Chương
9
LUÂN
LÝ VÀ ĐAU KHỔ
Tôi
từng đề nghị rằng, tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc,
hạnh phúc chân thật có đặc tánh là an bình, và an bình chắc
chắc chỉ đạt được khi hành động của ta có động cơ
là sự quan tâm đến tha nhân; và điều đó sẽ nối tiếp
bằng giới luật luân lý và giải pháp trực tiếp cho cảm
xúc phiền nhiễu. Tôi cũng đề nghị rằng, trong khát vọng
hạnh phúc, chúng ta tìm sự xa lánh đau khổ một cách tự
nhiên và thích đáng. Giờ ta thử quán xét phẩm chất, hoặc
trạng thái, khi ta ước vọng mạnh mẽ được giải thoát
khỏi đau khổ đang nằm ngay trong đời sống của ta.
Đau
khổ và đau đớn là các sự thật không thể tránh khỏi của
cuộc đời. Một chúng sanh, theo định nghĩa thông thường
của tôi, là một kẻ có khả năng kinh nghiệm đau đớn và
đau khổ. Cũng có thể nói, kinh nghiệm về đau khổ nối liền
ta cùng người khác. Nhưng vượt trên điều đó, ta có thể
quán xét rằng, đau khổ chia ra làm hai loại (liên hệ nhau).
Có những hình thái có thể tránh, khởi dậy từ các hiện
tượng như chiến tranh, nghèo đói, bạo lực, tội ác — ngay
cả các thứ như dốt nát và một số bệnh hoạn. Nhưng có
những hình thái không thể nào tránh được, bao gồm các hiện
tượng như bệnh, lão, và tử. Cho đến giờ, chúng ta chỉ
bàn đến việc giải quyết các loại đau khổ có thể tránh,
do loài người tạo ra. Giờ tôi xin quán xét rõ ràng hơn đến
các loại không thể tránh.
Vấn
đề và khó khăn ta đối diện trong cuộc đời không phải
luôn luôn như là thiên tai. Ta không thể tự bảo vệ tránh
chúng chỉ bằng cách phòng ngừa thận trọng, như là để
dành thức ăn. Trong trường hợp bệnh hoạn, chẳng hạn, cho
dù cố gắng giữ sức khỏe đến đâu bằng thể thao và ăn
kiêng, dần dà thân thể ta cũng đi đến các vấn đề vật
lý. Và khi chúng đến, ảnh hưởng trên đời sống có thể
hệ trọng: chúng ngăn ta không làm được các điều muốn
làm, đi đến các nơi muốn đến. Thường thì ta bị ngăn
không được ăn các thức ta thích, thay vào đó phải uống
các loại thuốc mùi vị đáng khiếp. Khi sự việc trở thành
tệ hại, chúng ta có thể đau nhức ngày đêm — đến độ
chỉ còn cầu mong chết.
Về
sự già lão, từ ngày chúng ta mới chào đời, đã phải đối
diện cùng viễn ảnh lão hóa và mất đi sự dẻo dai của
tuổi trẻ. Đến lúc đó, tóc sẽ rụng, răng sẽ rụng, mắt
mờ và tai điếc. Chúng ta không thể tiêu hóa các thức ăn
từng ưa thích nữa. Dần dà, chúng ta lại quên đi mất nhiều
việc lúc trước thật rõ ràng, và có khi còn quên cả tên
các người thân thuộc của mình. Nếu sống thật lâu, chúng
ta lại phải rơi vào trạng thái lọm khọm mà nhiều người
chỉ cần nhìn thấy cũng đủ chán chê, mặc dù đấy mới
đúng vào quãng thời gian mà ta cần đến họ nhất.
Rồi
cái chết đến — hầu như là một đề tài cấm kỵ trong
các xã hội văn minh. Mặc dù có khi chúng ta nhìn nó như một
sự nhẹ nhõm và bất kể chuyện gì đến sau khi chết đi,
cái chết có nghĩa là ta sẽ xa lìa các người thân thương,
các sở hữu quý giá, thật vậy, tất cả những gì mà ta
yêu chuộng.
Trong
sự mô tả ngắn gọn về các đau khổ không thể tránh này,
chúng ta phải thêm một loại khác. Đó là đau khổ khi gặp
gỡ kẻ không muốn gặp — hoặc rủi ro hay tai nạn. Đó là
đau khổ khi thứ ta muốn bị lấy mất đi — như các người
tỵ nạn chúng tôi khi mất quê hương, nhiều người mất cả
các người thân. Đó là đau khổ vì không đạt được điều
mong muốn, dù đã bỏ thật nhiều công sức để làm. Mặc
dù ta gẫy cả lưng khi làm việc trên cánh đồng, nhưng lại
bị thất mùa; mặc dù làm việc ngày đêm cho một doanh nghiệp,
lại chẳng thành công do lỗi ta hay lỗi người khác. Rồi
lại còn đau khổ vì không biết chắc, vì không thể biết
khi nào và ở đâu ta lại gặp nghịch cảnh. Từ kinh nghiệm
của bản thân, tất cả chúng ta đều biết điều đó dẫn
đến cảm giác bất an và lo lắng. Và làm tiêu hao hết tất
cả việc ta làm, là thứ đau khổ của sự bất mãn, khởi
lên cho dù khi ta đã đạt được điều mong muốn. Những sự
kiện trên là thành phần của kinh nghiệm hàng ngày của mọi
người vốn dĩ mong hạnh phúc và tránh đau khổ.
Nếu
điều trên chưa đủ, còn có thêm sự kiện là các kinh nghiệm
ta thường nghĩ là thích thú lại biến thành nguồn đau khổ
cho mình. Chúng có vẻ như cung ứng sự thỏa mãn, nhưng lại
không thật sự tạo được; đó là thứ hiện tượng ta từng
nói đến trước đây. Thật thế, nếu nghĩ tận tường, ta
sẽ thấy việc nhận thức các kinh nghiệm như là thích thú,
cho đến cùng, chỉ được đền bù bằng một đau khổ rõ
rệt hơn. Thí dụ như, ta ăn để trấn áp cơn đói. Ta ăn
một miếng lớn, rồi hai, ba, bốn, năm và tận hưởng kinh
nghiệm đó — nhưng chẳng bao lâu, cùng một người và cùng
thức ăn đó, ta bắt đầu cảm thấy hết muốn ăn. Nếu không
ngưng lại, việc đó sẽ hại ta — cũng như thực tế của
hầu hết mọi thứ lạc thú trần gian đều tác hại cho ta
nếu đi đến thái quá. Đó là tại sao hài lòng là điều
cần thiết nếu ta muốn hạnh phúc thật sự.
Tất
cả các biểu hiện đau khổ nói trên có căn bản không thể
tránh, và đích thật là các sự kiện tự nhiên của đời
sống. Điều đó không có nghĩa là, cuối cùng, chúng ta không
làm gì được trước chúng. Cũng không có nghĩa là nó không
liên hệ đến vấn đề giới luật luân lý. Quả thật, theo
Phật giáo và các triết lý tôn giáo Ấn độ khác, đau khổ
là kết quả của nghiệp quả "karma". Nhiều người, Đông
phương cũng như Tây phương, giả định rằng "karma" mang ý
nghĩa, bất cứ điều gì ta kinh nghiệm đều đã được tiền
định; tuy nhiên nghĩ vậy là hoàn toàn sai lầm. Đó lại càng
không phải một cái cớ để khỏi chịu trách nhiệm trong
bất cứ mọi hoàn cảnh nào.
Bởi
vì từ "karma" đã đi vào ngữ vựng phổ thông, cho nên cần
thiết phải làm sáng tỏ khái niệm này hơn. "Karma "trong tiếng
Sanskrit có nghĩa là "hành động." Nó ghi nhận một sức mạnh
tích cực, việc làm ra như kết quả của các sự kiện tương
lai có thể bị ảnh hưởng bởi các hành của ta. Giả thiết
"karma" là một thứ năng lực độc lập nào đó ấn định
trước trọn dòng đời của ta vốn hoàn toàn sai lầm. Ai đã
tạo ra "karma"? Chính chúng ta. Điều ta nghĩ, nói, làm, muốn,
và thiếu tạo thành "karma". Như tôi đã viết, lấy thí dụ,
hành động tạo thành một trường hợp mới và hậu quả
mới của một sự kiện nào đó. Lời của tôi tạo nên một
phản ứng trong trí độc giả. Trong mỗi việc ta làm, luôn
luôn có nhân và quả, nhân và quả. Trong đời sống hàng ngày,
thực phẩm ta ăn, công việc ta làm, và sự nghỉ ngơi của
ta đều là tác dụng của hành động: hành động của chúng
ta. Đó chính là "karma". Do đó, chúng ta không thể dấu tay
đi khi nào thấy mình đối đầu cùng các đau khổ khó tránh.
Nếu cho mỗi sự không may chỉ đều do kết quả của "karma"
là tương đương với việc bảo rằng chúng ta hoàn toàn bất
lực trong cuộc đời. Nếu điều đó đúng, sẽ không còn
lý do gì mà hy vọng. Chúng ta tốt nhất nên cầu nguyện cho
ngày tận thế.
Một
sự thẩm định đúng hơn về nhân quả đề khởi rằng, khác
xa với sự bất lực, có rất nhiều điều chúng ta có thể
làm hầu tạo ảnh hưởng trên kinh nghiệm đau khổ của mình.
Lão, bệnh, và tử không thể tránh. Nhưng, đối với các sự
dày vò của các ý niệm và cảm xúc tiêu cực, chúng ta chắc
chắn có sự chọn lựa một cách phản ứng đối với các
sự việc của đau khổ xảy ra. Nếu muốn, ta có thể chọn
một khuynh hướng ít đam mê và duy lý hơn, và trên nền tảng
có thể giới chế các phản ứng của mình. Mặt khác, ta có
thể chỉ cần tránh các sự không may đó. Nhưng khi làm thế,
chúng ta có thể trở nên bị dồn nén. Kết quả là, cảm
xúc phiền nhiễu trổi dậy và an bình nội tâm của chúng
ta bị phá hủy. Khi ta không giới hạn các xu hướng phản
ứng tiêu cực trước đau khổ, nó sẽ trở nên một nguồn
ý niệm và cảm xúc tiêu cực. Như thế có một liên hệ rõ
rệt giữa ảnh hưởng nỗi khổ trong tâm trí ta và sự thật
hành giới luật nội tại.
Thái
độ căn bản của ta đối với đau khổ rất khác biệt với
cách ta kinh nghiệm nó. Thí dụ như, có hai người đau khổ
trước một hình thức tương tự của bệnh ung thư. Điểm
khác biệt duy nhất giữa hai bệnh nhân đó là cái nhìn của
họ về bệnh trạng. Một người nhìn nó như điều gì phải
chấp nhận, và nếu có thể, chuyển thành cơ hội để phát
huy một sức mạnh nội tại. Một người lại phản ứng trước
trường hợp của mình bằng sự sợ hãi, cay đắng, và lo
lắng cho tương lai. Mặc dù trên các triệu chứng thuần vật
lý, có thể không có khác biệt giữa hai người trong những
gì họ đang đau khổ; nhưng lại có một khác biệt sâu xa
trong kinh nghiệm của họ về cơn bệnh của mình. Trong trường
hợp sau, thêm vào với sự đau đớn vật lý, là một sự
đau khổ tinh thần sâu đậm.
Điều
này đề khởi rằng, mức độ của đau khổ ảnh hưởng đến
chúng ta tùy thuộc nhiều vào chính mình. Do vậy, điều thiết
yếu là giữ một phối cảnh thích đáng trên kinh nghiệm về
đau khổ. Khi nhìn thật gần vào một vấn đề đặc biệt
nào đó, ta thấy như nó lớn lao quá và lấp trọn cả nhãn
quan. Tuy nhiên, nếu nhìn cùng vấn đề đó ở từ xa, tự
động ta sẽ thấy được sự liên hệ của nó cùng các vật
khác. Hành động đơn giản đó tạo ra một sự khác biệt
to tát. Nó cho phép ta nhận ra rằng mặc dù hoàn cảnh đưa
đến quả thật bi thảm, nhưng ngay cả sự kiện bất hạnh
nhất cũng có nhiều diện dị biệt và có thể đến gần
bằng nhiều góc cạnh khác nhau. Thật thế, rất hiếm khi,
nếu chẳng phải là không bao giờ, có thể tìm thấy một
trường hợp hoàn toàn tiêu cực cho dù ta nhìn nó bất cứ
cách nào.
Khi
thảm kịch hoặc bất hạnh đến với ta — chắc chắn chúng
phải đến — điều cần ích là phải so sánh với một sự
kiện khác, hoặc nhớ lại một trường hợp tương tự hay
tệ hơn đã từng xảy ra, nếu không phải của ta, thì của
người khác ta từng gặp. Khi đã chuyển được tầm nhìn
ra khỏi cái ngã và hướng về người khác, ta sẽ kinh nghiệm
được một hiệu quả giải thoát. Có một điều về tánh
năng động của sự tự kỷ tư duy, hoặc bận tâm về chính
ta nhiều quá, sẽ tạo khuynh hướng phóng đại nỗi khổ của
mình. Đảo lại, khi nhìn nó trong liên hệ cùng nỗi khổ của
người khác, ta bắt đầu nhận ra, trên diện tương đối,
nó chẳng phải là không thể chịu đựng được.
Điều
này cho phép ta bảo tồn được an bình nội tâm dễ dàng hơn
khi ta chỉ tập trung vào vấn đề của mình mà bỏ quên hết
tất cả điều khác.
Theo
kinh nghiệm của chính cá nhân tôi, chẳng hạn như, khi tôi
nghe tin xấu về Tây tạng — đáng buồn là quá thường xuyên
— tự nhiên phản ứng tức khắc của tôi là nỗi buồn.
Nhưng, khi đưa vào khuôn khổ và tự nhắc nhở về khuynh hướng
căn bản của con người cần tình thương, tự do, sự thật
và công lý phải luôn luôn được đề cao, tôi thấy mình
có thể đối phó một cách khá tốt. Các cảm xúc giận dữ
không kềm hãm nổi — vốn không làm gì hơn ngoài việc đầu
độc trí óc, cay đắng con tim, và bạc nhược ý chí — thường
ít khi trổi dậy, cho dù trước các tin tệ hại nhất.
Cũng
cần nhớ rằng, thời điểm của sự đạt đến trí tuệ
và nội lực cao nhất thường cũng là lúc khó khăn nhất.
Với khuynh hướng đúng — ở đây ta lại thấy tầm quan trọng
tối thượng của việc phát triển một thái độ tích cực
— kinh nghiệm đau khổ có thể mở mắt ta trước thực tế.
Thí dụ như, kinh nghiệm bản thân tôi về cuộc đời như
là một người tỵ nạn giúp tôi ý thức được rằng những
nghi thức bất tận, như là một phần quan trọng trong đời
tôi ở Tây tạng, quả thật chẳng cần thiết. Chúng ta còn
thấy rằng lòng tự tin và tự trọng có thể phát huy hơn,
và sự can đảm được tăng cường hơn như kết quả từ
nỗi khổ. Điều này có thể thấy trong thế giới quanh ta.
Ở cộng đồng tỵ nạn, chẳng hạn, trong số những người
còn sống sót của các năm lưu vong đầu tiên, tôi được
biết một số người, dù đau khổ khủng khiếp, nhưng lại
là các cá nhân có tinh thần mạnh mẽ nhất và niềm vui vô
ái ngại. Ngược lại, chúng ta lại thấy, có một số người
đối diện cùng các nghịch cảnh nhỏ nhặt, dù họ có đủ
thứ, nhưng lại nghiêng về sự mất hy vọng và đi vào tuyệt
vọng. Xu hướng tự nhiên muốn giàu có thường làm hỏng
ta. Kết quả thông thường là nó dần dà khiến ta cảm thấy
khó chịu đựng được các vấn đề mà bất cứ người nào
thỉnh thoảng cũng phải đối phó.
Thử
xét đến các sự chọn lựa khả hữu khi ta phải đối diện
cùng vấn đề đặc biệt. Ở một cực, ta có thể để cho
mình bị đắm chìm trong đó. Ở cực kia, ta chỉ cần đi ăn
ngoài trời hay giải trí và quên nó đi. Khả năng thứ ba là
trực tiếp đối diện cùng trường hợp. Điều này bao gồm
việc quán xét, phân tích, thẩm định nhân quả, và tìm giải
pháp cho nó.
Mặc
dù cách thứ ba đôi khi khiến chúng ta phải đau thêm trong
một thời gian ngắn, nhưng rõ ràng nó đáng chọn hơn hai cách
kia. Nếu ta cố tránh hoặc chối một vấn đề chỉ bằng
cách quên bỏ nó hoặc uống rượu hay hút thuốc, hoặc ngay
cả dùng vài hình thức hành thiền hay cầu nguyện nào đó
như phương tiện để trốn thoát, trong khi còn có một cơ
hội giải thoát ngắn hạn, như thế vấn đề vẫn còn đó.
Khuynh hướng như trên chỉ tránh né chứ không giải quyết
được vấn đề. Một lần nữa, nguy cơ sẽ được thêm vào
trên vấn đề đầu tiên, và tiếp theo đó là sự bất ổn
tinh thần và cảm xúc. Các sự phiền nhiễu của lo lắng,
sợ hãi và nghi ngờ cứ chồng chất lên. Dần dà, có thể
đưa đến sự giận dữ và tuyệt vọng, kéo theo đủ thứ
đau khổ xa hơn (cho chính ta và người).
Thử
hình dung một tai nạn như bị bắn vào bụng. Cơn đau rất
dữ dội. Chúng ta phải làm gì? Dĩ nhiên, ta cần phải lấy
viên đạn ra và chịu đựng việc giải phẫu. Điều này càng
làm đau đớn hơn. Tuy nhiên ta phải chấp nhận điều đó
hầu vượt qua được vấn đề tiên khởi. Tương tự, do sự
nhiễm độc, hoặc một tổn hại kinh khủng nào đó, có thể
ta phải mất tay hoặc chân hầu giữ tánh mạng. Dĩ nhiên,
ta phải chuẩn bị tinh thần chấp nhận hình thức đau khổ
đó, hầu tránh khỏi sự đau khổ lớn hơn của cái chết.
Chỉ là lẽ thường khi phải chịu đựng khổ sở trong việc
làm nào đó hầu tránh một sự tệ hại hơn. Tôi nhìn nhận
không phải luôn luôn dễ dàng quyết định. Khi lên sáu bảy
tuổi, tôi bị chủng ngừa bệnh đậu. Nó quả thật là đau,
khiến tôi phải phát ngờ, dù được cho biết cơn đau đó
không nhằm nhò gì so với bệnh chứng. Cơn đau kéo dài mất
mười ngày, và kết quả hiện tôi vẫn còn bốn cái sẹo
lớn!
Nếu
viễn cảnh đương đầu cùng nỗi khổ đến trước mặt đôi
khi có vẻ hơi dọa nạt, nhưng cần nên nhớ thật ra không
có gì trong các kinh nghiệm thông thường của ta là thường
trực. Tất cả hiện tượng đều có tánh biến hóa và hoại
diệt. Cũng thế, như trong một mô tả về hiện thực mà tôi
từng đề ra, chúng ta sai lầm nếu giả thiết rằng kinh nghiệm
đau khổ — hay hạnh phúc — có thể đến chỉ từ một nguồn
duy nhất. Theo lý thuyết về căn nguyên tùy thuộc, mọi thứ
đều khởi dậy trong khuôn khổ của vô số nguyên nhân và
điều kiện. Nếu không phải thế, một khi tiếp xúc cùng
thứ gì xem như tốt, ta sẽ tự động vui; và khi tiếp xúc
cùng thứ gì xem như xấu, ta sẽ tự động buồn. Nguyên nhân
của niềm vui và nỗi buồn như thế quá dễ nhận, và cuộc
đời quá đỗi giản dị. Chúng ta sẽ có các lý do tốt để
ràng buộc cùng một hạng người hay sự vật hay sự kiện
nào đó, và giận ghét hay tránh né các thứ khác. Nhưng đó
lại không phải là hiện thực.
Cá
nhân tôi nhận thấy các lời khuyên về nỗi khổ của vị
thánh hiền Ấn độ Shantideva rất hữu ích. Điều cốt yếu,
theo ông, là khi chúng ta đối diện cùng bất cứ khó khăn
nào, đừng để chúng làm ta tê liệt. Nếu bị như thế, ta
đã sa vào nguy cơ bị chúng phủ ngập.
Thay
vì vậy, hãy sử dùng các cơ năng quan yếu, quán xét bản
chất của chính vấn đề. Và khi ta thấy rằng có các khả
năng giải quyết nó cách này hay cách khác, không cần phải
lo lắng nữa. Điều hữu lý là nên đặt toàn năng lực trên
các phương tiện đó mà hành động.
Nếu,
mặt khác, ta thấy bản chất của vấn đề không thể có
giải pháp, thì không có điểm gì để lo buồn nữa. Nếu
không có gì thay đổi được tình trạng, lo buồn càng chỉ
làm tệ hại thêm lên. Đặt bên ngoài khuôn khổ của thứ
triết lý về cực điểm của một loạt tư duy phức tạp,
khuynh hướng của Shantideva nghe như là giản dị hóa. Nhưng
vẻ đẹp của nó nằm chính ở phẩm chất giản dị đó.
Và không ai có thể lý luận gì thêm trước lẽ thật trong
suốt của nó.
Ở
đây chúng ta không đi sâu vào vấn đề đau khổ có mục tiêu
thực tế nào đó. Nhưng nếu kinh nghiệm về đau khổ nhắc
nhở ta đến điều người khác phải chịu đựng, nó là một
phối hợp mạnh mẽ cùng việc thật hành từ bi và giới chế
các nhân duyên đau khổ. Và trong khuôn thức khơi dậy được
thiện cảm và giúp ta cảm thông tha nhân, đau khổ có thể
đóng góp như một nền tảng của từ bi và tình thương. Tôi
xin nhắc lại thí dụ về vị hành giả Tây tạng đã ngồi
tù hơn hai mươi năm và chịu đựng sự đối xử hà khắc
nhất kể cả tra tấn, sau khi đất nước chúng tôi bị xâm
chiếm. Trong thời gian đó, các đệ tử của ông đào vong
được thường cho tôi biết rằng, các lá thư ông viết và
lén gởi khỏi trại giam đều chứa đựng các lời giảng
dạy về tình thương và từ bi sâu xa nhất mà họ chưa từng
gặp. Các nghịch cảnh, dù có khả năng biến thành nguồn
hận thù và tuyệt vọng, đồng thời cũng có khả năng biến
thành nguồn phát triển tâm linh. Kết quả cách này hay cách
khác chỉ tùy thuộc vào phản ứng của chúng ta.