Chương
13
LUÂN
LÝ TRONG XÃ HỘI
Giáo
dục và Truyền thông
Sống
một cuộc đời thật đúng theo luân lý trong đó chúng ta đặt
nhu cầu của người khác trước tiên, và cung ứng cho hạnh
phúc của họ, có rất nhiều liên hệ đến xã hội ngày nay.
Nếu tự thay đổi nội tâm — tự giải giới bằng giải
pháp xây dựng dành cho các ý niệm và cảm xúc tiêu cực của
mình — chúng ta thật sự có thể thay đổi thế giới. Chúng
ta đã sẵn có rất nhiều khí cụ mạnh mẽ hầu tạo dựng
một xã hội hợp luân lý và hòa bình. Tuy nhiên, một vài
khí cụ đó chưa được sử dụng đúng mức. Ở điểm này,
tôi muốn chia sẻ vài nhãn quan về phương cách và các lãnh
vực nào chúng ta có thể bắt đầu đem đến một cuộc cách
mạng tâm linh của lòng tốt, tâm từ bi, nhẫn nại, bao dung,
tha thứ, và khiêm hòa.
Khi
chúng ta dấn thân cho lý tưởng của sự quan tâm đến tất
cả mọi người, tiếp theo đó cần phải thông truyền các
chính sách xã hội và chính trị của ta. Tôi nói thế không
phải là giả thiết nhờ đó chúng ta sẽ có thể giải quyết
tất cả mọi vấn đề xã hội qua đêm. Đúng hơn, tôi xác
tín rằng, trừ phi một cảm thức rộng rãi về tâm từ bi
mà tôi đã kêu gọi nơi độc giả, chính là nguồn cảm hứng
để thiết lập thứ chính trị của chúng ta, thì các chính
sách chỉ gây tác hại thay vì phục vụ cho toàn thể nhân
loại. Tôi tin rằng chúng ta cần có những bước thực tiễn
hầu nhìn nhận trách nhiệm của ta đối với tất cả người
khác, trong hiện tại cũng như tương lai. Điều đó đúng thật
dù cho có một số khác biệt nhỏ giữa các chính sách có
động cơ là tâm từ bi và các chính sách có động cơ khác,
chẳng hạn như, quyền lợi quốc gia.
Bây
giờ, cho dù trong trường hợp chắc chắn là các lời đề
xướng liên hệ đến từ bi, giới luật nội tại, nhận thức
trí tuệ, và vun bồi đức tánh được áp dụng rộng rãi,
và thế giới sẽ tự động trở thành nơi chốn tốt lành
hơn, hòa bình hơn, tôi tin rằng hiện thực bắt buộc chúng
ta phải giải quyết các vấn đề ở tầm mức xã hội cũng
như cá nhân. Thế giới sẽ chuyển đổi khi mỗi cá nhân đều
cố gắng chống lại các ý niệm và cảm xúc tiêu cực, và
khi chúng ta thật hành từ bi đối với những người không
liên hệ hoặc không có tương quan trực tiếp với mình.
Trên
quan điểm đó, tôi tin, có một số vấn đề trên thế giới
cần được đặc biệt quan tâm, đưa ra trước ánh sáng của
trách nhiệm toàn cầu. Trong đó bao gồm các vấn đề giáo
dục, truyền thông, môi sinh, chính trị và kinh tế, hòa bình
và giải giới, và hòa hợp liên tôn giáo. Mỗi mỗi đều
giữ một vai trò sanh tử trong việc tạo lập nên thế giới
ta đang sống, và tôi đề nghị lần lượt quán sát từng
vấn đề một cách ngắn gọn.
Trước
khi làm việc đó tôi cần nhấn mạnh rằng, các quan điểm
tôi diễn đạt hoàn toàn có tánh cách cá nhân. Đó cũng là
quan điểm của một người không hề tự xưng là chuyên gia
với sự tôn trọng các kỹ thuật chuyên khoa của các vấn
đề này. Nhưng nếu điều tôi nói có vẻ đáng phê phán,
hy vọng của tôi là ít ra nó sẽ khiến độc giả ngưng lại
đôi chút để suy nghĩ. Vì mặc dù không có gì đáng ngạc
nhiên khi thấy một sự dị biệt trong ý kiến liên hệ đến
các điều hiện đang được diễn dịch trong các chính sách
hiện hành, nhu cầu của tâm từ bi, như là nền tảng của
giá trị tâm linh, giới luật nội tại, và tầm quan trọng
của hành vi luân lý trên tổng quát vốn là quan điểm bất
biến của tôi.
Nhân
tâm (lo) vừa là căn nguồn, và nếu đúng hướng, sẽ là giải
pháp cho tất cả mọi vấn đề của ta. Những người đạt
được kiến thức cao, nhưng thiếu tâm thiện lành sẽ bị
hiểm nguy làm mồi cho các sự lo lắng và bất an như kết
quả từ các ham muốn bất toại nguyện. Đảo lại, một sự
hiểu biết chân thật các giá trị tâm linh mang đến ảnh
hưởng đối nghịch. Khi chúng ta nuôi dạy con cái mình cho
có kiến thức mà thiếu từ bi, thái độ của chúng đối
với tha nhân sẽ tương tự như một hỗn hợp của các thứ
đố kỵ với kẻ hơn mình, tranh chấp với kẻ ngang hàng,
và khinh khi kẻ thua kém.
Điều
này dẫn đến một xu hướng về tham dục, tự phụ, thái
quá, và, nhanh chóng mất đi hạnh phúc. Kiến thức rất quan
trọng. Nhưng quan trọng hơn nữa là biết cách sử dụng nó
cho đúng. Điều đó tùy vào tâm và trí của người sử dụng.
Giáo
dục là một vấn đề lớn hơn là chỉ nhằm mang đến kiến
thức và công năng hầu thành đạt các mục tiêu hạn hẹp.
Nó còn là việc mở mắt cho đàn trẻ thấy được nhu cầu
và quyền lợi của tha nhân.
Chúng
ta phải chỉ dạy cho trẻ em rằng, hành động của chúng có
một tầm kích toàn cầu. Và chúng ta phải tìm phương cách
xây dựng cảm xúc thiện lành tự nhiên sao cho chúng có được
một cảm thức trách nhiệm đối với người khác. Vì đó
chính là điều thúc đẩy chúng ta hành động. Thật vậy,
nếu ta phải chọn lựa giữa học hành và đức hạnh, thì
thứ sau đương nhiên có giá trị vượt trội. Một trái tim
tốt lành như quả của đức hạnh, tự nó mang đến lợi
lạc lớn lao cho nhân loại. Kiến thức đơn thuần không làm
được vậy.
Tuy
nhiên, làm sao để dạy đạo đức cho trẻ em? Tôi cảm thấy
rằng, nói chung, hệ thống giáo dục hiện đại bỏ quên không
nói đến vấn đề luân lý. Đây có thể không phải là cố
tình mà hầu như một thứ sản phẩm phụ của thực tế lịch
sử. Hệ thống giáo dục thế tục được phát huy vào một
thời điểm khi các cơ chế tôn giáo vẫn còn tầm ảnh hưởng
lớn lao trên toàn xã hội. Vì các giá trị luân lý và nhân
bản vẫn thường được đặt trong khuôn khổ của tôn giáo,
cho nên diện này trong việc giáo dục trẻ em hầu như giả
định do các tôn giáo đảm trách. Việc đó tương đối đầy
đủ, cho đến khi tầm ảnh hưởng của tôn giáo bị giảm
dần. Mặc dù nhu cầu vẫn còn đó, nhưng lại không được
đáp ứng. Do đó, chúng ta phải tìm một phương cách khác
hầu chỉ dẫn cho trẻ em về tầm hệ trọng của các giá
trị căn bản của loài người. Và ta phải giúp chúng phát
huy được các giá trị đó.
Cuối
cùng, dĩ nhiên, tầm quan trọng của sự quan tâm đến tha nhân
được học hỏi không phải qua lời nói, mà qua hành động:
thí dụ điển hình từ chính chúng ta. Đó là lý do tại sao
môi trường gia đình là yếu tố rất quan hệ trong việc dưỡng
dục một đứa trẻ. Khi một không khí quan tâm và từ ái
thiếu vắng trong nhà, khi trẻ em bị cha mẹ lơ là, rất dễ
nhận thấy các hậu quả tổn hại. Trẻ em có xu hướng cảm
thấy mình không được giúp đỡ và thiếu an toàn, và tâm
trí chúng thường bị rối loạn. Ngược lại, khi trẻ em được
nhận sự trìu mến và bảo vệ thường xuyên, chúng có khuynh
hướng hạnh phúc và tự tin vào khả năng của mình hơn. Sức
khỏe vật lý của chúng cũng khả quan hơn. Và ta thấy chúng
không phải chỉ quan tâm đến riêng mình, mà cả đến người
khác. Môi trường gia đình cũng quan trọng vì trẻ em học
các thái độ tiêu cực từ cha mẹ chúng.
Thí
dụ, nếu người cha thường hay tranh chấp với bạn bè, hoặc
nếu cha hay mẹ thường cãi cọ gấu ó nhau, mặc dù mới đầu
đứa trẻ cảm thấy điều đó đáng chỉ trích, nhưng dần
dà nó lại xem như là chuyện thường. Học biết như thế
từ trong nhà, chúng sẽ đem ra áp dụng ngoài thế giới.
Không
cần phải nói, những điều trẻ em học về hành vi luân lý
ở nhà trường sẽ được đem ra thật hành trước tiên. Về
điểm đó, các giáo chức phải chịu trách nhiệm đặc biệt.
Qua chính thái độ của họ, có thể khiến trẻ em nhớ họ
đến trọn đời. Nếu hành vi này là nguyên tắc, kỷ luật,
và từ ái, thì các giá trị đó sẽ tạo ấn tượng mạnh
mẽ trong tâm trí trẻ em. Đó là vì bài học do các thầy cô
với một động cơ tích cực (kun long) sẽ thẩm thấu rất
sâu đậm trong tâm trí học sinh của họ. Tôi biết được
điều này do chính kinh nghiệm bản thân. Khi còn nhỏ, tôi
rất biếng nhác. Nhưng khi tôi ý thức được sự thân ái
và quan tâm của các vị trợ giáo, các bài học đó của họ
đã để lại ấn dấu sâu đậm hơn là nếu vào thuở đó,
có một vị trong nhóm lại khắc nghiệt hoặc lãnh đạm.
Cho
đến giờ, các chuyên khoa trong nền giáo dục là do các chuyên
gia đảm trách. Tuy nhiên, tôi chỉ tóm lược qua vài đề nghị.
Trước nhất, để thức tâm những người trẻ tuổi trước
tầm quan trọng của giá trị nhân bản nền tảng, tốt hơn
không nên trình bày các vấn đề xã hội thuần túy như thể
đó là vấn đề luân lý hoặc tôn giáo. Điểm quan trọng
cần nhấn mạnh rằng, đó chính là cái mốc cho sự tồn tục
của ta. Bằng cách đó, tuổi trẻ sẽ nhận thấy tương lai
nằm trong tay chúng. Thứ đến, tôi tin rằng sự đàm luận
đó thiết thực và phải được dạy trong lớp học. Trình
bày cùng các học sinh một vấn đề có tánh tranh biện, và
để các em thảo luận cùng nhau, chính là một phương cách
rất tuyệt hầu giới thiệu khái niệm giải quyết một tranh
chấp một cách bất bạo động. Thật thế, hy vọng rằng
khi học đường dành ưu tiên cho việc này, sẽ tạo được
ảnh hưởng lợi lạc cho chính cả đời sống gia đình. Khi
thấy cha mẹ cãi cọ với nhau, một đứa trẻ hiểu được
giá trị của đối thoại có thể tự khởi nói, "Ồ, không.
Đó không phải là cách. Cha mẹ phải nói chuyện với nhau,
thảo luận với nhau một cách thích hợp hơn."
Cuối
cùng, điều thiết yếu là phải loại bỏ khỏi học trình
mọi khuynh hướng trình bày vấn đề dưới màu sắc tiêu
cực. Lấy thí dụ, ở vài nơi trên thế giới quả thật có
việc giảng dạy lịch sử, trong đó đưa vào các lý thuyết
cực đoan hoặc kỳ thị đối với các cộng đồng khác. Dĩ
nhiên điều đó sai lầm. Nó không đóng góp gì cho hạnh phúc
của nhân loại. Bây giờ, hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải
chỉ dẫn cho con em, sự phân biệt giữa "xứ ta" và "xứ người,"
"đạo ta" và "đạo người" chỉ là thứ yếu. Đúng hơn, ta
phải nhấn mạnh trên sự quan sát rằng, quyền hạnh phúc
của tôi không cân nặng hơn quyền của người khác chút nào.
Điều đó không phải bảo là chúng ta phải dạy dỗ con em
bỏ rơi và không biết đến truyền thống văn hóa và lịch
sử của nơi chúng được sanh trưởng. Trái lại, rất quan
trọng phải đặt nền tảng trên đó. Rất tốt cho trẻ em
được học yêu quê hương, tôn giáo, văn hóa và các thứ
của chính mình. Nhưng nguy cơ đến khi điều đó triển khai
thành một thứ chủ nghĩa dân tộc thiển cận, xu hướng quy
chủng tộc, và cực đoan tôn giáo. Thí dụ của Mahatma Gandhi
rất hiển nhiên. Mặc dù ông hấp thụ một nền giáo dục
Tây phương rất cao, nhưng không bao giờ lãng quên và trở
thành xa lạ cùng sản nghiệp phong phú từ nền văn hóa Ấn
độ của ông.
Nếu
giáo dục thiết lập được một trong các thứ khí giới mạnh
mẽ nhất trong sự khao khát đem lại một thế giới tốt đẹp
hòa bình hơn, thì truyền thông là một thứ khác. Mỗi một
khuôn mặt chính trị đều biết, họ không còn là những người
duy nhất có quyền lực trong xã hội. Thêm vào đó còn có
báo chí và sách vở, truyền thanh, điện ảnh, và truyền hình,
gộp chung lại thành một thứ ảnh hưởng lớn lao trên mỗi
cá nhân một cách không thể tưởng tượng nổi vào khoảng
trăm năm trước đây. Sức mạnh này bao gồm một trách nhiệm
lớn của tất cả mọi người chúng ta, các cá nhân, phải
nghe và đọc và xem. Chúng ta cũng có một vai trò của riêng
mình. Chúng ta không phải vô quyền lực trước truyền thông.
Cái nút bấm để kiểm soát đài nằm trong tay ta, nói cho cùng.
Điều
này không có nghĩa là tôi biện luận cho các báo cáo nhạt
nhẽo hoặc các giải trí thiếu hấp dẫn. Trái lại, cho đến
nay trong lãnh vực báo chí điều tra, tôi tôn trọng và đề
cao sự can thiệp của giới truyền thông. Không phải mọi
người phục vụ công cộng đều liêm khiết trong khi thi hành
bổn phận. Do đó, rất thích hợp cần có các ký giả, mũi
của họ dài như vòi voi, đánh hơi chung quanh, và trình bày
các điều sai trái mà họ khám phá thấy. Chúng ta cần biết
đến các cá nhân rất nổi tiếng này nọ đã che dấu khía
cạnh rất đặc thù nào đó bên dưới bề mặt rất dễ ưa
của họ. Có thể có một cách biệt rất lớn giữa bề ngoài
và đời sống nội tâm của một người. Nói cho cùng thì
cũng chỉ là cùng một người. Sự cách biệt đó khiến cho
họ trở thành khó tin cậy. Đồng thời, người điều tra
không thể hành động chỉ vì động cơ không thích đáng.
Không công bằng và không tôn trọng quyền lợi của người
khác, cuộc điều tra tự nó đã bị hoen ố.
Trong
vấn đề truyền thông thường nhấn mạnh về dục tính và
bạo động, có nhiều yếu tố cần quán xét. Trước tiên,
rõ ràng là đa số khán giả đại chúng ưa thích các cảm
giác do loại chất liệu đó gợi ra. Thứ đến, tôi ngờ rằng
các sản phẩm chất liệu chứa dục tính và bạo hành quá
lộ liễu vốn có dụng ý gây hại. Động cơ của họ chắc
chắn chỉ là thương mại. Và cho dù tự nó là tích cực hoặc
tiêu cực, điều đó không quan trọng bằng vấn đề nó có
mang lại ảnh hưởng luân lý thiện lành nào không. Nếu kết
quả sau khi xem một phim với nhiều bạo động, là khiến cho
lòng từ bi của khán giả được khơi dậy, thì diễn đạt
của sự bạo hành này được xác minh.
Trong
khi nếu sự tập hợp quá nhiều hình ảnh bạo động dẫn
đến sự lạnh nhạt, thì kết quả ngược lại. Thật vậy,
làm chai đá con tim là một tiềm chất nguy hại. Nó dễ đưa
đến sự mất đi lòng thiện cảm.
Khi
giới truyền thông đặt trọng điểm quá nhiều vào các khía
cạnh tiêu cực của bản chất con người, có một nguy cơ
là chúng ta sẽ được thuyết phục rằng bạo hành và tranh
chấp là các đặc tánh chính yếu. Đó là một sự sai lầm,
tôi tin vậy. Sự kiện chỉ có bạo hành mới đáng xem là
tin tức đã đề xướng một thứ đối cực. Tin hay ít khi
được chú ý bởi vì có quá nhiều. Hãy xem vào bất cứ thời
điểm nào trên thế giới đều có nhiều trăm triệu hành
động tốt đang diễn ra. Mặc dù không thể nghi ngờ đồng
lúc cũng có rất nhiều hành động xấu đang diễn tiến, nhưng
con số chắc chắn phải ít hơn. Do đó, nếu truyền thông
có trách nhiệm luân lý, cần phải phản ánh sự thật đơn
thuần đó.
Việc
đề ra các luật lệ truyền thông rõ rệt là cần thiết.
Sự kiện cần phải ngăn con em xem một số sự kiện nào đó
cho thấy chúng ta đã phân biệt giữa điều gì thích hợp
và không thích hợp theo các hoàn cảnh khác nhau. Nhưng luật
lệ có phải là phương cách đúng để làm việc đó chăng
là một vấn đề khó thẩm định. Trong tất cả các vấn
đề luân lý, luật lệ chỉ hữu hiệu khi phát khởi từ nội
tâm. Có thể cách tốt nhất để bảo đảm tánh cách lành
mạnh của sản lượng đa dạng qua truyền thông, chính là
cách chúng ta giáo dục con em.
Nếu
ta nhắc nhở chúng biết ý thức trách nhiệm của chính mình,
chúng sẽ trở nên kỷ luật hơn khi dính dấp đến truyền
thông.
Mặc
dù rất khó hy vọng giới truyền thông sẽ xiển dương các
lý tưởng và nguyên tắc của tâm từ bi; ít ra chúng ta có
thể hy vọng những người liên hệ sẽ chú trọng đến vấn
đề ảnh hưởng tiêu cực tiềm ẩn. Ít ra cũng không nên
dành chỗ cho thứ kích thích của loại hành động tiêu cực
như bạo hành kỳ thị chẳng hạn. Nhưng vượt trên điều
đó, tôi cũng chưa biết ra sao. Có thể chúng ta sẽ tìm cách
phương cách nào hầu nối kết trực tiếp hơn các người
tạo ra các câu chuyện cho nguồn tin và giải trí, cùng với
các khán giả, độc giả, hoặc thính giả chăng?
Thế
giới Thiên nhiên
Có
một lãnh vực trong đó cả giáo dục lẫn truyền thông đều
lãnh một trách nhiệm đặc biệt, đó là môi trường thiên
nhiên. Lại nữa, trách nhiệm này ít liên hệ đến vấn đề
đúng hoặc sai mà chính là vấn đề sinh tồn. Thế giới thiên
nhiên chính là nhà của chúng ta.
Không
nhất thiết là đất thánh hoặc đất thiêng, mà chỉ đơn
giản là nơi chúng ta sống. Do đó chúng ta cần chú trọng
bảo tồn nó. Đó là lẽ thường. Nhưng chỉ mới gần đây,
các mực độ dân số, và sức mạnh của khoa học kỹ thuật
đã phát triển đến mức có ảnh hưởng trực tiếp đến
thiên nhiên. Nói cách khác, cho đến giờ, Mẹ Đất còn có
khả năng bao dung được các thói xấu đối với nhà ở của
chúng ta. Nhưng đã đến giai đoạn mà Mẹ không còn im lặng
chịu đựng nổi thái độ của chúng ta nữa. Các vấn đề
do sự phá hoại môi sinh tạo ra có thể xem như phản ứng
của Mẹ trước hành vi vô trách nhiệm của chúng ta. Mẹ cảnh
cáo chúng ta rằng, ngay cả trong sự bao dung nhất cũng phải
có các giới hạn.
Không
nơi nào cho thấy rõ rệt các hậu quả của sự thất bại
trong việc thi hành kỷ luật trong liên hệ giữa ta và môi
trường bằng trường hợp của Tây tạng hiện nay. Không có
gì là quá đáng khi bảo rằng, Tây tạng mà tôi lớn lên là
một thiên đường hoang dã. Bất cứ du khách nào được viếng
Tây tạng trước giữa thế kỷ hai mươi đều nhận thấy
điều đó. Thú vật ít khi bị săn bắt, ngoại trừ một số
vùng quá hẻo lánh không thể trồng trọt hoa màu được. Thật
thế, các viên chức chính quyền hàng năm có thông lệ đưa
ra tuyên cáo về việc bảo về đời sống hoang dã: "Không
ai, dù thường dân hay quý tộc, có quyền làm hại hoặc bạo
hành đối với các động vật trong rừng hoặc dưới nước."
Các ngoại lệ duy nhất là chuột và lang sói.
Khi
còn thơ ấu, tôi còn nhớ đã từng được nhìn thấy rất
nhiều giống thú khác nhau mỗi khi tôi đi du hành khỏi Lhasa.
Hồi ức chính của tôi trong cuộc hành trình ba tháng xuyên
Tây tạng — từ nơi tôi ra đời ở Takster ở miền đông
cho đến Lasa, nơi tôi được chính thức tuyên dương là Đạt
lai Lạt ma năm lên bốn — là đời sống hoang dã mà chúng
tôi được gặp suốt dọc đường đi. Những đàn "kiang" (lừa
rừng) và "drong" (bò rừng) khổng lồ tha hồ gậm cỏ trong
các cánh đồng bao la. Thỉnh thoảng chúng tôi nhìn thấy nhấp
nhoáng một vài đàn "gowa", loại linh dương Tây tạng nhút
nhát; hoặc "wa", loại nai mõm trắng; hoặc "tso", giống sơn
dương uy vũ của chúng tôi. Tôi cũng còn nhớ đến sự chiêm
ngưỡng của mình trước các con "chibi" (thỏ rừng) nhỏ bé
lẩn thật nhanh vào bụi cỏ. Chúng thật dễ thương làm sao.
Tôi cũng thích ngắm nhìn chim chóc, chim "gho" (chim ưng lông
đầu dài) trang trọng cất giọng thật cao trên các tu viện
nằm khuất trên đỉnh núi, từng đàn "nangbar" (ngỗng trời)
bay ngang, và thỉnh thoảng vào đêm, nghe có tiếng của chim
"wookpa" (chim cú tai dài).
Ngay
cả tại Lhasa, người ta cũng không cảm thấy bị cắt lìa
khỏi thế giới thiên nhiên. Trong các căn phòng của tôi nằm
trên tầng đỉnh của Potala, cung điện mùa đông của các
Đạt lai Lạt ma, nơi đó tôi bỏ không biết bao nhiêu thời
giờ của một đứa bé, để theo dõi hành vi của chim "khyungkar"
mỏ đỏ làm ổ trong các khe hở trên vách tường. Và phía
sau Norbulingka, cung điện mùa hạ, tôi thường được thấy
các cặp "trung trung" (chim hạc cổ đen giống Nhật bản), loài
chim đối với tôi là tột đỉnh của sự cao quý và yêu kiều,
thường sống trong các đầm lầy gần đó. Và đó là chưa
kể đến màu sắc rực rỡ của các con thú rừng Tây tạng:
các con gấu và chồn núi, con "chanku" (sói), và "sazik" (con báo
tuyết tuyệt đẹp), và cả con "sik" (sơn miêu) thường gieo
kinh hoàng trong lòng các nông dân du mục, hoặc con gấu trúc
panda lớn với nét mặt hiền lành, sanh trưởng nơi vùng biên
giới giữa Tây tạng và Trung quốc.
Thật
đáng buồn, đời sống hoang dã phong phú đó không còn tìm
thấy nữa. Một số thú vì bị săn bắt, nhưng đa số vì
bị tiêu diệt, vào hậu bán thế kỷ hai mươi, sau khi Tây
tạng bị chiếm đóng, chỉ còn lại một phần nhỏ của lúc
trước. Bất kể người Tây tạng từng về thăm nhà ba bốn
chục năm sau, mà tôi được chuyện trò, cũng đều nói lên
sự thiếu vắng đời sống thiên nhiên đến gây xúc động.
Nơi trước kia thú rừng thường đến thật gần nhà cửa,
giờ đây chẳng còn thấy bóng dáng chúng đâu.
Các
khu rừng bị tàn phá của Tây tạng cũng là mối họa tương
tự.
Trong
quá khứ, các ngọn đồi đều là rừng cây dày đặc; ngày
nay, những người về thăm nhà báo cáo, đồi núi nhẳn nhụi
chẳng khác nào đầu của nhà sư. Nhà cầm quyền ở Bắc
kinh công nhận thảm cảnh lụt lội tại miền tây Trung quốc,
và xa hơn nữa, một phần vì lý do đó.
Thế
mà tôi vẫn tiếp tục nghe các báo cáo về các đoàn xe vận
tải chạy ngày đêm không ngừng nghỉ chở gỗ từ miền đông
rời khỏi Tây tạng. Quả thật đó là một thảm cảnh tạo
trên đất đai rừng núi và khí hậu khắc nghiệt của quốc
gia. Nó có nghĩa là việc trồng cây lại sẽ đòi hỏi rất
nhiều khó khăn trong việc chăm sóc và bảo tồn.
Không
may, hầu như không có chứng cớ gì về việc làm đó.
Tất
cả các điều trên không phải cho thấy, trên mặt lịch sử,
người Tây tạng chúng tôi là "bảo thủ." Chúng tôi không
phải như vậy. Ý tưởng về điều gọi là "ô nhiễm" chỉ
không hề xảy đến cho chúng tôi. Chúng tôi không phủ nhận
đã từng được thiên nhiên nuông chiều trên lãnh vực đó.
Một dân tộc rất ít người sống trên một khu vực rộng
bao la với không khí trong lành khô ráo, và rất nhiều nước
suối rừng tinh khiết. Thái độ ngây thơ trước sự sạch
sẽ được phát lộ khi người Tây tạng bị lưu vong, chúng
tôi rất kinh ngạc khi khám phá ra, chẳng hạn như, sự hiện
hữu của các dòng suối không thể uống nước. Giống như
đứa con một được chiều chuộng, cho dù chúng tôi làm gì
đi nữa, Mẹ Đất vẫn bao dung cho các hành vi đó.
Kết
quả là chúng tôi không có sự hiểu biết thật sự về sạch
sẽ và vệ sinh. Người ta có thể khạc nhổ hoặc xì mũi
ra đường mà chẳng cần chút suy nghĩ. Thật thế, khi nói
vậy, tôi nhớ đến ông lão Khampa, một cựu cận vệ mỗi
ngày thường đến kinh hành vòng quanh khuôn viên nhà tôi ở
Dharamsala (một cách bày tỏ sự tận tụy thông thường). Không
may, ông bị mắc bệnh sưng cuống phổi khá nặng.
Điều
này càng tệ thêm vì cứ hít phải loại đèn sáp mà ông cầm
theo. Cứ ở mỗi góc nhà, ông lại ngừng để ho và khạc
quá mạnh đến nỗi đôi khi tôi phải nghĩ không biết ông
đến để cầu nguyện hay là chỉ để khạc nhổ!
Nhiều
năm sau khi đến lưu vong, tôi đã quan sát rất kỹ tình trạng
môi sinh ở đây. Chính phủ Tây tạng lưu vong đặc biệt chú
trọng đến việc giảng dạy cho trẻ em về trách nhiệm của
chúng như là cư dân trên quả đất mong manh này. Và tôi không
bao giờ ngần ngại nói lên đề tài đó mỗi khi có cơ hội.
Đặc biệt, tôi luôn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải
quán xét các hành động của chúng ta ảnh hưởng như thế
nào đến môi sinh, cũng như đối với người khác. Tôi công
nhận đó là điều khó phán đoán. Chúng ta không thể quyết
đoán hậu quả cuối cùng của các sự kiện, chẳng hạn như
việc phá rừng, sẽ ảnh hưởng đến đất đai và mưa rừng
như thế nào, đừng nói gì đến các sự áp đặt trên hệ
thống khí hậu của địa cầu. Điều rõ rệt nhất là con
người chúng ta là loài động vật duy nhất có sức mạnh
tàn phá trái đất, như chúng ta đều biết. Loài chim không
có sức mạnh này, sâu bọ cũng không, và bất cứ loài hữu
nhũ nào cũng không. Thế nhưng nếu chúng ta có khả năng phá
hủy địa cầu, thì cũng có khả năng bảo vệ nó.
Điều
cốt yếu là chúng ta tìm ra phương cách sản xuất sao cho không
tàn hoại thiên nhiên. Chúng ta cần tìm ra cách cắt giảm bớt
nhu cầu dùng gỗ hoặc các thứ tài nguyên thiên nhiên hạn
chế khác.
Tôi
không phải là chuyên viên của lãnh vực đó, và tôi không
thể đề nghị cách thực hiện nào. Tuy chỉ biết rằng, nếu
có thể, nên đưa ra các quyết định thiết yếu. Thí dụ,
tôi còn nhớ đã từng nghe nhân một chuyến viếng thăm Stockholm
vài năm trước đây, về sự kiện lần đầu tiên trong nhiều
năm, loài cá đã trở lại các con sông chảy ngang qua các thành
phố. Chỉ mới gần đây, không có một con cá nào cả, vì
nước sông bị nhiễm độc kỹ nghệ. Tuy nhiên, tiến bộ
này chỉ là kết quả của việc tất cả các cơ xưởng trong
vùng bị đóng cửa. Cũng thế, trong chuyến viếng thăm Đức
quốc, tôi được cho xem một kiến trúc kỹ nghệ được thiết
kế hầu không tạo ra ô nhiễm. Điều đó cho thấy, rõ rệt
là có được các giải pháp hạn chế bớt sự tổn hại thế
giới thiên nhiên mà không khiến cho nền kỹ nghệ bị ngăn
chặn.
Điều
đó không có nghĩa tôi tin rằng chúng ta có thể trông cậy
vào kỹ thuật hầu vượt qua mọi vấn đề. Tôi cũng không
tin chúng ta có thể tiếp tục hành động phá hủy trong khi
áp dụng giải pháp kỹ thuật toàn hảo. Ngoài ra, môi trường
cũng không cần phải tái lập.
Chính
thái độ của chúng ta trong tương quan đó mới cần phải
thay đổi. Thử hỏi nếu trong trường hợp một thiên tai đại
họa khủng khiếp xảy ra vì hiện tượng nhà kiếng, thì bất
cứ một "chỉnh trang" nào cũng không thể thực hiện được,
dù chỉ trên lý thuyết.
Cho
dù giả thiết có thể có đi, chúng ta phải đặt câu hỏi
về sự áp dụng trên tầm mức lớn cần thiết đó có khả
dĩ chăng? Rồi chi phí như thế nào và tổn phí trên phương
diện tài nguyên thiên nhiên của chúng ta ra sao? Tôi ngại rằng
các con số đó quá cao vượt ngoài hạn định. Đó cũng là
dữ kiện của nhiều lãnh vực khác — như sự cứu đói cho
loài người — hiện đã không có đủ quỹ tài trợ hầu
đáp ứng nhu cầu vốn đã bị xem nhẹ quá. Do đó, cho dù
người ta biện luận là các quỹ cần thiết có thể quyên
góp, nhưng phải nói bằng lương tâm đạo đức rằng, hầu
như không thể biện bác gì nữa cho một sự thiếu sót đến
như thế. Thật không đúng khi tiếp tục tung ra các khoản
tiền khổng lồ chỉ nhằm giúp cho các nước kỹ nghệ hóa
tiếp tục hành xử tai hại, trong khi loài người ở các nơi
khác lại không có thức ăn để sống.
Tất
cả các điểm trên đều nhằm vào nhu cầu nhận thức được
tầm cỡ toàn cầu của hành động chúng ta, và căn cứ trên
đó, cần phải thực hiện giới chế. Nhu cầu bắt buộc phải
đề ra khi chúng ta quán xét về sự sanh sôi nảy nở của
loài người. Mặc dù theo quan điểm của mọi tôn giáo chính,
càng nhiều người thì càng tốt, và mặc dù theo một số
nghiên cứu mới nhất đề ra một sự bùng nổ dân số trong
vòng một thế kỷ tới, tôi vẫn tin rằng chúng ta không thể
bỏ quên vấn đề này. Với địa vị tăng sĩ, có thể không
thích hợp cho tôi khi bàn thảo các vấn đề đó. Nhưng tôi
tin rằng kế hoạch hóa gia đình là điều quan trọng. Dĩ nhiên,
tôi không muốn đề xướng chúng ta không nên có con. Đời
người rất quý báu, và các cặp vợ chồng nên có con trừ
phi có những lý do phải tránh. Ý tưởng không có con chỉ
vì muốn hưởng thụ một đời sống đầy đủ khỏi chịu
trách nhiệm, theo tôi, là một điều sai lầm. Đồng thời,
lứa đôi cũng có bổn phận phải cứu xét mức ảnh hưởng
của nhân số đối với môi sinh. Điều đó đặc biệt đúng
với các kỹ thuật tân tiến.
Cũng
may là càng ngày càng nhiều người nhận thức được tầm
quan trọng của kỷ luật luân lý như một phương tiện đảm
bảo một nơi chốn lành mạnh cho cuộc đời. Vì lý do đó,
tôi khá lạc quan rằng, đại họa thiên tai đó có thể tránh
được. Cho đến gần đây, ít người thật sự quan tâm đến
ảnh hưởng của sinh hoạt loài người trên quả địa cầu.
Nhưng hiện nay, có cả các đảng phái chính trị đặt mối
quan tâm đó là mục tiêu sinh hoạt. Hơn nữa, sự kiện không
khí chúng ta thở, nước chúng ta uống, rừng và biển chứa
hàng triệu hình thái sinh vật khác nhau, và các khuôn thức
thời tiết chi phối hệ thống khí hậu của chúng ta, tất
cả đều đã vượt biên cương quốc gia để trở thành một
nguồn hy vọng mới. Điều đó có nghĩa, không một quốc gia
nào, dù giàu mạnh hoặc nghèo yếu, có khả năng chịu đựng
tổn phí của hành động không tôn trọng vấn đề trên.
Cho
đến khi nào các cá nhân đều biết quan tâm đến, các vấn
đề hậu quả của sự lơ là môi sinh vẫn là một sự nhắc
nhở mạnh mẽ rằng, tất cả chúng ta đều cần phải góp
phần. Và trong khi hành động của một cá nhân không có kết
quả gì đáng kể, thì ảnh hưởng tổng hợp của hàng tỷ
hành động cá nhân chắc chắn có thể làm được. Đây là
thời điểm cho mọi người sinh sống trong các xã hội kỹ
nghệ tiền tiến phải suy nghĩ tận tường về việc thay đổi
lối sống. Lại nữa, đây cũng chẳng phải chỉ là vấn đề
luân lý. Sự kiện dân số còn lại của thế giới cũng bình
quyền trong việc phát triển mức sống của họ vốn hệ trọng
hơn các người giàu có tiếp tục duy trì lối sống xa hoa
phung phí. Nếu điều đó được trọn vẹn mà không tạo thành
tổn hại khó chuộc lại trên thiên nhiên — kéo theo tất
cả hậu quả tiêu cực đối với hạnh phúc — thì các nước
giàu nên cố gắng nêu gương. Tổn phí cho địa cầu, và từ
đó, cho nhân loại, chỉ vì lối sống quá xa hoa không bao giờ
ngừng, quả thật là quá đắt.
Chính
trị và Kinh tế
Tất
cả chúng ta đều mơ đến một thế giới tốt đẹp hạnh
phúc hơn.
Nhưng
nếu chúng ta muốn biến nó thành hiện thực, phải đảm bảo
được từ bi là nguồn cảm hứng cho mọi hành động. Điều
đó đặc biệt đúng đối với các chính sách chính trị và
kinh tế. Được biết hơn nửa dân số thế giới hiện đang
thiếu thốn các nhu cầu căn bản về thức ăn, chỗ ở, thuốc
men, và giáo dục; tôi thiết tưởng chúng ta cần đặt câu
hỏi, phải chăng ta đang theo đuổi đường lối sáng suốt
nhất đối với sự kiện đó? Tôi nghĩ rằng không. Nếu như
năm dần qua đến trọn năm mươi năm rồi, chúng ta đã có
thể quét sạch nạn nghèo đói, thì sự phân phối bất quân
bình của tài sản hiện nay may ra còn được minh xác. Thế
nhưng, ngược hẳn lại, nếu đà này cứ tiếp diễn, điều
chắc chắn là người nghèo chỉ lại nghèo hơn. Chỉ riêng
cảm thức căn bản của chúng ta về sự công bằng và công
lý đã đề xướng rằng, chúng ta không nên thản nhiên phó
mặc cho sự việc trên tiếp diễn.
Đương
nhiên, tôi không biết về kinh tế. Nhưng tôi thấy rất khó
tránh một kết luận rằng, tài sản của kẻ giàu được
tích lủy từ sự bỏ mặc kẻ nghèo, đặc biệt qua phương
tiện các món nợ quốc tế. Nói lên điều đó, tôi không
có ý đề nghị các nước chậm phát triển không cần chịu
trách nhiệm về vấn đề của họ. Cũng không phải chúng
ta nên đổ trút tất cả bệnh chứng xã hội và kinh tế lên
đầu các viên chức chính trị và công quyền. Tôi không phủ
nhận ngay đến các nền dân chủ vững chắc nhất trên thế
giới cũng thường có những chính trị gia đưa ra các lời
hứa không thực tế và khoa trương về đủ thứ họ sẽ làm
một khi đắc cử. Nhưng những người đó không phải từ
trên trời rơi xuống. Vì vậy nếu các chính trị gia của
một xứ nào đó tham nhũng hủ bại, chúng ta thường có xu
hướng cho rằng xã hội đó thiếu đạo đức và các cá nhân
kết thành dân tộc đó không sống đời hợp luân lý. Trong
các trường hợp đó, thật không mấy công bằng khi chỉ có
những cử tri chỉ trích các chính trị gia. Mặt khác, khi người
ta có các giá trị lành mạnh, và khi họ thật hành giới luật
luân lý trong đời sống đặt căn bản trên sự quan tâm đến
tha nhân, thì các viên chức công quyền đến từ xã hội đó
tự nhiên cũng tôn trọng cùng thứ giá trị. Mỗi người chúng
ta, do đó, đều giữ vai trò trong việc tạo dựng một xã
hội dành ưu tiên cho sự tôn trọng và quan tâm đến người
khác, đặt nền tảng trên thiện cảm.
Trên
bình diện thực hiện chính sách kinh tế, cùng quan điểm đó
cần được áp dụng trong sinh hoạt của mỗi người. Một
cảm thức về trách nhiệm toàn cầu rất trọng yếu. Tuy nhiên
tôi phải nhìn nhận, rất khó đưa ra các đề nghị thực
tiễn về sự áp dụng các giá trị tâm linh trong lãnh vực
thương mại. Bởi vì cạnh tranh đóng vai trò rất quan trọng
ở đây. Vì lý do đó, liên hệ giữa thiện cảm và lợi nhuận
nhất thiết phải rất mong manh. Tuy nhiên, tôi chẳng thấy
tại sao không thể tạo một sự cạnh tranh xây dựng. Yếu
tố then chốt chính là động cơ của các người tham dự.
Khi ý định là lợi dụng hoặc hủy diệt kẻ khác, hiển
nhiên hậu quả không thể nào tích cực. Nhưng khi cạnh tranh
được điều động trên một tinh thần rộng lượng và thiện
chí, thì kết quả, mặc dù vẫn phải kéo theo sự đau khổ
của kẻ thua cuộc, ít ra cũng không đến nỗi tác hại.
Lại
nữa, có thể phản đối là trong thực trạng thương mại,
chúng ta quả thật không thể nào hy vọng các thương vụ đặt
con người lên trên lợi nhuận. Nhưng ở đây, ta phải nhớ
rằng những kẻ quản trị kỹ nghệ và doanh nghiệp trên thế
giới cũng vẫn là loài người. Cho dù người cứng rắn nhất
chắc chắn phải nhìn nhận rằng đi tìm lợi nhuận bất kể
hậu quả là điều sai lầm. Nếu điều đó đúng, thì buôn
bán ma túy cũng không sai. Vì thế, một lần nữa, điều đòi
hỏi ở đây là mỗi người chúng ta nên tự phát huy lấy
bản chất từ bi của mình. Chúng ta càng gia tăng được điều
đó, thì doanh thương càng phản ánh được các giá trị căn
bản của loài người.
Ngược
lại, nếu chính chúng ta lơ là các giá trị đó, không sao
tránh khỏi thương mại cũng sẽ lơ là chúng. Đó không phải
là vấn đề lý tưởng. Lịch sử cho thấy có nhiều tiến
triển tích cực trong xã hội diễn ra như kết quả của tâm
từ bi. Lấy thí dụ, sự hủy diệt thương vụ buôn bán nô
lệ. Nếu nhìn vào tiến hóa của xã hội loài người, chúng
ta thấy sự cần thiết phải có viễn ảnh hầu mang lại các
đổi thay tích cực. Lý tưởng là guồng máy của tiến bộ.
Bỏ quên điều này, và chỉ nói rằng chúng ta cần phải "thực
tiễn" là một lỗi lầm trầm trọng.
Các
vấn đề của chúng ta về sự phân phối kinh tế bất quân
bình tạo nên một thách đố rất lớn cho toàn thể gia đình
nhân loại. Tuy nhiên, khi chúng ta cùng đi vào thiên kỷ mới,
tôi tin rằng có rất nhiều lý do để lạc quan. Trong các năm
đầu và giữa thế kỷ hai mươi, có một nhận thức tổng
quát rằng quyền lực chính trị và kinh tế vốn là hậu quả
hơn là sự thật. Nhưng tôi tin quan điểm đó đã thay đổi.
Ngay cả các nước giàu mạnh nhất đã hiểu rằng không nên
bỏ quên các giá trị nhân sinh. Khái niệm về vị trí dành
cho luân lý trong bang giao quốc tế ngày càng vững chắc. Đó
là không quan hệ với những điều đã được diễn dịch
thành hành động; ít ra các ngôn từ như "tái hòa hợp," "bất
bạo động," và "sự cảm thông" đã trở thành ngữ vựng
tồn trữ của các chính trị gia ngày nay. Đó là một tiến
triển hữu ích. Theo kinh nghiệm cá nhân ghi nhận được khi
công du ngoại quốc, tôi thường được yêu cầu thuyết về
hòa bình và từ bi cho các cử tọa đoàn khá lớn — thường
vượt quá số ngàn. Tôi không tin các đề tài đó hấp dẫn
được số đông người như thế bốn mươi hoặc năm mươi
năm về trước. Những tiến triển như trên đánh dấu tập
thể loài người đã đặt nặng các giá trị căn bản như
công lý và chân lý.
Tôi
cũng rất vững tâm trước dữ kiện là, nền kinh tế thế
giới càng tiến bộ, sự tùy thuộc lẫn nhau càng hiển nhiên.
Kết quả, mỗi quốc gia này không nhiều thì ít đều phải
tùy thuộc vào một quốc gia khác. Các loại kinh tế tân tiến,
như là môi sinh, vốn không có biên cương. Ngay giữa các quốc
gia kình địch với nhau cũng phải hợp tác trong việc sử
dụng tài nguyên thiên nhiên thế giới.
Thông
thường, lấy thí dụ, họ phải tùy thuộc vào chung một con
sông. Và các mối tương quan kinh tế càng tùy thuộc nhau, thì
tương quan chính trị càng tùy thuộc nhau. Nhờ vậy, chúng
ta đã được chứng kiến, lấy thí dụ, sự lớn dậy của
Liên hiệp Âu châu, bắt đầu chỉ là vài bạn hàng trao đổi
mậu dịch nho nhỏ, đi dần đến sự kết hợp của các quốc
gia thành một liên bang với số thành viên giờ đây đã gia
tăng gấp đôi. Chúng ta cũng nhìn thấy hình thức tương tự,
cho dù kém phát triển bằng, của sự tập hợp trên thế giới,
có thể nêu danh ba tổ chức tiêu biểu: Hiệp hội các Quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Phi châu Hợp nhất (OAU), Tổ
chức các Quốc gia Xuất cảng Dầu hỏa (OPEC). Mỗi một tổ
chức thử nghiệm một động lực nhân sinh về sự hợp quần
vì lợi ích chung, và phản ánh sự tiến hóa không ngừng của
xã hội loài người. Khởi đầu chỉ là các bộ lạc nho nhỏ,
đã phát triển thành các đô thị tiểu quốc rồi đến quốc
gia, và hiện giờ là các đồng minh bao gồm nhiều trăm triệu
người, tiếp tục vượt trên mọi lằn biên phân chia địa
dư, văn hóa, và chủng tộc. Đó là một khuynh hướng tôi
tin là sẽ và phải tiếp tục.
Tuy
nhiên, chúng ta không thể phủ nhận rằng, song song với sự
phong phú của các liên hợp chính trị và kinh tế nói trên,
còn có một yêu cầu hiển nhiên của sự quy tập lớn lao
hơn vượt các đường ranh giữa chủng tộc, ngôn ngữ, tôn
giáo và văn hóa — lại thường có bạo động tiếp diễn
theo việc tháo bỏ liên hệ vào thể chế quốc gia. Chúng ta
phải làm gì trước sự kiện nhị diện có vẻ tương phản
đó — một diện là khuynh hướng hợp tác vượt quốc gia,
diện kia là động cơ địa phương hóa? Thật ra, không nhất
thiết có sự mâu thuẫn giữa hai mặt. Chúng ta vẫn có thể
hình dung các cộng đồng địa phương hợp tác trong chính
sách mậu dịch, xã hội, và các phối trí an ninh chung, nhưng
vẫn giữ được sự đa dạng độc lập về nhân chủng, văn
hóa, tôn giáo và các thứ khác. Có thể tạo một hệ thống
luật pháp bảo vệ nhân quyền cơ bản trong các cộng đồng
lớn hơn, mà vẫn để cho các cộng đồng nhỏ có quyền tự
do theo đuổi lối sống riêng họ mong muốn. Đồng thời, quan
trọng nhất trong sự xây dựng các loại hợp tác đó, là
sự tự nguyện và đặt nền tảng trên nhận thức về quyền
lợi của các phần tử đều được phục vụ tốt đẹp hơn
qua sự hợp tác. Họ không thể bị áp đặt. Thật thế, thách
đố của thiên kỷ mới chắc chắn là phải truy tìm phương
cách hầu đạt đến sự hợp tác quốc tế—hay tốt hơn
nữa, cộng đồng toàn cầu—trong đó sự đa dạng của loài
người được công nhận và quyền lợi của tất cả được
tôn trọng.