Chương
8
LUÂN
LÝ VỀ TỪ BI
Chúng
ta đã ghi nhận trước đây rằng mọi tôn giáo chính trên
thế giới đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc
vun bồi tình thương và tâm từ bi. Trong truyền thống triết
lý Phật giáo, các trình độ thành đạt khác nhau được mô
tả. Ở trình độ căn bản, từ bi (nying je) được hiểu theo
nghĩa chủ yếu là thiện cảm (hoặc cảm thông) — khả năng
đi vào, và ở một mức độ nào đó, chia sẻ đau khổ của
người khác. Nhưng Phật giáo — và có thể các tôn giáo khác
— tin rằng khả năng này có thể phát triển đến một trình
độ không những từ bi khởi dậy chẳng cần chút cố gắng,
mà còn vô điều kiện, vô phân biệt, và ở một phạm vi
toàn cầu. Một tình cảm mật thiết đối với tất cả chúng
sanh muôn loài, dĩ nhiên kể cả những kẻ làm hại ta, được
phát ra, tương tự như tình yêu của người mẹ dành cho đứa
con duy nhất.
Nhưng
ý nghĩa về sự bình hòa đối với tất cả mọi người không
thể xem như đi đến một điểm kết. Đúng hơn, nó còn được
xem như một thứ lò xo đẩy bật lên một tình yêu cao cả
hơn nữa. Bởi vì khả năng thiện cảm vốn nội tại, và
lý luận cũng là cơ năng nội tại, từ bi chia sẻ cùng các
đặc điểm với chính tâm thức. Vì thế, chúng ta có khả
năng triển khai từ bi rất vững chắc và liên tục. Đó không
phải là một nguồn có thể dùng cạn — như nước bị cạn
khi ta đun sôi. Và mặc dù từ bi có thể được mô tả như
một sinh hoạt, nhưng lại không giống như sinh hoạt vật lý,
chẳng hạn như nhảy cao, chỉ rèn luyện được đến một
mức độ nào đó không thể vượt hơn.
Trái
lại, khi tăng tiến sự nhạy cảm trước khổ đau của tha
nhân qua sự rộng mở tâm, cá nhân đồng thời triển khai
được từ bi đến mức có thể rất cảm động chỉ vì một
nỗi khổ vi tế nhất của tha nhân, do ý thức trách nhiệm
đối với họ. Điều này khiến người có tâm từ bi sẽ
tận hiến hầu giúp đỡ kẻ khác thoát khổ lẫn các duyên
tạo khổ. Ở Tây tạng, trình độ tối thượng này được
gọi là nying je chenno, dịch sát nghĩa là "đại từ bi".
Ở
đây, không phải tôi đề nghị mỗi cá nhân đều phải đạt
đến trạng thái cao của sự phát huy tâm linh mới dẫn đến
một đời sống thiện lành. Tôi đã mô tả nying je chenno không
phải vì đó là điều kiện tiên khởi của hành vi luân lý,
đúng ra vì tôi tin khi đưa lý luận về từ bi đến trình
độ cao nhất có thể biến thành một nguồn cảm hứng mãnh
liệt. Nếu chúng ta chỉ cần giữ cảm hứng đó để triển
khai nying je chenno, hoặc đại từ bi, như một lý tưởng, tự
nhiên nó sẽ có một tầm ảnh hưởng quan trọng đến quan
điểm của ta. Căn cứ trên nhận thức đơn giản là, cũng
như tôi, mọi người khác đều muốn hạnh phúc và tránh đau
khổ, cho nên cần sử dụng nó như một sự nhắc nhở thường
xuyên chống lại ích kỷ và phân biệt. Nó nhắc nhở rằng,
nếu ta tử tế và rộng rãi chỉ vì hy vọng sẽ được báo
đáp, thì chỉ thu hoạch rất ít ỏi. Nó nhắc nhở rằng,
các hành có động cơ cầu vọng danh thơm cho mình vẫn còn
ích kỷ, tuy rằng bề ngoài trông như hành vi tử tế. Nó còn
nhắc nhở rằng, không có gì đặc biệt trong các hành động
từ thiện đối với các người thân thuộc. Và nó giúp chúng
ta nhận thức thiên kiến dành cho gia đình và bạn bè, vốn
là điều không đáng tin cậy hầu thẩm định hành vi luân
lý. Nếu chỉ dành hành vi luân lý cho các người ta cảm thấy
thân thuộc, nguy cơ là ta sẽ bỏ quên bổn phận đối với
những người bên ngoài vòng.
Tại
sao thế? Một khi các cá nhân đó tiếp tục đáp ứng kỳ
vọng của ta, thì mọi việc tốt đẹp. Nhưng nếu họ làm
hỏng, thì người mà ta xem như bạn thân hôm nay, ngày kia có
thể trở thành kẻ thù tệ hại nhất. Như chúng ta từng thấy,
ta có xu hướng phản ứng xấu đối với tất cả người
tạo đe dọa khiến ta không được thỏa mãn các ham muốn
thân yêu nhất, cho dù họ là thân cận của ta. Từ lý do đó,
từ bi và tương kính đề ra một căn bản vững chắc hơn
cho liên hệ con người. Điều này đúng trong tình bạn đời.
Nếu tình yêu ta dành cho người nào đặt căn bản trên sự
hấp dẫn, cho dù đó là bề ngoài hoặc các đặc điểm giả
tạo nào đó, thì cảm tình ta dành cho người đó sẽ tan biến
qua thời gian. Khi họ mất đi phẩm chất ta cảm thấy là quyến
rũ, tình trạng có thể hoàn toàn thay đổi, mặc dù họ vẫn
cùng là một người. Đó là tại sao liên hệ đặt nền tảng
thuần trên sự hấp dẫn vốn bất định. Mặt khác, khi ta
bắt đầu kiện toàn lòng từ bi, thì bề ngoài hoặc thái
độ của người đó không ảnh hưởng đến cách cư xử bên
trong của ta.
Lại
nữa, cảm tình của ta đối với người khác thường tùy
thuộc nhiều vào hoàn cảnh của họ. Đa số người ta, khi
nhìn thấy kẻ tàn tật, đều cảm thông cho họ. Nhưng khi
thấy người giàu có hơn mình, hoặc học thức hơn, hoặc
có địa vị cao, lập tức sẽ cảm thấy ganh tỵ và cạnh
tranh cùng họ. Cảm xúc tiêu cực sẽ ngăn chúng ta không nhìn
thấy sự giống nhau giữa chúng ta và người khác. Chúng ta
quên rằng, cũng như ta, dù may dù rủi, dù xa dù gần, họ
cũng đều mong hạnh phúc và tránh đau khổ.
Như
thế, mục đích của phấn đấu là để vượt khỏi các cảm
xúc thiên lệch đó. Chắc chắn, triển khai được từ bi chân
thật cho các người thân yêu vẫn là nơi chốn hiện thật
và thích đáng để bắt đầu. Ảnh hưởng của hành động
chúng ta trên người thân thường lớn hơn trên kẻ khác, do
đó, trách nhiệm của ta đối với họ cũng nặng hơn. Dù
vậy, ta cần nhìn nhận rằng, cuối cùng, không có nền tảng
nào để thiên vị dành ưu quyền cho họ. Trong ý nghĩa này,
chúng ta tất cả đều đứng ở vị trí của một y sĩ trước
mười bệnh nhân cùng mắc phải một chứng bệnh. Họ đều
đáng được trị liệu ngang bằng nhau. Tuy nhiên, điều được
biện luận ở đây không phải là trạng thái lạnh nhạt cách
biệt. Thách đố căn bản khác, khi ta bắt đầu nới rộng
từ bi đến tất cả mọi người, là bảo quản được cùng
một trình độ thân thiết mà ta cảm thấy cho các người
gần nhất. Nói cách khác, điều đề nghị là ta cần phải
phấn đấu cho sự bình hòa trong khuynh hướng dành cho tất
cả mọi người, ở một mức độ nền móng trên đó ta có
thể gieo hạt giống của nying je chenno , của đại từ và
đại bi.
Nếu
chúng ta có thể bắt đầu liên hệ với người khác trên
căn bản bình hòa như thế, từ bi sẽ không còn tùy thuộc
vào sự kiện người này là chồng tôi, người kia là vợ
tôi, thân nhân, bạn bè... Đúng hơn, một cảm giác thân thuộc
đối với tất cả mọi người sẽ phát triển trên nhận
thức đơn thuần là, cũng như tôi tất cả đều muốn hạnh
phúc và tránh đau khổ. Nói cách khác, chúng ta sẽ khởi sự
liên hệ cùng người khác trên nền tảng họ là chúng sanh.
Chúng ta có thể nghĩ về điều đó như một lý tưởng, một
điều rất khó đạt đến. Nhưng theo tôi, điều đó là nguồn
cảm hứng vô cùng sâu xa và lợi lạc.
Giờ
ta thử quán xét vai trò của tâm từ bi và lòng tử tế trong
đời sống hàng ngày. Có phải lý tưởng phát huy nó đến
mức trở thành vô điều kiện có nghĩa là ta phải bỏ trọn
vẹn các lợi ích cá nhân? Không hẳn vậy. Trái lại, đó
là cách tốt nhất để phục vụ chúng — đúng ra có thể
bảo đó là xây dựng cách trọn vẹn cho tự lợi khôn ngoan
nhất. Bởi vì nếu xác nhận các phẩm tánh như tình thương,
nhẫn nại, bao dung và tha thứ là thành phần của hạnh phúc,
thì cũng có thể xác nhận nying je, tức từ bi, vừa là căn
nguồn vừa là kết quả của các phẩm tánh đó; như thế,
khi ta càng từ bi, thì lại càng cung ứng nhiều cho hạnh phúc.
Mọi ý tưởng có liên hệ các tha nhân nếu chỉ thuộc phạm
vi đời sống cá nhân, cho dù đó là một phẩm tánh cao thượng,
cũng chỉ thành thiển cận. Từ bi nằm trong từng phạm vi
của sinh hoạt, bao gồm cả nơi làm việc.
Ở
đây, tôi phải nói đến một nhận thức được nhiều người
nhìn nhận là, từ bi, nếu không phải là một chướng ngại,
thì ít ra cũng là điều không thích hợp cho đời sống nghiệp
vụ. Cá nhân tôi nghĩ rằng, chẳng những thích hợp, mà nếu
thiếu từ bi, sinh hoạt của chúng ta bị đe dọa hủy hoại.
Điều này là vì, khi ta bỏ quên vấn đề ảnh hưởng của
hành động đối với an sinh của người khác, ta không thể
nào tránh khỏi làm hại đến họ. Luân lý của từ bi giúp
tạo ra một nền tảng và động cơ cần thiết cho cả giới
luật lẫn vun bồi đức hạnh. Khi ta bắt đầu thật sự quý
trọng giá trị của từ bi, nhãn quan của ta đối với người
khác tự động thay đổi. Chỉ riêng điều này có thể là
tạo một ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi trong đời sống
của ta. Chẳng hạn như, khi cám dỗ của sự lừa đảo người
khác khởi dậy, từ bi dành cho họ sẽ ngăn ta không thực
hiện ý định. Và khi nhận thức được việc làm của mình
có thể đang bị nguy cơ do kẻ khác lợi dụng, từ bi sẽ
giúp ta tháo gỡ khỏi khó khăn đó. Thử tưởng tượng trường
hợp một khoa học gia đang nghiên cứu một việc có thể trở
thành nguồn đau khổ cho người khác, nhờ từ bi, họ sẽ
nhận ra và hành động thích đáng, thậm chí có thể bỏ luôn
cả kế hoạch.
Tôi
không phủ nhận vấn đề thật sự có thể khởi dậy khi
ta tận hiến đời mình cho lý tưởng từ bi. Trong trường
hợp khoa học gia tiếp tục làm việc theo chiều hướng cũ,
có thể tạo thành các hậu quả nghiêm trọng cho chính họ
và gia đình. Cũng thế, những người làm các dịch vụ chăm
sóc — y tế, cố vấn, xã hội, vân vân — hoặc những người
trông nom tại nhà đôi khi có thể mệt mỏi vì công tác vượt
quá sức mình. Sự tiếp xúc thường xuyên cùng đau khổ, đôi
lúc sẽ tạo nên một cảm xúc như phải chịu đựng, có khi
đi đến cảm thấy mất năng lực, và tuyệt vọng. Hoặc trong
trường hợp cá nhân làm hành động tử tế đó chỉ vì công
tác phải làm — chỉ làm theo vận chuyển đòi hỏi. Dĩ nhiên
còn tốt hơn là không có mục tiêu gì.
Nhưng
nếu không tự kiểm thảo, việc này có thể dẫn đến sự
mất cảm giác đối với đau khổ của người khác. Nếu nó
khởi sự, tốt hơn là nên tạm rời bỏ một thời gian, và
nỗ lực cẩn trọng hầu đánh thức sự nhạy cảm đó. Cần
nên nhớ rằng tuyệt vọng không bao giờ là một giải pháp.
Điều đó, theo một thành ngữ Tây tạng nói, ngay dù sợi
dây bị đứt làm chín khúc, ta cũng phải nối nó lại mười
lần. Bằng cách đó, cho dù đến cuối cùng ta vẫn thất bại,
ít nhất sẽ không có cảm xúc hối tiếc. Và khi phối hợp
cái nhìn này cùng một sự nhận thức rõ rệt về khả năng
lợi tha của mình, ta sẽ có thể bắt đầu vãn hồi hy vọng
và tự tin.
Vài
người có thể phản đối lý tưởng này trên căn bản là,
khi đi vào nỗi khổ của tha nhân, ta sẽ mang lại khổ cho
chính mình. Ở một hạn định nào đó, điều đó đúng. Nhưng
tôi đề khởi rằng, không ó một phân biệt thẩm định chủ
yếu nào giữa kinh nghiệm khổ của chính ta và kinh nghiệm
khổ khi chia sẻ cùng người khác. Trong trường hợp nỗi khổ
của riêng ta, cho là không tự nguyện đi, vẫn có một cảm
thức bị áp chế: dường như nó đến từ bên ngoài ta.
Ngược
lại, chia sẻ đau khổ cùng người khác có một trình độ
tự nguyện nào đó, nhưng tự nó cho thấy một thứ nội lực.
Vì lý do đó, sự phiền nhiễu nó tạo nên còn ít khiến cho
ta cảm thấy phân liệt hơn là do đau khổ của riêng ta.
Đương
nhiên, cho dù là một lý tưởng, khái niệm về phát huy từ
bi vô điều kiện rất dễ gây nản lòng. Hầu hết mọi người,
kể cả tôi, phải tranh đấu mới có thể đạt đến điểm
dễ dàng đặt lợi ích của kẻ khác ngang hàng với lợi ích
của mình. Tuy nhiên, chúng ta không thể để cho điều đó
khiến ta bỏ cuộc. Và trong khi chắc chắn có nhiều trở lực
trên con đường phát huy được một trái tim thật sự ấm
áp, ta lại có một sự an ủi sâu xa khi biết được làm như
thế ta đang tạo các điều kiện cho hạnh phúc của chính
mình. Như tôi đã nói đến, khi ta càng thật lòng mong muốn
lợi tha, thì năng lực và tự tin càng được phát huy, và
ta sẽ được kinh nghiệm càng lớn lao về an bình và hạnh
phúc. Nếu còn nghi ngờ, thử đặt câu hỏi còn có cách nào
khác chăng. Với bạo lực và tranh chấp? Dĩ nhiên là không.
Với tiền tài? Có thể đến một mức nào đó, nhưng không
xa hơn. Nhưng với tình thương yêu, chia sẻ đau khổ của người
khác, nhận thức rõ rệt sự hòa đồng cùng người khác —
đặc biệt là các người không may và không được tôn trọng
nhân quyền — bằng cách giúp đỡ họ hạnh phúc: đúng vậy.
Qua tình thương, qua lòng tốt, qua từ bi, chúng ta thiết lập
sự hiểu biết giữa ta và người. Đó là cách rèn luyện
sự hợp nhất và hài hòa.
Từ
bi và thương yêu không phải là các xa xỉ phẩm. Đó là nguồn
an bình cả bên trong lẫn bên ngoài, nền tảng cho sự tồn
tục của loài người. Một mặt, chúng thiết lập hành động
bất bạo lực. Mặt khác, chúng là nguồn cội của tất cả
các phẩm chất tâm linh: của tha thứ, bao dung, và mọi phẩm
tánh khác. Hơn nữa, đây quả thật là điều mang lại ý nghĩa
cho mọi sinh hoạt của ta, tạo tính cách xây dựng. Không có
gì lạ khi học cao; không có gì lạ khi giàu có. Chỉ có cá
nhân với một trái tim ấm áp mới có thể làm các điều
thật sự có giá trị.
Đối
với các vị cho rằng Đạt lai Lạt ma thiếu thực tế khi
biện luận cho thứ lý tưởng về tình thương vô điều kiện,
tôi mời gọi họ hãy thử kinh nghiệm cùng nó. Họ sẽ khám
phá ra rằng, khi chúng ta vượt trên sự hạn hẹp gò bó của
ngã lợi, trái tim ta sẽ ngập tràn một thứ năng lực. An
bình và niềm vui sẽ trở thành bạn hữu thường trực của
ta. Nó phá vỡ mọi thứ hàng rào và cuối cùng tiêu hủy khái
niệm về ngã lợi vốn dĩ độc lập cùng tha lợi. Nhưng quan
trọng nhất, ít ra trên bình diện luân lý, nơi nào có được
tình thương, sự quý trọng, lòng tốt và tâm từ bi dành cho
đồng loại, nơi đó sẽ tự động có hành vi luân lý. Các
hành động luân lý thiện lành khởi dậy tự nhiên trong khuôn
khổ của từ bi.