựng nước. Đạo Phật đã xây dựng cho đời Lý những
triều đình có kỷ cương, có văn hóa, có pháp chế.
Kỷ cương, văn hóa và pháp chế này đã được xây dựng
trên tinh thần Từ Bi và Khoan Dung. Triều Lý có thể gọi
là triều đình từ bi và khoan dung nhất trong lịch sử Việt
Nam, và điều đó là công của đạo Phật. Phái TRÚC
LÂM YÊN TỬ ra đời tại Việt Nam vào đầu triều Trần, là
một tông phái thiền Việt Nam hợp nhất các truyền thống
thiền đã có từ trước. Những nhà lãnh đạo của phái
TRÚC LÂM như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Điều
Ngự Giác Hoàng, Pháp Loa Đại Sư và Huyền Quang Đại Sư…
đã đóng góp rất nhiều cho nền học thuật, tư tưởng và
văn hóa Việt Nam. Phật Giáo triều Trần tiếp nối Phật
Giáo triều Lý, đã giúp đỡ phát huy Nho Giáo và xử dụng
triết học hành động chính trị của Nho Giáo trong tinh thần
vị tha và cởi mở của Phật Giáo. Do đó cho nên Phật
Giáo, Nho Giáo và Lão Giáo đã được hòa đồng một cách
rất tốt đẹp trong những thời đại hưng thịnh ấy của
đất nước Việt Nam. Đạo Phật đã đóng vai trò điều
hợp và hóa giải giữa các thế lực tranh chấp, góp phần
xây dựng tinh thần dân tộc, bảo vệ nền độc lập quốc
gia. Đạo Phật đã ảnh hưởng tới đời sống tình
cảm, tâm linh và trí thức của con người Việt Nam, khiến
cho người Việt tuy ham chuộng hòa bình nhưng vẫn tự lực
tự cường không để cho ai áp chế, tuy giữ gìn và quý trọng
gia tài văn hóa dân tộc nhưng vẫn cởi mở đón chào và thâu
nhận những tinh hoa của các nền văn hóa thế giới.
Đạo
Phật Việt Nam Trong Hiện Tại
Đạo
Phật Việt Nam trong hiện tại tiếp tục xây dựng con người
và xã hội Việt Nam, đồng thời góp sức vào sự xây dựng
cộng đồng nhân loại. Cuộc chiến tranh kéo dài trên
hai mươi năm đã tàn phá bao nhiêu sinh mạng và tài sản của
quốc gia Việt Nam. Không những thế, cuộc chiến tranh
còn gây căm thù nghi kỵ giữa người Việt với người Việt.
Phật Giáo Việt Nam trong hai mươi lăm năm qua đã đóng góp
phần mình trong cuộc tranh đấu cho chủ quyền đất nước
và hòa bình dân tộc và người Phật tử Việt Nam đã chịu
chung gian lao nguy khó với đồng bào và đất nước. Để
chống lại sự tàn phá đất nước và sự tàn phá những
giá trị con người, đạo Phật Việt Nam đã nỗ lực giữ
vững niềm tin của người Việt Nam nơi truyền thống và khả
năng tổng hợp văn hóa của truyền thống dân tộc, giữ cho
xã hội không tan nát vì phân hóa, hoài nghi và căm thù.
Kêu gọi mọi người trở về với truyền thống văn hóa dân
tộc, đạo Phật Việt Nam chống lại mọi mưu toan bên ngoài
muốn xử dụng xương máu Việt Nam chống lại mọi mưu toan
bên ngoài muốn xử dụng xương máu Việt Nam để làm hàng
rào phòng thủ của họ. Ðạo Phật Việt Nam đồng thời
cũng nhắm đến sự xây dựng xã hội Việt Nam về các phương
diện kinh tế, y tế và giáo dục để làm nền tảng vững
chắc cho hòa bình. Thế giới đang bị đặt trong tình
trạng hiểm nguy: nạn nhân mãn, nạn đói kém, nạn nhiễm
độc và chiến tranh nguyên tử đang đe dọa số phận con người
Việt Nam cần sớm đạt tới hòa bình và kiểm soát được
vận mệnh mình để có thể góp phần hữu hiệu với các
quốc gia khác trong việc đối phó với những hiểm trạng
kia. Một cộng đồng nhân loại trong đó người không
bóc lột người, ranh giới giữa các quốc gia chủng tộc không
còn là nguồn gốc của tranh chấp kỳ thị, đó cũng là mục
tiêu mà Việt Nam nhắm tới.
Áp
dụng Đạo Phật trong đời sống mới
Người
Phật tử Việt Nam nhìn rõ thực tại tâm lý, kinh tế và xã
hội của thời đại và áp dụng giáo lý đạo Phật một
cách thông minh vào đời sống mới, không bị ràng buộc bởi
thành kiến và thói quen. Đức Phật là một bực Đại
Đạo Sư. Thâm hiểu những điều kiện tâm lý, kinh tế
và xã hội con người của thời đại ngài, Đức Phật đã
truyền dạy những giáo lý thích hợp với con người của
thời đại ấy. Giáo lý của Đức Phật phù hợp với
các điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của
con người cho nên được gọi là một giáo lý KHẾ CƠ.
Trong suốt lịch sử của Phật giáo, ta thấy xuất hiện nhiều
hệ thống giáo lý mới phát xuất từ Phật Giáo Nguyên
Thỉ, như giáo lý Tịnh Độ, giáo lý Thiền, giáo lý Duy Thức,
giáo lý Thiên Thai. Những giáo lý này vừa khế hợp với
căn bản đạo Phật vừa khế hợp với những điều kiện
tâm lý và xã hội của con người đương thời. Phật
giáo là một tôn giáo không báo thù, biết cởi mở và khai
phóng để mở rộng chân trời tương lai. Tuy cởi mở,
khai phóng và tiếp tục được truyền thống từ bi, khoan dung,
vô úy và giải thoát. Thái độ bảo thủ vì thói quen
vì thành kiến và cố chấp là một thái độ trái ngược
với tinh thần cởi mở và tiến bộ của đạo Phật.
Người Phật tử không thể nhắm mắt làm theo tất cả những
điều mà người xưa đã làm, lấy cớ “xưa bày nay làm”.
Người Phật tử phải xét xem những điều do người xưa bày
ra hiện còn có giá trị trong hoàn cảnh hiện tại hay không.
Nếu còn thì ta vẫn tiếp tục thi hành. Nhưng nếu những
điều ấy không còn giá trị nữa thì ta phải bỏ và tìm
ra những điều khác thích hợp với ta hơn. Ngày xưa khi
còn tại thế Đức Phật và các môn đệ cùng thời với ngài
đã áp dụng pháp chế khất thực chẳng hạn. Ở các
nước Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, trong suốt mười thế
kỷ, tăng sĩ ít khi thực hành pháp chế tri bất khất thực
đó, tại vì điều kiện phong thổ và tập quán ở các nước
này khác với Ấn Độ thưở xưa. Như thế không có nghĩa
là Phật Giáo các nước đó chống với Phật Giáo Ấn Độ.
Như thế chỉ có nghĩa là Phật Giáo tại các nước đó đã
biết chuyển biến để khế hợp với những điều kiện sinh
hoạt tại các nước đó mà thôi. Lấy ví dụ ấy mà
xét thì nếu ta muốn cho đạo Phật có sinh khí, ta phải biết
áp dụng đạo Phật một cách thông minh vào những điều kiện
sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của đời sống chúng
ta. Đạo Phật không phải là của riêng của một số
người ẩn dật nơi tư viện. Đạo Phật là của mọi
lớp người: của thiếu nhi, của thanh niên, của phụ nữ,
của lao động trí thức và lao động chân tay. Đạo Phật
chỉ có sinh lực khi nào giáo lý đạo Phật được áp dụng
trong đời sống hàng ngày, trong các lãnh vực giáo dục, y
tế, chính trị, kinh tế, tổ chức, trong đời sống cá nhân
cũng như trong đời sống gia đình, quốc gia và xã hội.
Người Phật tử phải đặt những câu hỏi tương tự như
sau đây: Trong một xã hội mà con người bị lôi cuốn theo
guồng máy kinh tế và chính trị đến nỗi con người khó
có thể bảo tồn tự do và nhân tính của mình, thì đạo
Phật dạy con người áp dụng thái độ nào và hành động
những gì để khôi phục tự do và nhân tính ấy? Đối
với những cuộc chiến tranh diệt chủng và tàn phá sinh mệnh
và giá trị con người, đạo Phật dạy ta hành động thế
nào? Trước hiểm họa mà nhân loại đang phải đương
đầu, đạo Phật dạy ta con đường nào để có thể tự
cứu? Nếu đạo Phật không trả lời được những câu
hỏi như thế, thì ta không thể nói rằng đạo Phật là đạo
của sự sống. Kỳ thực, người Phật tử tin rằng trong
đạo Phật có hàm chứa những nguyên lý căn bản có thể
trả lời được mọi vấn đề của sự sống; và do đó,
đem những nguyên tắc kia áp dụng vào đời sống cá nhân
và xã hội hiện tại ta sẽ tìm thấy những câu trả lời
thích hợp. Bản thân ta và sự sống của ta chính là
môi trường thực nghiệm từ đó được tìm ra những câu
giải đáp, gọi là ĐẠO PHẬT ỨNG DỤNG. Những điều
kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội luôn luôn thay đổi
cho nên mỗi thời đại và mỗi địa phương cần có một
đạo Phật ứng dụng thích hợp. Thành kiến và thói
quen thường khiến cho người ta sợ hãi sự thay đổi và sự
sáng tạo. Đạo Phật là một đạo sống động, do đó
cần sự đổi thay và sáng tạo liên tục. Phật tử đừng
để cho thành kiến và thói quen bó buộc. Phật tử cần
luôn luôn nhận định lại về sự sống để mà thực hiện
những thay đổi và sáng tạo cần thiết làm cho đạo Phật
luôn luôn là một đạo sống động chứ không khô chết trong
những cái vỏ hình thức và thiếu sinh khí.
Con
Người Là Then Chốt
Đạo
Phật được khai sáng bởi con người để phục vụ cho con
người. Đạo Phật lấy con người làm gốc. Tinh
thần nhân bản của đạo Phật được biểu lộ không những
ở giáo lý đạo Phật mà còn ở thái độ và hành động
của người Phật tử. Đạo Phật do con người sáng lập
để phụng sự cho con người. Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni (Sakya Muni) người sáng lập đạo Phật cách đây 2500 năm
không bao giờ tự cho mình là một vị trời hay một đấng
thần linh. Từ ngữ Phật (Buddha) chỉ có nghĩa là con
người giác ngộ. Phật là một con người đã giác ngộ
chân lý (tự giác) và đem chân lý ấy giác ngộ cho những
kẻ khác (giác tha) để mong đạt tới sự nghiệp giác ngộ
tràn đầy (giác hạnh viên mãn). Trước khi tu đạo và
thành Phật, Đức Thích Ca có tên là Shiddharta, cũng đã có
cha có mẹ và đã thành lập gia đình với công chúa Gia Du
Đà La (Yasodhara) và có một người con tên La Hầu La (Rahula).
Trí tuệ giác ngộ mà Phật đạt được không phải do nơi
một vị thần minh nào trao truyền mà do chính kinh nghiệm tâm
linh của Phật chứng nhập.
Giáo
lý đạo Phật chủ trương rằng con người chịu hoàn toàn
trách nhiệm về bản thân mình và xã hội mình, rằng con người
có thể thay đổi được bản thân và hoàn cảnh xã hội theo
ý mình muốn. Những điều kiện hiện tại của sự sống,
những gì đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra đều do hành
động (nghiệp hay Karma) của mình tạo thành và thúc đẩy.
Không có một đấng thần linh nào có quyền năng cứu rỗi
được con người. Phật tử, theo lời Phật dạy, phải
tự mình thắp đuốc lên mà đi. Con người phải tự
cứu lấy mình.
Nhân
Cách Phật Thích Ca
Đức
Phật Thích Ca, người thành lập đạo Phật là một người
đã phát triển nhân cách mình đến mức độ tuyệt hảo.
Nhân cách của đức Phật Thích Ca còn quan trọng hơn cả giáo
lý ngài dạy trong kinh điển, bởi vì nhân cách ấy là giáo
lý sống động do chính đời ngài phô diễn. Chính nhân
cách ấy đã hàng phục được bạo động, đã tạo được
niềm tin, đã gây nên đoàn kết. Chính nhân cách ấy
đã hướng dẫn được giáo đoàn ngài lúc ngài tại thế
và còn tiếp tục hướng dẫn được giáo đoàn Phật giáo
hàng mấy thế kỷ sau khi ngài tạ thế. Được nhìn vào
mắt Phật, được sống bên cạnh ngài và được chiêm ngưỡng
nhân cách ngài chắc hẳn là còn hiểu được ngài nhiều hơn
là học tập giáo lý ngài qua kho tàng kinh điển. Nhân
cách của Phật làm sao ta có thể diễn tả nổi? Tuy vậy,
ta cũng có thể căn cứ trên giáo lý đạo Phật để nói rằng
nhân cách của Phật biểu lộ một trí tuệ lớn, một tình
thương lớn và một ý chí lớn. Tình thương lớn ấy
gọi là ĐẠI BI (Mahakaruna) được đi đôi với trí tuệ lớn
gọi là ĐẠI TRÍ (Mahaprajna) và ý chí lớn gọi là ĐẠI LỰC
(Mahabala). Đạt đến mức độ tuyệt hảo của nhân cách
tức là đạt đến trình độ giác ngộ hoàn toàn, trình độ
Phật, trình độ vô thượng giác (giác ngộ cao nhất) mà phạn
ngữ gọi là ANUTTARA-SAMYAK-SAM-BODHI (a nậu lâu đa la tam miệu
tam bố đề phiên âm theo tiếng Hán Việt).
Trí
Tuệ, Từ Bi và Đại Lực
Mục
đích của sự thực hành đạo Phật, do đó là để đạt
tới nhận thức sáng tỏ về thực tại (trí), tình thương
rộng lớn với mọi người và mọi loài (bi) và ý chí bền
vững để thành tựu đại nguyện giúp đời (dũng). Đạo
Phật không phải là một tôn giáo chuyên thờ cúng cầu xin
các vị thần minh. Đạo Phật đòi hỏi người Phật
tử thực hiện trí tuệ, tình thương và ý chí nơi bản thân
và ngoài xã hội. Đạo Phật đại thừa trình bày những
nhân vật gương mẫu của sự thực hiện đạo Phật như bồ
tát Quan Thế Âm, bồ tát Văn Thù Sư Lợi, bồ tát Phổ Hiền,
và bồ tát Địa Tạng. Đó là những người Phật tử
lỗi lạc nhất, những người đang thực hiện tuệ giác đại
trí, tình thương đại bi và công tác đại hạnh. Bồ
tát (Bodhisattva) có nghĩa là người đang thực hiện sự nghiệp
giác ngộ và độ sinh. Bồ Tát Quan Thế Âm là hình ảnh
của tình thương đại bi và công tác đại hạnh, lắng tai
nghe tiếng kêu thương của kẻ khổ đau mười phương mà có
mặt để cứu độ (kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn). Bồ
tát Văn Thù Sư Lợi là hình ảnh của tuệ giác đại trí
và biện tài vô ngại (kinh Duy Ma). Bồ tát Phổ Hiền
và bồ tát Địa Tạng là hình ảnh của hành động và đại
nguyện để thành tựu sự nghiệp giác ngộ và cứu đời
(kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền và kinh Địa Tạng). Tụng
đọc những kinh điển nói về các vị Bồ Tát ấy là để
thâm hiểu về đạo Phật qua đời sống, trí tuệ và hạnh
nguyện của các vị ấy chứ không phải để cầu xin kể
lể. Người Phật tử cần thấy nơi hình ảnh của các
vị bồ tát ấy những tấm gương sáng để noi theo trong lúc
học tập và thực hành đạo Phật. Đọc kinh suông và trì
niệm danh hiệu suông thì không đem lại chút lợi ích thiết
thực nào.
Những
Đạo Lý Căn Bản
Đạo
lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý duyên khởi, tứ diệu
đế và bát chánh đạo. Ba đạo lý này là nền tảng
cho tất cả các tông phái Phật Giáo, nguyên thỉ cũng như
đại thừa. Giáo phái Theravada hiện giờ thịnh hành tại
các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia tự
nhận là gần với Phật Giáo thời Phật tại thế, gọi là
Phật Giáo Nguyên Thỉ. Giáo phái đại thừa hiện giờ
thịnh hành tại Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên
cũng tự nhận là phù hợp với tinh thần Phật Giáo Nguyên
Thỉ, nhưng cho rằng ta phải thích nghi với những điều kiện
sinh hoạt văn hóa và kinh tế của từng thời đại và địa
phương thì ta mới có thể nuôi dưỡng tinh thần ấy được.
Ở Việt Nam hai giáo phái Theravada và Đại Thừa, từ năm 1964
trở đi, đã được kết hợp cùng trong một giáo hội Phật
giáo, gọi là GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT.
Đây cũng là một điểm đặc sắc của đạo Phật Việt Nam,
bởi vì chính ở Việt Nam hai giáo phái Theravada và Đại Thừa
được kết hợp đầu tiên trong một giáo hội. Theravada
nguyên là giáo phái do các bậc trưởng lão trong giáo hội
nguyên thỉ chủ trì, thuộc về thiểu số, còn Đại Thừa
phát sinh từ giáo phái Mahasanghika gọi là ĐẠI CHÚNG BỘ tức
là giáo phái của đa số những người trẻ trong Giáo Hội
Nguyên Thỉ chủ trì, có tinh thần cấp tiến và dung hợp nhiều
hơn Đại Thừa (Mahayana) là con đường hoặc cỗ xe lớn, chỉ
cho sự hành đạo và cứu độ nhắm tới tập thể mà không
phải là cá nhân.
Duyên
Khởi
Đạo
lý duyên khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về
thế giới thực tại. Duyên khởi nghĩa là sự nương
tựa lẫn nhau mà sinh thành và tồn tại. Không những
các sự kiện thuộc thế giới nhân sự như thành, bại, thịnh,
suy mà tất cả những hiện tượng thuộc thế giới tự nhiên
như núi, sông, hoa, cỏ cũng đều vâng theo luật duyên khởi
mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại.
DUYÊN
(Pratyaya) là những điều kiện. Sự sinh thành của một
cái bàn chẳng hạn, tùy thuộc ở những điều kiện như gỗ,
cưa, đinh, búa, người thợ mộc, vân vân… Vậy gỗ, cưa,
đinh, búa, người thợ mộc là những DUYÊN cần thiết cho
sự phát sinh của cái bàn. Sự sinh thành của một đứa
bé cũng tùy thuộc ở những DUYÊN như tinh huyết của cha mẹ,
thời gian thai nghén, sức ấm vân vân… Sự sinh thành của
một nền dân chủ cũng tùy thuộc ở những DUYÊN như ý thức
về quyền lợi và bổn phận của người dân, sự tranh thủ
chính trị, sự bảo vệ hiến pháp, vân vân… Bất cứ một
hiện tượng nào trong vũ trụ, tinh thần hay vật chất, đều
do sự tập hợp của các DUYÊN mà thành. Sự vật nương
vào nhau mà sinh thành và tồn tại, không có sự vật vào có
thể tự mình sinh ra mình và tự mình tồn tại độc lập
với những sự vật khác. Đó là yếu lý duyên khởi
của đạo Phật.
Có
bốn loại DUYÊN cần được phân biệt. Thứ nhất là
NHÂN DUYÊN có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, ví
như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa, gỗ là nhân duyên
của cái bàn và đất sét là nhân duyên của cái bình.
Thứ hai là TĂNG THƯỢNG DUYÊN tức là những điều kiện trợ
lực cho nhân duyên, ví như phân bón và nước là tăng thượng
duyên cho hạt lúa trở thành cây lúa, người thợ mộc và
cây cưa là tăng thượng duyên cho khúc gỗ trở thành cái bàn,
nước và lò gốm là tăng thượng duyên cho đất sét trở
thành cái bình. Thứ ba là SỞ DUYÊN DUYÊN tức là những
điều kiện làm đối tượng cho nhận thức, như hình sắc
phát sinh ra cái thấy, âm thanh phát sinh ra cái nghe và tư tưởng
phát sinh ra ý lự. Thứ tư là ĐẰNG VÔ GIÁN DUYÊN tức
là sự liên tục không gián đoạn cần thiết cho mọi sự
phát sinh, trưởng thành và tồn tại.
Luật
nhân quả cần được quan sát và áp dụng theo nguyên tắc
duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân quả đạo Phật.
Theo đạo lý duyên sinh, một NHÂN đơn độc không bao giờ
có khả năng sinh ra quả, và một NHÂN bao giờ cũng đóng vai
trò QUẢ, cho một NHÂN khác.
Ta
đã biết rằng hạt lúa là NHÂN của cây lúa. Nhưng ta
cũng đã biết thêm rằng nếu không có những tăng thượng
duyên như đất, ánh sáng, nước và thời gian thì hạt lúa
không bao giờ trở nên cây lúa được. Vậy ta kết luận:
một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng phát sinh ra
quả. Do đó ta có thể nói: Vạn vật trong vũ trụ nương
nhau mà phát sinh; nên ta không thể nói: (ví dụ) thái cực
phát sinh ra vũ trụ. Tại sao? Bởi vì thái cực và
thần linh, nếu là những nguyên nhân đơn độc, làm sao có
khả năng phát sinh ra quả tức là thế giới? Do đó,
thuyết thái cực phát sinh hoặc thần linh sáng tạo vũ trụ
đi ngược với đạo lý duyên khởi. Chẳng những thế
mà khi nói chân như (1) phát sinh vạn hữu, người Phật tử
cũng đi ngược với đạo lý duyên khởi, nếu người Phật
tử nghĩ rằng chân như là nguyên nhân đơn độc và đầu
tiên. Có những triết gia và thần học gia cho rằng thái
cực hoặc thần linh không phải là nguyên nhân đầu tiên mà
chỉ là thực thể của hiện hữu vượt ngoài thời gian và
không gian (2), trong trường hợp này họ cũng không đi ngược
lại đạo lý duyên khởi của đạo Phật.
(1)
Chân như (Bhutatahata) là thực thể của vạn hữu.
(2)
Như Paul Tillich, nhà thần học Cơ Đốc nổi danh ở Đức Quốc
nói: “Thượng Đế không phải là nguyên nhân đầu tiên.
Nói “Thượng Đế là nguyên nhân đầu tiên” chỉ là một
cách nói mà thôi” (Paul Tillich, Systematic Theology)
Trên
thực tế, ta chưa từng thấy một nhân đơn độc nào có thể
sinh ra quả, mà ta cũng chưa từng thấy một nhân mà không
phải là một quả cho một nhân khác. Nếu ta cho rằng
chân như hoặc thái cực hoặc thần linh làm phát sinh ra vũ
trụ tức là ta công nhận: Một nhân đơn độc có thể làm
phát sinh ra quả. Đó là một điều sai lạc. Hơn
nữa, cái nhân đơn độc ấy do đâu mà có? Nếu không
do đâu cả thì điều đó trái chống với luật nhân quả;
nếu do một nhân khác sinh ra thì lại không phải là nguyên
nhân đầu tiên. Cho nên ta thấy nhận thức về thái cực
và về thần linh như THẬT THỂ CỦA VŨ TRỤ VƯỢT NGOÀI KHÔNG
GIAN VÀ THỜI GIAN có thể đi đôi với đạo lý duyên sinh của
Phật dạy. Trong kinh A Hàm, Phật dạy: “Vì cái này có
cho nên cái kia có, vì cái này không cho nên cái kia không, vì
cái này sinh cho nên cái kia sinh, vì cái này diệt cho nên cái
kia diệt”. Đó là sự diễn tả đơn giản và đúng
mức của đạo lý duyên khởi. Nhật thức duyên khởi
có thể được kiểm chứng bởi bất cứ ai, bởi vì đó không
phải là một tín điều siêu hình, đó là sự thật thực
nghiệm, phù hợp với nhận thức khoa học thực nghiệm.
Phát minh ra đạo lý duyên khởi, Đức Phật soi cho ta thấy
rõ bộ mặt của thực hữu, tránh cho ta bao nhiêu ngộ nhận
sai lầm về vấn đề nguyên ủy vũ trụ và giúp cho ta thành
đạt trong phạm vi trí tuệ tu dưỡng cũng như trong phạm vi
hành động thực tiễn. Thực vậy, đạo lý duyên khởi
là đạo lý căn bản phá trừ vô minh và cố chấp, đồng
thời cũng là một đạo lý căn bản cho hành động nhập thế.
Phật tử phải tìm hiểu thấu đáo về đạo lý duyên khởi
để áp dụng trong việc tu huệ cũng như trong việc tu phước;
những diễn bày trong sách này về đạo lý duyên khởi chẳng
qua chỉ mới là bước đầu mà thôi.
Vô
Thường, Không và Vô Ngã
Trong
đạo Phật, ta thường nghe nói đến giáo lý VÔ THƯỜNG, KHÔNG
và VÔ NGÃ. Những giáo lý này cũng phát sinh từ một
căn bản với giáo lý duyên khởi. VÔ THƯỜNG là tính
cách thay đổi không ngừng của vạn sự vạn vật. Không
có sự vật nào nằm yên bất biến, do đó không có sự vật
nào giữ được tính cách đồng nhất tuyệt đối của nói;
đó là VÔ NGÃ. Sự vật đã luôn luôn chuyển biến và
không giữ được tính cách đồng nhất của chúng tức là
sự vật trống rỗng: đó là KHÔNG. Chữ KHÔNG ở đây
có nghĩa là trống rỗng, không chắc thật, chứ không có nghĩa
là không có sự vật. Sự vật vẫn có, nhưng trong lòng
sự vật người ta không tìm thấy tính cánh thường còn và
đồng nhất, thế thôi.
Theo
đạo lý duyên khởi, vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi,
tồn tại và tiêu hoại. Như thế vạn vật phải là VÔ
THƯỜNG, bởi vì nếu không vô thường thì vạn vật sẽ bất
sinh bất diệt. Vạn vật cũng VÔ NGÃ, bởi vì mỗi vật
là do sự tập hợp của nhiều vật (duyên) mà thành.
Vạn vật cũng là KHÔNG, bởi vì đã do các duyên mà thành,
thì trong tự thân vạn vật không có một thực thể thường
còn và đồng nhất.
Tứ
Diệu Đế
Giáo
lý căn bản thứ hai của đạo Phật là giáo lý TỨ DIỆU
ĐẾ, tức là bốn sự thật lớn. Giáo lý này được
diễn tả trong nhiều kinh điển, mà kinh điển đầu tiên là
kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN. Bốn sự thật lớn là: sự có
mặt của những khổ đau (khổ), những nguyên nhân tạo nên
khổ đau (tập), niềm an lạc khi khổ đau đã diệt (diệt)
và con đường đạt tới niềm an lạc diệt khổ (đạo).
Giáo
lý Tứ Diệu Đế là nguyên lý hành đạo có tính cách thực
nghiệm và trị liệu. Tất cả các giáo lý Phật Giáo
nguyên thỉ hay đại thừa đều được diễn bày theo nguyên
lý Tứ Diệu Đế này. Cũng như giáo lý Duyên Khởi, giáo
lý Tứ Diệu Đế không phải là những tín điều siêu hình
mà là một nguyên lý có thể kiểm chứng được. Giáo
lý “Bốn Sự Thật Lớn” được căn cứ trên luật nhân
quả. Ta thấy hai cặp nhân quả sau đây:
1.
QUẢ: Sự có mặt của khổ đau (khổ)
NHÂN:
Những nguyên nhân tạo thành khổ đau (tập)
2.
QUẢ: Niềm an lạc khi khổ đau đã diệt (diệt)
NHÂN:
Con đường đi tới niềm an lạc diệt khổ (đạo).
Chúng
ta hãy thử áp dụng nguyên lý tứ diệu đế vào trong một
vấn đề y khoa. Ví dụ bệnh lao phổi là SỰ THỰC THỨ
NHẤT: (Khổ). Sự thực này ai cũng phải công nhận, bởi
vì ai cũng có thể biết rằng bệnh lao phổi là một bệnh
có thật. Nếu bệnh lao phổi có thật thì những nguyên
nhân tạo nên bệnh lao phổi cũng có thật: Đó là vì trùng
Koch, là sự ăn ngủ thiếu điều độ, là sự thiếu ánh sáng
và khí trời, vân vân… Sự có mặt của những nguyên nhân
sinh ra bệnh lao phổi tức là SỰ THỰC THỨ HAI (Tập).
Không những các bác sĩ mà tất cả chúng ta đều biết rằng
bệnh lao phổi có thể chữa lành được. Sự lành bệnh
ở đây là SỰ THỰC THỨ BA (Diệt). Và muốn đi đến
sự lành bệnh, ta phải theo những phương pháp chữa trị khoa
học nhằm loại trừ những nguyên nhân làm ra bệnh. Những
phương pháp này, ví dụ sự xử dụng thuốc trụ sinh trong
lành vân vân… là SỰ THỰC THỨ TƯ (Đạo). Bất cứ
vấn đề nào của sự sống cũng có thể được chữa trị
theo nguyên lý Tứ Diệu Đế.
Trong
chúng ta, ai cũng công nhận rằng khổ đau có mặt trong cuộc
đời. Nghèo đói, ốm đau, bệnh tật, chết chóc, thất
vọng, biệt ly, bất đắc chí, đàn áp, bất công, tủi nhục…
SỰ THỰC THỨ NHẤT thật quá rõ ràng. Phật tử, sau
khi nhận thức được sự thực thứ nhất, phải tĩnh tâm
quan sát để tìm ra sự thực thứ hai tức là những nguyên
nhân sinh ra đau khổ. Phương pháp do Phật chỉ dạy là
phương pháp quán chiếu đạo lý duyên khởi. Tĩnh tâm,
tâm trung ý và căn cứ vào thực nghiệm, ta có thể phát giác
ra những nguyên nhân xa gần đã tạo ra những khổ đau ấy.
SỰ THỰC THỨ HAI cần được khám phá một cách triệt để,
nếu ta quả thực muốn tìm ra căn nguyên đích thực của chứng
bệnh để chữa trị. Đức Phật đã hướng dẫn ta nhìn
vào sự thực thứ hai, những nguyên nhân của đau khổ, và
ta cần nương theo những hướng dẫn ấy để khám phá.
Trước hết, Phật dạy rằng vô minh là một nguyên do lớn
của khổ đau. Vô minh là sự thiếu sáng suốt, là những
nhận thức sai lạc về thế giới, thế giới nhân sự cũng
như thế giới tự nhiên; những nhận thức đi ngược lại
với đạo lý duyên khởi. Quán triệt đạo lý duyên khỏi,
ta có thể phá bỏ được vô minh: Đó là chìa khóa của
phương pháp Phật học. Bất cứ một khổ đau nào cũng
có những gốc rễ gần và xa của nó và ta cần đối trị
với những gốc rễ ấy, hoặc trên bình diện cá nhân hoặc
trên bình diện tập thể. Hãy lấy ví dụ không khí ngột
ngạt trong gia đình. Cái không khí ngột ngạt ấy không
thể tự nhiên mà có; trái lại, nó do nhiều nguyên nhân sinh
khởi. Có thể là những nguyên nhân kinh tế, có thể
là những nguyên nhân tâm lý, có thể là những nguyên nhân
xã hội. Sự cau có của người cha sau một ngày làm việc
mệt nhọc, tự nó, cũng có nhiều gốc gễ phiền phức.
Thái độ trách móc của người vợ, và sự thiếu hiểu biết
của những người con có thể làm trầm trọng sự cau có kia
lên. Nếu tất cả mọi người trong gia đình đều biết
tĩnh tâm quán chiếu để thấy rõ những nguyên do xa gần của
không khí căng thẳng ngột ngạt trong gia đình thì tự nhiên
thái độ cau có, trách móc và hờn dỗi tan biến, không khí
ngột ngạt sẽ không trở nên trầm trọng và mọi người
trong gia đình sẽ cộng tác tìm cách xóa bỏ dần những nguyên
nhân gần xa đưa đến sự cau có của người cha vào buổi
cuối ngày. Thực ra thái độ dịu dàng, thông cảm và
hiểu biết của người mẹ đã có thể làm dịu bớt nỗi
cau có đó, và sự cộng tác của bà để chia xẻ những ưu
tư, bực bội của chồng sẽ đóng góp rất nhiều trong việc
tìm ra và tiêu diệt những nguyên nhân của sự cau có kia.
Tìm ra sự thực thứ hai không phải là dễ dàng như ta tưởng;
nó đòi hỏi công phu thực tập tĩnh tâm thiền quán hàng ngày
của mỗi người. Thiếu công phu này, ta sẽ dễ dàng
trút sự giận dữ và hờn oán lên kẻ khác, tại vì ta không
thấy rõ đâu là nguyên nhân đích thực của những khổ đau
mà ta chịu đựng.
Về
mặt xã hội, sự vắng mặt các quyền căn bản dân chủ và
tự do cũng có những nguyên nhân sâu xa của nó. Nguyên
nhân mà người hay nhắc đến nhất là một chế độ độc
tài. Nhưng đó không phải là nguyên nhân duy nhất.
Một chế độ độc tài chỉ có thể đứng vững được khi
nó được hỗ trợ bởi một ngoại bang và khi mà dân chúng
trong xã hội ấy không ý thức được quyền căn bản dân
chủ và tự do của mình và không tranh đấu cho những quyền
ấy. Dân chủ và tự do cũng như bất cứ thứ hạnh phúc
nào, không phải là những món quà từ trên trời rơi xuống;
trái lại, phải tạo dựng, bồi đắp và bảo vệ mới có.
Những quyền dân chủ và tự do không phải là những điều
do một chính quyền tốt ban bố, người dân phải biết học
tập và xử dụng các quyền dân chủ tự do, phải biết tôn
trọng các quyền dân chủ tự do của kẻ khác và phải biết
đoàn kết với nhau để bảo vệ và tranh đấu cho những quyền
kia khi chúng bị đe dọa. Nếu ta biết rõ những nguyên
nhân nào đã khiến cho các quyền dân chủ và tự do vắng
mặt, chúng ta chắc chắn sẽ tìm ra được những phương pháp
để thực hiện các quyền này trong xã hội của chúng ta.
Tĩnh tâm và quan sát tìm cho ra những nguyên nhân này tức cũng
là thực hành sự thực thứ hai vậy.
SỰ
THỰC THỨ BA là mục tiêu mà ta hướng đến. Ta phải
biết là ta muốn gì. Đã đành ta có thể nói rằng sự
thực thứ ba là hạnh phúc, nhưng ta không nên lầm hạnh phúc
chân thực với những hình thái mới nhìn qua thì trông như
hạnh phúc mà kỳ thực chỉ là những nguyên nhân của khổ
đau. Hạnh phúc chân thực được diễn tả trong đạo
Phật như là sự vắng mặt của những khổ đau, là sự giải
phóng của con người ra khỏi tham dục, hận thù và tối tăm,
là sự đạt tới các đức vô úy, trầm tĩnh, đại hùng,
khiến cho ta không còn là nạn nhân của sự sợ hãi, của
những thành bại đắc thất tầm thường. Trên căn bản
của sự giải phóng đó, chắc chắn hạnh phúc phải là chân
thực và bền vững. Sức khoẻ, tài năng, sản nghiệp,
tự do, công bình, dân chủ, vân vân… chỉ có thể trở nên
những hình thái hạnh phúc thật sự trên nền tảng giải
phóng đó. Người Phật tử phải nhận thức rằng theo
đuổi sự nghiệp giải thoát không phải là từ bỏ mọi hạnh
phúc của cuộc đời, trái lại chính là để xây dựng một
nền tảng vững chãi cho hạnh phúc. Nếu không đạt tới
căn bản giải thoát thì dù có mắt cũng không biết nhìn,
có tai cũng không biết nghe, có cuộc đời cũng không biết
sống, có những điều kiện hạnh phúc cũng không biết hạnh
phúc. Thế cho nên học tập để thấy rõ mục tiêu đích
thực mà mình hướng tới tức là thực hành sự thực thứ
ba. Phải nhận thức sự thực thứ ba như một thực tại
mà không phải một mơ ước hão huyền hay một mộng tưởng.
Sự an lạc mà chúng ta đạt đến do thực hiện những phương
pháp Phật Giáo là điều có thể kiểm chứng được.
Bất cứ một nhân nào gieo xuống đều có thể đưa đến
kết quả; không một nổ lực nào của ta có thể gọi là
vô ích. Nếu chúng ta kiểm điểm để nhận thấy
kết quả và tính cách hữu hiệu của những nỗ lực hành
đạo hàng ngày của chúng ta, chúng ta sẽ có thêm đức tin
nơi sự thực thứ ba; rõ ràng như người nông phu, sau khi áp
dụng những phương pháp canh tác khoa học, gặt hái được
gấp bội và có thêm đức tin về nguyên tắc cải tiến nông
nghiệp.
SỰ
THỰC THỨ TƯ là con đường, là phương pháp hành động.
Để đạt tới một đời sống an lạc hạnh phúc cho bản
thân và cho xã hội, ta phải biết tìm đường, ta phải biết
phương pháp hành động. Sự thực thứ tư không phải
là một số giáo điều hoặc giới luật có thể học thuộc
lòng, trái lại là kết quả của những chiêm nghiệm sâu sắc
về các sự thực thứ nhất, thứ nhì và thứ ba cùng những
kinh nghiệm sống của chúng ta về các sự thực ấy.
Trong kinh ta thấy nói tới ngũ căn, ngũ lực, tam học, thất
bồ đề, bát chánh đạo vân vân… Đó đều là những giáo
lý thuộc sự thực thứ tư, những phương pháp có thể đem
áp dụng trong đời sống để tiêu diệt khổ đau, kiến tạo
an lạc. Những giáo lý này chỉ có giá trị và hiệu
lực khi ta biết đem chúng áp dụng một cách thông minh vào
sự sống. Trái lại nếu ta chỉ đọc tụng hoặc chiêm
nghiệm mà không đem chúng áp dụng vào đời sống hàng ngày
thì sự bổ ích sẽ không có được bao nhiêu. Sau đây
ta thử xét qua một ví dụ về sự thực thứ tư: Đó
là bát chánh đạo.
Bát
Chánh Đạo
Bát
chánh đạo là con đường của tám nguyên tắc hành động
chân chính (Astamaga). Tám nguyên tắc hành động ấy có
liên hệ nhân quả rất mật thiết với nhau như sau:
1.
Chính kiến: Thấy đúng.
2.
Chính tư duy: Nghĩ đúng.
3.
Chính ngữ: Nói đúng.
4.
Chính nghiệp: Hành động đúng.
5.
Chính mệnh: Phương tiện mưu sinh chân chính.
6.
Chính tinh tiến: Cần mẫn và nỗ lực chân chính.
7.
Chính niệm: Ý thức chân chính.
8.
Chính định: Thiền định chân chính
Nếu
ta chiêm nghiệm và áp dụng tám nguyên tắc trên vào cuộc
sống thường nhật ta sẽ thấy tính cách liên hệ nhân quả
giữa những nguyên tắc ấy. Hãy thử xét nguyên tắc
thứ nhất là CHÍNH KIẾN. Ai cũng bảo nếu thấy đúng
thì hành động mới đúng, do đó chính kiến là cần thiết
cho CHÍNH NGHIỆP. Nhưng làm thế nào để thấy đúng?
Theo đạo Phật, sự thấy đúng không phải chỉ có thể đạt
được do sự học hỏi trong sách vở hay do sự suy tư phân
tích bằng trí thức. Sự thấy đúng là kết quả của
kinh nghiệm sống và của sự tu chứng nữa. Ngày xưa,
triết gia Vương Dương Minh của Trung Hoa có xướng thuyết
TRI HÀNH HỢP NHẤT, có nghĩa là THẤY và HÀNH ĐỘNG là một.
Do THẤY ĐÚNG mà HÀNH ĐỘNG ĐÚNG, do hành động đúng mà
cái thấy càng đúng; hai điều bồi đắp cho nhau. Ý nghĩa
của CHÍNH KIẾN và CHÍNH NGHIỆP trong đạo Phật cũng tương
tợ như vậy; nhưng trong bát chánh đạo, không những chỉ
có chính kiến và chính nghiệp mà còn sáu nguyên tắc khác
nữa, tất cả điều liên hệ với nhau, bồi đắp cho nhau
một cách thắm thiết đến nỗi trong tám chi của bát chánh
đạo, mỗi chi đều bao gồm cả tám chi. Chi nào cũng
làm nhân và đồng thời làm quả cho bảy chi kia. Chính
kiến không phải là bước đầu, cũng như chính định không
phải là bước cuối cùng; tám chi của bát chánh đạo cùng
được áp dụng một lượt, do đó nên đạo Phật gọi đây
là con đường của TÁM NGUYÊN TẮC HÀNH ĐỘNG CHÂN CHÍNH.
CHÍNH
KIẾN là cái thấy về sự thực, sự thực bản thân cũng
như sự thực xã hội, sự thực tâm lý cũng như sự thực
về vũ trụ. Chính kiến có nhiều mức độ cao thấp
khác nhau tùy theo trình độ sinh hoạt và tu chứng của con
người. Mức cao danh của chính kiến gọi là vô thượng
chính đẳng chính giác (Anuttara-samyak-sambodhi) tức là tri giác
cao tột của Phật. Đối với người tu Phật, chính kiến
cần phải được khai mở và phát triển mãi mãi bằng học
tập và thực hành. Quán sát đạo lý duyên khởi và áp
dụng đạo lý ấy trong mọi lãnh vực của sự sống, ta sẽ
nâng cao dần tầm chính kiến của ta.
CHÍNH
TƯ DUY là nghĩ đúng, và nghĩ đúng ở đây có nghĩa là suy
tư phù hợp với đạo lý duyên khởi. Ví dụ như ta muốn
có một cái nhìn chính xác về tình trạng xã hội trong đó
ta đang sống. Ta phải theo nguyên lý duyên khởi mà tìm
ra mọi nguyên nhân xa gần, những nguyên nhân hiển nhiên hoặc
bị che dấu, ta mới có thể đạt được tới cái nhìn chính
xác ấy. Nếu ta chỉ tùy theo thói quen, thành kiến và
khuynh hướng đơn giản hóa vấn đề, ta sẽ không thấy được
đúng, và do đó vì không có chính tư duy nên ta không đạt
tới được chính kiến. Kết luận là ta phải biết tư
duy theo nguyên lý duyên sinh.
CHÍNH
NGỮ là nói đúng, và nói đúng ở đây có nghĩa là phát biểu
sự thực căn cứ trên nguyên lý duyên sinh. Bất cứ một
phát biểu nào của ta mà không phù hợp với nguyên lý duyên
sinh đều không phải là chính ngữ. Lời nói là một
hình thức của hành động gọi là khẩu nghiệp. Lời
nói là dụng cụ để diễn tả điều ta thấy và nghĩ; nếu
thấy sai và nghĩ sai thì nói cũng sai. Mà khi ta nói sai,
ta gây tác động lầm lạc cho chính ta và cho người khác.
Lời nói không những cần phải diễn tả sự thực mà còn
nhắm đến sự xây dựng; ta phải thấy tất cả hậu quả
của lời ta nói. Chỉ khi nào thấu được lý duyên sinh
ta mới biết nói những lời có thể khai thị sự thực, tạo
nên hòa khí, làm tiêu tan không khí nghi kỵ, oán thù và sợ
hãi quanh ta.
CHÍNH
NGHIỆP là hành động đúng, ở đây cũng có nghĩa là hành
động phù hợp nguyên lý duyên sinh. Một hành động thuận
theo lý duyên sinh là một hành động chắc chắn đem lại kết
quả tốt, một người nông dân biết canh tác theo lý duyên
sinh là một người nông dân thông minh, chắc chắn sẽ gặt
hái được nhiều hơn những người nông dân khác. Biết
được hết mọi dữ kiện về hạt giống, phân bón, thời
tiết, thị trường, người nông dân sẽ có nhiều cơ hội
thành công. Trong gia đình và xã hội biết hành động
theo nguyên lý duyên sinh, người Phật tử tạo được hòa
khí và thương yêu xây dựng được đời sống an lạc của
mình mà không phương hại đến an lạc của kẻ khác.
CHÍNH
MỆNH là phương tiện sinh sống chân chính. Một nghề
nghiệp lương thiện, đó là chính mệnh. Nhưng thế nào
là một nghề nghiệp lương thiện? Điều này cũng chỉ
có thể trả lời bằng sự nhận xét về xã hội trên nguyên
lý duyên sinh. Những phương tiện sinh sống không gây
tai họa và khổ đau cho kẻ khác trong hiện tại cũng như trong
tương lai. Những phương tiện sinh sống thẳng thắn,
không lừa đảo, không gieo rắc lầm lạc, không bóc lột kẻ
khác, không vi phạm quyền tự do và bình đẳng kẻ khác, không
phá hoại môi trường sinh hoạt của con người: Đó là
chính mệnh.
CHÍNH
TINH TIẾN là nỗ lực chân chính tức là sự cố gắng không
ngừng trên mọi lãnh vực tu tập. Đây cũng là một phương
diện của sự tu tập theo nguyên lý duyên sinh. Có khi
những nỗ lực của ta không được gọi là chính tinh tiến,
chỉ vì những nỗ lực ấy không phải là chính nghiệp, được
hướng dẫn bởi chính kiến. Những nỗ lực trên hướng
danh lợi, tham lam hay căm thù đều không được gọi là chính
tinh tiến, bởi vì kết quả của những nỗ lực này có thể
là khổ đau cho những người khác và do đó là cho chính bản
thân mình.
CHÍNH
NIỆM là sự nhớ nghĩ chân chính. Chúng ta đừng lầm
chính niệm với chính tư duy. TƯ DUY là sự suy tưởng
trong khi đó NIỆM là sự nhớ nghĩ, trái với sự quên lãng.
Chính niệm là một phương pháp tu luyện rất mầu nhiệm.
Đó là ý thức sáng tỏ về sự sống của chính bản thân
mình. Người Phật tử chân chính là người biết tập
sống thường xuyên trong chính niệm, nghĩa là sống có ý thức,
biết mình đang làm gì, nghĩ gì, nói gì và do đó có thể
soi sáng mọi tư tưởng, ngôn ngữ và hành động mình bằng
nguyên lý duyên sinh. Sống trong sự quên lãng tự để
cho mình bị kéo theo ngày tháng và hoàn cảnh mà không tự
chủ được, không thấy được mình đang sống, không thấy
được sự sống là mầu nhiệm, đó không phải là sống nữa
mà là trôi lăn trong sinh tử.
CHÍNH
ĐỊNH là phương pháp thiền định chân chính. Thiền
định là sự tập trung ý để đạt tới chính kiến tức
là cái thấy chân chính. Định ở đây không có nghĩa
là tư duy hay suy tưởng mà là những phương pháp tập trung
tâm ý và thiền quán nhắm phát khởi trí tuệ. Những
phương pháp này không nhắm đến sự tu luyện thôi miên, pháp
thuật và trường sinh, mà nhắm đến sự phát hiện tuệ giác
giác ngộ nên gọi là chính định.
Ý
Chỉ Của Đạo Phật Nhập Thế
Trên
đây là đại cương các đạo lý duyên sinh, tứ diệu đế
và bát chánh đạo. Học hỏi và thực tập các đạo
lý này, người Phật tử xây dựng bản thân mình về ba mặt
trí tuệ, tình thương và ý chí. Nhưng cá nhân liên hệ
mật thiết với xã hội, do đó sự xây dựng bản thân liên
hệ với sự xây dựng gia đình, xóm làng, giáo hội, quốc
gia và thế giới. Đó là ý chỉ của đạo Phật nhập
thế truyền thống tại Việt Nam.