Chương
10
NHU
CẦU NHẬN THỨC
Trong
nghiên cứu về phát triển luân lý và tâm linh, chúng ta đã
từng nói rất nhiều đến nhu cầu về giới luật hoặc kỷ
luật. Tuy rằng điều đó có vẻ như lỗi thời, thậm chí
khó chấp nhận, trong một thời đại và văn hóa quá nhấn
mạnh đến mục đích của sự thành tựu cá nhân. Nhưng lý
do người ta có nhãn quan tiêu cực về kỷ luật là vì, theo
tôi, phần lớn do sự hiểu biết thông thường về từ Ngữ
đó. Người ta thường có xu hướng kết hợp kỷ luật với
điều gì áp đặt chống lại ý muốn của họ. Tuy nhiên,
tưởng cũng đáng lặp lại, điều chúng ta nói lên khi nhắc
đến giới luật tâm linh chính là điều ta tự nguyện thọ
nhận trên căn bản nhận thức trọn vẹn lợi lạc của nó.
Đó không phải là một khái niệm xa lạ. Chúng ta không ngần
ngại chấp nhận kỷ luật khi nó có lợi cho sức khỏe vật
lý.
Theo
lời khuyên của y sĩ, chúng ta tránh các thức ăn có hại ngay
dù có thèm muốn. Thay vì vậy, chúng ta chỉ ăn các thức có
lợi cho mình. Trong khi quả thật trong bước đầu tiên, kỷ
luật bản thân, ngay dù tự nguyện chấp nhận, có thể liên
hệ đến sự nhọc nhằn và ngay đến một mức độ phấn
đấu nào đó, nhưng nó sẽ nhẹ nhàng hơn qua thời gian, nhờ
sự quen thuộc và áp dụng chuyên cần. Nó hơi giống như là
làm chuyển hướng một dòng nước. Đầu tiên, chúng ta phải
đào kênh và đắp bờ. Kế đó, khi nước được dẫn vào
trong, chúng ta còn cần phải điều chỉnh chỗ này chỗ khác.
Nhưng khi dòng nước đã hoàn toàn tạo lập, thì nước sẽ
chảy theo chiều ta mong muốn.
Giới
luật luân lý cần thiết bởi vì nó là phương tiện nhờ
đó ta nối kết được các sự cạnh tranh quyền hạnh phúc
của ta và người. Dĩ nhiên là có những người giả định
quyền hạnh phúc của họ quan trọng hơn đến đỗi bất cần
đến hậu quả đau khổ của người khác. Nhưng đó là thiển
cận. Nếu độc giả chấp nhận sự đặc trưng hóa hạnh
phúc do tôi nêu ra, tiếp theo đó là, không ai thật sự hưởng
lợi lạc từ việc làm hại người khác. Bất cứ lợi ích
trực tiếp đạt được qua sự tổn hại của người khác
bắt buộc chỉ là tạm bợ. Về lâu dài, làm hại người
khác, và phá rối an bình cùng hạnh phúc của họ tạo cho
chúng ta lo lắng. Bởi vì hành động của ta có ảnh hưởng
trên chính mình và người khác, khi ta thiếu giới luật, dần
dà lo âu khởi dậy trong lòng, và sâu tận thâm tâm, ta sẽ
cảm thấy không yên tĩnh. Ngược lại, dù nhọc nhằn cách
mấy, giới luật các phản ứng của ta trước các ý niệm
và cảm xúc tiêu cực về lâu về dài sẽ bớt tạo ra phiền
phức như khi dung dưỡng các hành động ích kỷ.
Tuy
nhiên, cần lặp lại một lần nữa, giới luật luân lý không
phải chỉ bao hàm sự kềm chế. Nó còn tiếp nối bằng việc
đào luyện đức hạnh. Tình thương và tâm từ bi, khoan dung,
tha thứ, vân vân là các phẩm chất cốt yếu. Khi chúng hiện
hữu trong cuộc đời, mọi thứ ta làm đều trở thành một
dụng cụ tạo lợi lạc cho toàn thể gia đình nhân loại.
Ngay trong công việc hàng ngày của ta — dù chỉ là giữ trẻ
tại nhà, làm việc trong hãng xưởng, hoặc phục vụ cộng
đồng như bác sĩ, luật sư, doanh gia, hay giáo sư — tất cả
hành động của ta đều có phần đóng góp vào sự an sinh
chung. Và bởi vì kỷ luật luân lý giúp cho các phẩm chất
dễ phát triển, tạo ý nghĩa và giá trị cho cuộc đời, nên
nó là một điều hiển nhiên được người biết nhận thức
thọ hành trong sự phấn khởi và tinh tấn.
Trước
khi xét đến phương cách áp dụng thứ giới luật nội tại
đó vào các tương quan cùng người khác, cần lược lại về
các nền tảng xác định hành vi luân lý là vô tác hại như
thế nào. Như chúng ta đã thấy, thực tế có tánh chất phức
tạp, cho nên khó nói rằng một hành động riêng tư nào đó,
hoặc một loại hành động nào đó tự nó đúng hay sai. Hành
vi luân lý do đó chẳng phải điều chúng ta dấn thân vào,
chỉ vì tự riêng nó là đúng. Chúng ta làm thế vì nhận ra
rằng nếu như ta muốn hạnh phúc và tránh đau khổ, người
khác cũng vậy. Vì lý do đó, khó nghĩ được một hệ thống
luân lý ý nghĩa tách rời khỏi vấn đề kinh nghiệm của
ta về hạnh phúc và đau khổ.
Dĩ
nhiên, nếu chúng ta muốn hỏi đủ loại câu khó khăn đặt
căn bản trên siêu hình học, thì luận thuyết về luân lý
sẽ trở nên quá phức tạp. Trong khi thật hành luân lý không
thể giảm thiểu thành một loại thực tập lý luận, hoặc
chỉ đơn giản là các điều lệ phải theo; thì bất cứ nhìn
vào nó cách nào, cuối cùng ta cũng trở lại câu hỏi nền
tảng về hạnh phúc và đau khổ. Tại sao hạnh phúc lại tốt
và đau khổ lại xấu cho chúng ta? Có lẽ không có được
câu trả lời kết luận. Nhưng có thể quán sát rằng, bản
chất chúng ta vốn thích thứ này hơn thứ kia, giống như là
thích cái tốt hơn thay vì cái chỉ tốt. Chúng ta chỉ bị
thu hút bởi hạnh phúc và tránh xa đau khổ. Nếu đi xa hơn
và hỏi tại sao như vậy, chắc chắn câu trả lời sẽ đại
khái như, Đó là như thế đó, hoặc đối với người có
đức tin, Thượng đế tạo chúng ta cách đó.
Cho
đến đây, đặc trưng của luân lý trong hành động được
đề cập đến, chúng ta đã thấy nó tùy thuộc vào rất nhiều
yếu tố. Thời gian và hoàn cảnh có tầm quan trọng lớn đến
vấn đề. Nhưng, sự có hoặc mất tự do của cá nhân cũng
thế. Một hành động tiêu cực có thể xem như trầm trọng
nhất khi kẻ làm việc đó với trọn vẹn tự do, đối lại
với người bị bắt buộc phải làm trái với ý muốn của
họ. Tương tự, sự thiếu lòng hối hận cũng phản ánh được
điều đó, hành động tiêu cực cứ được dung dưỡng tái
lập có thể xem như trầm trọng hơn là hành động đơn lẻ.
Nhưng ta cũng phải xét đến ý định đằng sau hành động,
cũng như nội dung của nó. Tuy vậy, câu hỏi vượt lên trên
có liên hệ đến trạng thái tâm linh của cá nhân, trạng
thái tâm và trí (kun long) toàn bộ trong giây phút hành động.
Bởi vì, nói chung, đây là lãnh vực chúng ta có quyền kiểm
soát nhiều nhất, đây là thành phần ý nghĩa nhất để xác
định đặc tánh luân lý trong hành động. Như chúng ta đã
thấy, khi ý định của ta bị ô trược bởi ích kỷ, hận
thù, từ tham vọng đến thất vọng, tuy rằng đa số các hành
động bộc lộ ra ngoài có vẻ xây dựng, nhưng ảnh hưởng
không thể tránh của chúng sẽ là tiêu cực, cho cả ta lẫn
người.
Bằng
cách nào chúng ta có thể áp dụng nguyên tắc vô tác hại
khi đối diện cùng một vấn đề luân lý tiến thoái lưỡng
nan? Đây là lúc năng lực phán đoán và tưởng tượng của
chúng ta làm việc. Tôi đã ừng mô tả hai điều trên như
hai nguồn quý báu nhất, và đề khởi việc sở hữu chúng
là điểm khác biệt giữa loài người và thú vật.
Chúng
ta cũng đã thấy chúng quan trọng ra sao khi cần phải học
đối phó cùng đau khổ. Trong việc thật hành luân lý, hai
phẩm chất này cho phép chúng ta phân biệt giữa lợi ích ngắn
hạn và dài hạn; lượng định mức độ luân lý qua các hành
động khác nhau; và các hậu quả của hành động, để từ
đó ta có thể chọn lựa đạt đến các mục tiêu giá trị
và bỏ lại các mục tiêu thấp hơn. Trong trường hợp khó
tiến thoái, từ ngay phút đầu, chúng ta cần phải nhận xét
về đặc điểm của hoàn cảnh, trong một thứ ánh sáng, mà
theo truyền thống Phật giáo gọi là "phối hợp phương tiện
thiện xảo và tri kiến." "Phương tiện thiện xảo" có thể
được hiểu như là nỗ lực của ta tùy theo hoàn cảnh để
đảm bảo các việc làm theo đúng động lực của từ bi.
"Tri kiến" là cơ năng tối yếu của ta và cách thức — nhằm
phản ứng cùng các yếu tố liên hệ khác nhau — ta chấn
chỉnh mức độ theo lý tưởng vô tác hại sao cho thích hợp
với khuôn khổ của hoàn cảnh. Chúng ta có thể gọi đó là
cơ năng của nhận thức có minh tuệ.
Sử
dụng cơ năng này — vốn đặc biệt quan trọng khi không có
sự kêu gọi của tín ngưỡng — liên hệ thường xuyên đến
việc kiểm soát nhãn quan của chúng ta và tự đặt câu hỏi
rằng, Ta có đại trí hay tiểu trí. Ta đang đặt vào hoàn
cảnh tổng quát hay là chỉ chú ý đến các chi tiết đặc
biệt? Nhãn quan của ta ngắn hạn hoặc dài hạn? Ta có thiển
cận quá hay lu mờ quá chăng? Động cơ của ta có thuần từ
bi chăng khi quán xét mối liên hệ đến mức toàn thể loài
người? Hoặc là từ bi của ta chỉ hạn hẹp trong vòng gia
đình, bạn hữu, và một số người xem như thân cận? Cũng
như trong việc khám phá bản chất chân thật của ý niệm
và cảm xúc, chúng ta cần phải nghĩ, nghĩ, nghĩ.
Dĩ
nhiên, không thể luôn luôn bỏ thời gian vào việc nhận thức
thận trọng. Thỉnh thoảng chúng ta phải hành động tức khắc.
Đó là tại sao sự phát triển tâm linh của chúng ta ở tầm
mức quan trọng trong sự đảm bảo các hành động của ta
được lành mạnh về luân lý.
Hành
động càng tự khởi, thì chúng càng có khuynh hướng phản
ánh lại thói quen và xu hướng của chúng ta trong thời điểm
đó. Nếu có điều gì bất thiện, hành động của ta sẽ
nối vào sự phá hủy. Đồng thời, tôi tin rằng rất cần
thiết phải có một loạt các giới huấn luân lý nhằm hướng
dẫn chúng ta trong đời sống hàng ngày. Điều này có thể
giúp ta tạo thành thói quen tốt. Tuy nhiên, tôi phải đưa thêm
ý kiến của mình là, khi chấp hành các giới huấn đó, tốt
nhất nên ít nghĩ về chúng như là các khuôn khổ đạo đức,
mà xem như các nhắc nhở thường xuyên đến tha lợi trong
tâm khảm và trước lý trí.
Về
nội dung của các giới luật, chúng ta thật khó đưa ra điều
gì hơn các chỉ dạy luân lý căn bản của mọi tôn giáo lớn
trên thế giới hoặc ngay cả của các truyền thống triết
lý nhân bản. Sự thỏa hiệp giữa các điều trên hầu như
bắt buộc, mặc dù có khác biệt giữa các ý kiến liên hệ
đến nền tảng siêu hình. Tất cả đều đồng ý về sự
tiêu cực trong việc sát sanh, trộm cắp, dối trá, và tà dâm.
Thêm
vào đó, trên quan điểm yếu tố động cơ, tất cả đều
đồng ý về sự cần thiết phải tránh oán hận, kiêu mạn,
tà ý, phóng dật, cầu vọng, tham lam, dâm dật, các lý tưởng
tác hại (như kỳ thị), và vân vân.
Một
số người có thể nghĩ không hiểu sự giới chế tà dâm
có là điều cần thiết trong thời đại việc phòng ngừa
sanh sản quá giản dị và hữu hiệu này. Tuy nhiên, như là
con người, chúng ta có xu hướng bị ngoại vật thu hút, dù
thọ cảm bằng mắt, khi bị thu hút bởi hình tướng; bằng
tai, khi sự thu hút khởi dậy qua âm thanh; hoặc qua bất cứ
giác quan nào khác. Mỗi một thứ đều có khả năng trở thành
một nguồn khó khăn cho chúng ta. Thế mà thu hút dục tình
bao gồm cả ngũ quan. Kết quả, trong khi sự ham muốn tột
độ đi kèm theo sự thu hút của dục tình, nó có thể tạo
cho chúng ta những vấn đề to tát. Tôi tin sự kiện được
nhận thức theo chiều hướng luân lý chống tà dâm đều được
các tôn giáo lớn xiển dương. Và, ít nhất trong truyền thống
Phật giáo, chúng ta được nhắc nhở rằng xu hướng ham muốn
dục tình sẽ trở thành ám ảnh. Nó nhanh chóng đi đến điểm
một người không còn chỗ nào cả cho sinh hoạt xây dựng.
Một
thí dụ về sự liên kết đó, trường hợp ngoại tình. Như
đã nói trên, hành vi luân lý thiện lành sẽ tạo ảnh hưởng
không những đối với chúng ta mà còn trên người khác nữa,
do đó luôn luôn cần xét đến cảm xúc của một thành phần
thứ ba liên hệ. Ngoài hành động bất thiện đối với người
phối ngẫu, phải lưu ý đến thực tế của hành động này
còn tạo ra mức ảnh hưởng lâu dài như là sự rối loạn
trong gia đình sẽ gây bất ổn cho con cái. Giờ thì hầu như
sự kiện phổ thông được nhìn nhận là con cái là nạn nhân
của cả gia đình tan vỡ lẫn các liên hệ thiếu lành mạnh
trong nhà. Viễn ảnh về chính ta như là người hành động,
cần nhận biết rằng rất có thể sẽ chịu một ảnh hưởng
tiêu cực của sự tiêu hao dần dà lòng tự trọng.
Cuối
cùng, có một sự kiện trong việc bất trung, những hành động
tiêu cực nghiêm trọng khác có thể là hậu quả trực tiếp
— nói dối và lừa đảo là những điều tối thiểu. Và
sự thụ thai ngoài ý muốn có thể dễ dàng khiến người
mẹ tuyệt vọng đó đi tìm cách phá thai.
Khi
nghĩ theo cách này, rõ ràng là lạc thú tạm bợ đến từ
sự liên hệ ngoại tình không thật sự nhỏ nhặt so với
các hậu quả bất trắc tạo ảnh hưởng tiêu cực từ hành
động cho chính ta và người. Vì thế, thay vì xem các giới
luật cấm tà dâm như là một hạn chế sự tự do, tốt hơn
nên xem chúng như một sự nhắc nhở theo lẽ thường rằng
các hành động đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự an sinh
của cả ta lẫn người khác.
Như
thế, phải chăng việc tuân hành giới luật nằm trên cả
việc nhận thức sáng suốt? Không. Trên diện luân lý, hành
vi phải tùy thuộc vào việc chúng ta áp dụng nguyên tắc vô
tác hại. Tuy nhiên, có những trường hợp trong đó hành động
có thể dính dáng đến việc phải phạm một giới luật nào
đó. Trong trường hợp này, chúng ta phải dùng trí thông minh
hầu thẩm định phải làm hành động nào ít tác hại nhất
trong dài hạn. Lấy thí dụ, một trường hợp trong đó ta
chứng kiến một người đang bỏ chạy trốn một đám đông
cầm dao đuổi theo rõ ràng với ý định làm hại người đó.
Ta nhìn thấy người bỏ trốn nấp sau cánh cửa. Một lúc
sau, một trong số người đuổi theo đến và hỏi ta người
kia chạy hướng nào. Bấy giờ, một mặt ta không muốn nói
dối, vì sẽ làm thiệt hại lòng tin của người hỏi. Nhưng
mặt khác, nếu nói lên sự thật, ta nhận biết rằng mình
có thể góp phần vào sự thương vong của một người đồng
loại. Dù quyết định cách nào, ta cũng đều dính dấp đến
một việc làm tiêu cực. Trong trường hợp như thế, vì chắc
chắn rằng mình làm cách nào có thể phục vụ được một
mục tiêu cao hơn — bảo vệ mạng sống cho một người bị
hại — cho nên rất thích đáng khi phải nói, "Ồ, tôi không
nhìn thấy ai" hoặc mơ hồ hơn, "Tôi nghĩ anh ta theo lối khác."
Chúng ta phải xét tình trạng tổng quát và cân nhắc lợi
ích giữa việc nói dối hoặc nói thật, và làm điều ta nghĩ
rằng ít hại nhất. Nói cách khác, giá trị đạo đức của
một hành động có thể thẩm định trong liên hệ cả thời
gian, không gian cùng trường hợp, và sự lợi ích toàn diện
của tất cả mọi khía cạnh khác trong tương lai cũng như
hiện tại. Nhưng trong khi có thể xét thấy rằng một hành
động về luân lý có vẻ lành mạnh trong một trường hợp
đặcbiệt nào đó, cùng hành động đó ở một thời gian
và không gian hoặc một trường hợp khác, lại không như thế.
Như
thế, điều gì ta phải làm khi hành động đến từ người
khác? Điều gì ta phải làm khi hầu như rõ rệt là sẽ thực
hiện một hành động mà ta cảm thấy sai quấy? Điều trước
tiên cần phải nhớ là trừ phi biết rõ từng chi tiết của
trường hợp, cả nội diện lẫn ngoại diện, ta không bao
giờ có thể hiểu rõ đầy đủ về hoàn cảnh cá nhân hầu
có thể đưa ra phán đoán vững chắc về nội dung đạo đức
của hành động đến từ người khác. Dĩ nhiên, có các trường
hợp cực đoan khi đặc tánh tiêu cực của hành động người
khác rất rõ rệt. Nhưng trường hợp này hầu như rất hiếm.
Đó là lý do tại sao hữu ích hơn khi tri kiến về một trường
hợp đơn phương đến với chúng ta hơn là biết đến hàng
ngàn trường hợp của người khác. Vì nếu lỗi lầm là của
ta, ta phải đặt mình vào vị trí phải sửa đổi.
Tuy
nhiên, cần nhớ có một phân biệt căn bản giữa một người
và các hành động đặc biệt nào đó của họ, chúng ta có
thể vượt qua hoàn cảnh để lưu ý thích đáng hơn về hành
động. Trong đời sống hàng ngày, rất thường khi phải chấp
nhận ở một mức độ nào đó hành động của bạn bè quen
biết và tôn trọng ước vọng của họ. Khả năng làm điều
đó có thể xem như một phẩm chất tốt. Nhưng khi ta nhập
nhằng cùng kẻ quá buông lung trong thái độ tiêu cực, chỉ
tìm tư lợi và bỏ quên tha lợi, ta có thể mất định hướng
của chính mình. Kết quả, khả năng giúp đỡ người khác
của ta có thể bị lạc hướng. Có một câu tục ngữ Tây
tạng nói rằng, khi ta nằm trên một núi vàng, sẽ bị dính
chút vàng; chẳng khác nào dính đất khi nằm trên núi đất.
Tốt nhất là nên tránh các người đó, mặc dù tốt hơn phải
cẩn thận đừng cắt đứt hoàn toàn. Thật vậy, có đôi
lúc thích đáng nên ngăn họ lại đừng cho hành động cách
nào đó — dĩ nhiên là động cơ của chúng ta phải thuần
thành và phương pháp vô tác hại. Lại nữa, nguyên tắc chủ
yếu là từ bi và tri kiến.
Điều
này cũng đúng trong các vấn đề tiến thoái lưỡng nan mà
ta có thể gặp trên trình độ xã hội, đặc biệt là các
câu hỏi đầy khó khăn và thách đố do xã hội khoa học và
kỹ thuật đặt ra. Thí dụ, trong lãnh vực y khoa, hầu như
có thể kéo dài đời sống thêm vài năm cho một số trường
hợp bệnh lý mà trước đây không lâu có vẻ như vô vọng.
Việc này, dĩ nhiên, là một nguồn hạnh phúc lớn. Nhưng lại
thường làm trổi dậy các vấn đề phức tạp và tế nhị
liên hệ đến sự chăm sóc tồn dưỡng. Tôi nghĩ cho đến
nay chưa có một lề luật nào liên hệ đến điều này. Trái
lại, còn có hàng loạt các việc phải suy xét, mà ta phải
thận trọng dùng ánh sáng của lý tính và từ bi soi dọi.
Khi cần lập một quyết định khó khăn thay cho một bệnh
nhân, chúng ta phải xét đến tất cả các khía cạnh yếu
tố khác biệt. Có rất nhiều thứ khó khăn cho từng trường
hợp. Thí dụ, nếu ta kéo dài đời sống cho một người lâm
trọng bệnh mà đầu óc còn tỉnh táo, tức là tạo cơ hội
cho người đó suy nghĩ và cảm giác theo một cách mà không
người nào có thể làm. Mặt khác, ta phải xét khi làm như
thế, họ có phải sẽ chịu đựng quá nhiều đau đớn thể
xác và tinh thần như kết quả của các biện pháp quá độ
hầu giữ mạng sống cho họ. Tuy nhiên, điều này chưa phải
là yếu tố vượt trội. Là một người tin vào sự tồn tục
của tâm thức sau cái chết của thân xác, tôi lập luận rằng,
tốt hơn là nên chịu đựng đau đớn với thân xác người
hiện tại. Ít ra chúng ta có thể hưởng lợi lạc từ sự
chăm sóc của người khác, nếu chọn cái chết, ta có thể
tìm thấy rồi sẽ phải chịu đựng các đau khổ dưới mọi
hình thái khác.
Nếu
bệnh nhân không còn ý thức và do đó không thể tham gia vào
tiến trình lập quyết định, đó lại là một vấn đề khác.
Và trên cả mọi sự, là vấn đề ước mong của gia đình,
cùng với các vấn đề lớn của sự chăm sóc kéo dài đối
với họ và người khác. Thí dụ, rất có thể vì cần kéo
dài mạng sống của một người, phải dùng tài khoản lẽ
ra lợi ích cho nhiều người khác. Nếu có một nguyên tắc
tổng quát, tôi nghĩ giản dị nhất là chúng ta phải nhìn
nhận sự quý báu tối thượng của đời sống, và cố gắng
đảm bảo rằng khi thời gian phải đến, người sắp chết
được ra đi trong sự thanh tịnh và an bình càng đầy đủ
càng tốt.
Trong
các lãnh vực khác như di truyền học hoặc sinh vật lý học,
nguyên tắc vô tác hại cũng giữ phần quan trọng vì có liên
hệ đến sanh mạng. Khi động cơ phía sau việc nghiên cứu
chỉ là để hưởng lợi, hoặc nổi tiếng, thậm chí cả
đến nghiên cứu chỉ vì tư lợi cá nhân, rất cần phải
đặt các câu hỏi về mục tiêu chính yếu. Tôi đặc biệt
nghĩ đến sự phát triển các thứ kỹ thuật tác động vật
lý phụ thuộc, như giống phái hoặc ngay cả màu tóc hay màu
mắt, có thể chỉ dùng vào thương mại nhằm khai thác khía
cạnh kiến chấp của cha mẹ. Thật vậy, trong khi rất khó
phân loại về các hình thức của thí nghiệm di truyền học,
lại có một lãnh vực tế nhị chủ yếu được tiến hành
một cách thận trọng và khiêm tốn. Đặc biệt phải cảnh
giác về khả năng bị lợi dụng. Điểm quan trọng là cần
luôn ghi nhớ trong đầu các áp dụng rộng rãi có thể dùng,
và chủ yếu là đảm bảo động cơ chính phải hoàn toàn
từ bi. Vì nếu nguyên tắc tổng quát phía sau việc làm đó
chỉ là tiện ích, do đó có điều thoạt nhìn như vô ích
lại có thể làm lợi cho các điều hữu ích hiển nhiên hơn;
như thế lại không có gì ngăn ta đặt quyền của người
thuộc loại trên thấp hơn quyền của người thuộc loại
dưới. Tính chất tiện ích không bao giờ có thể biện minh
cho sự tước đoạt quyền lợi của một cá nhân nào. Đó
là điều nguy hiểm và tuột dốc.
Mới
đây tôi xem một chương trình tài liệu của đài BBC về việc
sanh sản vô tánh. Dùng ảnh tượng bằng máy điện tử, cuốn
phim này trình bày một động vật các nhà khoa học đang thử
nghiệm chế tác, một bán-nhân với đôi mắt to và nhiều
nét khác giống con người, nằm trong một cái lồng. Dĩ nhiên,
đó chỉ là tưởng tượng, nhưng, họ giải thích, có thể
tiên liệu vào một thời điểm nào đó, người ta có thể
chế tác ra các động vật như thế. Chúng có thể được
tạo ra, và các cơ phận cùng thành phần khác trong cơ thể
sẽ được dùng làm "phụ tùng" giải phẫu cho tiện ích của
loài người. Tôi quả thật khiếp đảm trước việc đó.
Ồ, ghê quá. Chắc chắn điều đó sẽ đưa sự cống hiến
của khoa học đến cực điểm? Ý tưởng một ngày nào đó,
chúng ta có thể chế tạo ra các chúng sanh chỉ cho mục đích
đó cũng đủ làm tôi kinh hoàng. Tôi cũng cảm thấy như thế,
khi nghĩ đến ý tưởng làm thí nghiệm liên hệ đến các
thai nhi.
Đồng
thời, thật khó thấy điều đó có thể được ngăn ngừa
một khi cá nhân thiếu kỷ luật trong hành động. Vâng, chúng
ta có thể ban hành luật lệ. Vâng, chúng ta có thể đưa ra
các mã số quốc tế cho hành vi — chúng ta quả thật cần
cả hai loại đó. Tuy vậy, nếu các nhà khoa học không có
một cảm nhận nào về điều mà họ đang làm là thô bỉ,
phá hoại, và tiêu cực đến tột độ, thì không có một
viễn tượng nào cho sự kết thúc của các thứ cống hiến
nhiễu loạn như trên.
Còn
về các vấn đề như mổ xẻ sống, trong đó thú vật phải
chịu đau đớn khủng khiếp trước khi bị giết hầu con người
được mở rộng kiến thức khoa học? Ở đây tôi chỉ nói
theo nhãn quan của Phật giáo, trong đó các hành xử như thế
quá đả kích. Tôi chỉ hy vọng vào sự tiến bộ thần tốc
của kỹ thuật điện tử, sẽ giúp cho việc sử dụng thú
vật làm thí nghiệm khoa học ngày càng giảm bớt. Một sự
phát triển tích cực trong xã hội hiện đại, theo cùng đà
phát huy sự tôn trọng nhân quyền, là sự quan tâm đến thú
vật nhiều hơn. Thí dụ, có sự tiến triển trong việc thừa
nhận sự thiếu nhân đạo trong kỹ nghệ chăn nuôi gia súc.
Ngoài ra, càng ngày nhiều người càng thích ăn chay và cắt
giảm việc dùng thịt. Tôi rất hoan hỉ trước sự kiện đó.
Hy vọng của tôi là trong tương lai, mối quan ngại này sẽ
triển khai mạnh mẽ, đến cả các loài thú nhỏ nhặt nhất
ngoài biển cả.
Ở
đây, có thể lời tôi nghe giống như một khuyến cáo. Các
chiến dịch bảo vệ người và vật có mục tiêu cao thượng.
Nhưng chủ yếu là chúng ta không thể cho phép mình bị lôi
cuốn theo cảm thức bất công nào đó, khiến lại bỏ quên
quyền lợi của người khác. Chúng ta cần phải đảm bảo
đã nhận thức một cách sáng suốt trong khi theo đuổi lý
tưởng.
Thật
hành các cơ năng trọng yếu trong phạm trù luân lý đưa đến
việc nhận lãnh trách nhiệm cả hành động bên trên lẫn
động cơ bên dưới. Nếu chúng ta không nhận lãnh trách nhiệm
do động cơ của mình, dù tích cực hoặc tiêu cực, thì khả
năng tác hại sẽ lớn hơn.
Như
ta đã thấy, cảm xúc tiêu cực là nguồn của hành động
vô luân. Mỗi hành động ảnh hưởng không những trên các
người thân chung quanh ta, mà còn cả bạn bè, đồng nghiệp,
cộng đồng, và, trên hết, toàn thế giới.